Sử dụng nguyên liệu sẵn có hạ giá thành thức ăn chăn nuôi

0

ImageTitleSummaryCategoriesAuthorDate
Toàn văn tham luận của Bộ trưởng Lê Minh Hoan về Trí thức hoá nông dân
Toàn văn tham luận của Bộ trưởng Lê Minh Hoan về Trí thức hoá nông dân

Báo VietNamNet giới thiệu toàn văn tham luận của Bộ trưởng NN&PTNT Lê Minh Hoan về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn tại hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 13 diễn ra từ ngày 4-10/5. “Nông dân ta giàu, thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh, thì nước ta thịnh”. Đây là lời nhắn nhủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Thư gửi Điền chủ Nông gia Việt Nam ngày 11-4-1946. Lời dạy đó khởi đầu từ hai chữ “nông dân”, một thành tố đứng giữa cụm từ thân thuộc: “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. Nhất quán quan điểm xuyên suốt này, Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành nhiều Nghị quyết, chính sách, khẳng định vai trò, vị thế của nông dân trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Sự bền vững, chỉ số tăng trưởng của ngành nông nghiệp, diện mạo, đổi thay tích cực của nông thôn, suy cho cùng, đều xoay quanh người nông dân. Trong khuôn khổ buổi thảo luận hôm nay, tôi xin trình bày những suy nghĩ, góc nhìn mang tính trao đổi, chia sẻ về nông dân, về người dân nông thôn, về hàng chục triệu bà con nông dân thiết thân – những người đầu tiên đặt hạt giống xuống đồng ruộng, thả con giống đầu tiên vào chuồng trại, xuống ao bè, những người bao năm gắn bó trồng cây, giữ rừng, những người ngày ngày vươn khơi, bám biển khai thác nguồn lợi thuỷ sản. Trước Tết vừa rồi, có nhà báo nêu câu hỏi với tôi: “Nông dân chúng ta giàu hay nghèo? Giải pháp nào để tăng thêm thu nhập cho người nông dân?”. Không dễ để đưa ra câu trả lời chuẩn xác. So với năm 2008, năng suất lao động nông nghiệp đạt 55,9 triệu đồng/ người, cao hơn gấp 04 lần. Thu nhập và đời sống người dân nông thôn đã được cải thiện. Một số hộ nông dân trở nên khá giả và giàu có nhờ vào sản xuất, kinh doanh nông sản. Tuy nhiên, cần bóc tách các lớp lang để thấy rằng, đây là số liệu bình quân, trong khi mức độ phân nhóm nông dân vốn luôn đa dạng và trải rộng, khó mà có thể đưa ra nhận định chung, vì khi ấy có thể đúng với nhóm này, nhưng lại không đúng với nhóm khác. Chỉ số thu nhập bình quân khó lòng phản ánh hết sự bấp bênh trong sinh kế của phần lớn nông dân hay sự chênh lệnh thu nhập giữa các vùng sinh thái, giữa trồng lúa, trồng rừng với canh tác, sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi khác. Cách tính thu nhập bình quân không còn phù hợp với tư duy tăng trưởng bao trùm – bảo đảm những lợi ích, cơ hội kinh tế từ quá trình tăng trưởng được chia sẻ một cách bình đẳng, hài hoà cho các thành viên trong xã hội. Một lão nông vùng miền Tây sông nước từng bày tỏ nỗi trăn trở: “Tại sao cũng cùng làm nghề nông, mà nông dân ở các nước khác có mức sống khá giả, trong khi nông dân quê mình cần cù, chịu thương, chịu khó, sao mà vẫn nghèo khổ, cơ cực quá?”. Đây là câu hỏi gợi mở ra nhiều vấn đề bắt đầu từ Hội nghị lần này. Đất đai chỉ phát huy giá trị khi người sử dụng đất đủ năng lực tối đa hoá giá trị của đất. Theo số liệu từ Khảo sát mức sống dân cư về giá trị gia tăng bình quân mỗi hec-ta mỗi năm, canh tác lúa thấp hơn từ khoảng 2 đến 3 lần so với canh tác các loại cây trồng khác và nuôi trồng thuỷ sản, và tất yếu là đất sản xuất nông nghiệp sẽ mang lại giá trị nội sinh thấp hơn so với chuyển đổi sang các ngành kinh tế khác. Ngoài yếu tố khách quan do lợi thế so sánh giữa các khu vực kinh tế, mức chênh lệch đó còn cho thấy giới hạn của người nông dân trong khả năng tạo ra giá trị thặng dư từ đất. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến năng suất lao động trong khu vực nông nghiệp rất thấp như chúng ta thường đánh giá, trăn trở. Thực trạng đó còn khiến cho gần 85% diện tích đất tự nhiên hiện là đất nông nghiệp, trong đó khoảng 30% đã bị thoái hoá. Nhưng đất đai dù có chai cằn thì vẫn là sinh kế của hàng chục triệu nông dân, những người đã theo Đảng làm nên các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, và khu vực nông thôn là chỗ dựa vững chắc trong các cuộc cách mạng đó. Hiện nay, trong triển khai cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, người nông dân lại được xem là chủ thể, được đặt vào vị trí trung tâm. Nhưng muốn thực hiện được vai trò chủ thể và tương xứng với vị trí trung tâm, điều cần làm và phải làm, cần thiết và cấp thiết, người nông dân cần được nâng cao năng lực thông qua tri thức hoá. Ngành nông nghiệp thời gian qua chủ yếu hỗ trợ nông dân sản xuất sao cho tốt nhất, năng suất cao nhất, sản lượng nhiều nhất. Công tác quản lý, điều hành sản xuất được quan tâm sát sao. Cả guồng máy vận hành toàn lực để bảo đảm những vụ mùa bội thu, phòng ngừa dịch bệnh, cung cấp, tiêu thoát nước kịp thời,… Vậy mà, điệp khúc buồn “được mùa, mất giá” cứ khiến người sản xuất thấp thỏm âu lo theo từng mùa vụ. Nông sản dư thừa, lúa thóc đầy đồng, lợn gà đầy chuồng, cá tôm đầy ao, nhưng không đưa ra được thị trường. Câu chuyện “giải cứu nông sản” lại được nhắc đến, kèm theo nhận định chua xót về thực trạng “nông nghiệp từ thiện” chưa có lời giải thoả đáng. Tình trạng nông sản ùn ứ ở các cửa khẩu tiếp tục gây xôn xao. Thu nhập của người nông dân vốn đã ít ỏi, cứ thế lại bị bào mòn thêm. “Biến đổi khí hậu, biến động thị trường, biến chuyển xu thế tiêu dùng” đặt ra yêu cầu cấp thiết về sự thay đổi, để thích ứng tốt hơn với một thế giới đầy rẫy “biến động, bất định, phức tạp và mơ hồ”. Sự thay đổi quan trọng nhất cần bắt đầu từ chính mỗi người nông dân – những người trực tiếp hằng ngày sản xuất, kinh doanh nông sản. Sự thay đổi căn cơ nhất bắt đầu từ việc xác định nhiệm vụ “nâng cao vai trò, vị thế, năng lực làm chủ của nông dân và người dân nông thôn” là ưu tiên hàng đầu, tại Dự thảo Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Không phải ngày một ngày hai, không thể tự dưng mà người nông dân “chân lấm tay bùn” bỗng chốc “rũ bùn đứng dậy sáng loà” để đảm nhận ngay vai trò chủ thể, vị thế trung tâm. Để có thể trở thành chủ thể, người nông dân phải có tâm thế tự lực, tự chủ, hội đủ kiến thức, kỹ năng, năng lực, thái độ của “người làm chủ” – làm chủ vận mệnh của bản thân, làm chủ câu chuyện phát triển cộng đồng dân cư nông thôn. Muốn vậy, nông dân và người dân nông thôn cần nhận thức rằng: cuộc đời của mình là do chính mình quyết định. Muốn vậy, người nông dân phải có ý chí mạnh mẽ, suy nghĩ tích cực, thay vì than thân, trách phận hay trông chờ ỷ lại, an phận, thu mình lại trong ngôi nhà, bờ ruộng, mảnh vườn. Muốn vậy, người nông dân phải được hỗ trợ tiếp cận, đào tạo kiến thức, huấn luyện kỹ năng, cập nhật kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Việc đánh giá sự thay đổi của người nông dân, của bộ mặt dân cư nông thôn thường dựa trên thước đo thu nhập, thực hiện chỉ tiêu giảm nghèo. Trong khi đó, yêu cầu và giải pháp về “phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân” đã được xác định trong Nghị quyết 26, Trung ương 7 Khoá X từ 14 năm trước, nhưng chưa được chúng ta quan tâm triển khai đúng mức. Ngành Nông nghiệp đang và sẽ phải tiếp cận những tư duy mới trong thời đại kinh tế tri thức, ứng dụng những thành tựu trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Vậy thì, nông dân – chủ thể của nền nông nghiệp – cũng phải được tiếp cận tư duy mới, kiến thức mới, công nghệ mới, kỹ năng mới. “Trí thức hoá nông dân” là yêu cầu bắt buộc. Cùng với kinh nghiệm “trông trời, trông đất, trông mây/ trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm”, những “lão nông tri điền” ngày nay còn có thể “trông vào các thiết bị thông minh”, nhờ đến sự hỗ trợ của các chuyên gia, nhà khoa học nông nghiệp. Sự cộng hưởng giữa kinh nghiệm tích luỹ từ thửa ruộng, bờ ao với tri thức “đám mây”, kết nối “dữ liệu số” có thể giúp tạo nên những “nhà khoa học chân đất”, khởi tạo giá trị mới. Lan toả tri thức, kỹ năng có thể giúp người nông dân tiếp cận cách thức sản xuất, kinh doanh hiệu quả, làm giàu bền vững. Trách nhiệm đó, thậm chí có thể xem là bổn phận, là trọng trách, trước hết thuộc về chính quyền, ngành chuyên môn. Đó còn là trách nhiệm xã hội của các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nhân tâm huyết thúc giục nhau về làng, về với người nông dân, về với thửa ruộng, bờ ao, để cùng lắng nghe, thấu hiểu. Những cuộc gặp gỡ thân tình có thể truyền đạt kiến thức làm giàu. Những buổi sinh hoạt cộng đồng có thể gợi mở chuyên đề giới thiệu thông tin thị trường, quy luật kinh tế phổ thông, hướng dẫn kỹ năng hữu ích. Những chương trình khuyến nông trên báo đài không chỉ khuyến khích người nông dân sản xuất, mà còn giới thiệu với người nông dân cách thức tiết giảm, tối ưu chi phí sản xuất. Có như vậy, nghề nông từng bước được tích luỹ hàm lượng tri thức một cách bài bản, chuyên nghiệp, để người nông dân ngày càng tự tin, tự hào về một nghề nghiệp đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của thị trường, chuẩn mực về tiêu chuẩn sản xuất, an toàn. “Tri thức hoá nông dân” là điều các quốc gia phát triển đã làm để giúp người nông dân trở thành những doanh nhân, nhà khoa học, được trang bị kiến thức kinh tế thị trường, làm chủ được máy móc, công nghệ. Có tri thức, người nông dân trong quá trình sản xuất, kinh doanh sẽ tự phát hiện vấn đề, phân tích và giải quyết vấn đề, biết và tự cân nhắc về rủi ro từ quyết định của mình. Có tri thức, người nông dân sẽ chủ động thích ứng với sự thay đổi, vượt qua những cú sốc do biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường và biến chuyển xu thế tiêu dùng. Có tri thức, người nông dân biết tối ưu hoá quy trình sản xuất, tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận. Tôi rất ấn tượng với một đúc kết rằng, mọi sự hỗ trợ đều là vô nghĩa nếu người nông dân không thay đổi. Mọi sự hỗ trợ phải bắt đầu từ hỗ trợ, khuyến khích người nông dân thay đổi, trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ tích cực với cuộc sống, cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ. Một vị lãnh đạo đã từng chia sẻ: “Tiền trong túi là tiền hữu hạn, tiền trong đầu là tiền vô hạn”. Tạo nên sự “giàu có” ở mỗi người, không chỉ dừng lại ở thu nhập, mức sống, điều kiện vật chất, mà mở rộng ra, còn là sự khoẻ mạnh, đời sống tinh thần thoải mái, thái độ sống lạc quan, tích cực. Tiếp cận theo quan điểm này, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và người dân nông thôn cần được quan tâm cải thiện toàn diện. “Làm giàu” cho nông dân là giúp người nông dân biết sản xuất ra những sản phẩm thị trường cần, chứ không phải sản xuất theo khả năng hiện có của mình, với cách thức sản xuất tiết kiệm nhất, để giá thành hợp lý nhất, mà vẫn bảo đảm chất lượng. “Làm giàu” cho nông dân là trang bị cho người nông dân kỹ năng sản xuất và cả tư duy kinh tế. “Làm giàu” kiến thức cho nông dân là yêu cầu bắt buộc. Nghề nông là nghề có tác động trực tiếp và bền sâu đến sức khoẻ, đến môi trường. Cách đây vài năm, Đài Truyền hình Việt Nam có loạt ghi nhận về tình trạng lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hoá học, về rủi ro người sản xuất, thu hoạch bị phơi nhiễm dư lượng phân thuốc độc hại, về rác thải chai lọ nhựa. Sử dụng phân thuốc thiếu kiểm soát, người phun thuốc, bón phân không ý thức được hết tác hại khi đi chân trần, không khẩu trang, không găng tay, không đồ bảo hộ. Thuận chiều gió, thuốc bảo vệ thực vật bay đến cả môi trường sinh hoạt chung quanh. Theo nước tưới, phân bón vô cơ dùng quá mức thấm dần, thấm sâu vào đất, vào mạch nước ngầm. “Làm giàu” cho nông dân, ở đây, chính là giúp người dân tiếp cận và thấu hiểu kiến thức về gìn giữ môi trường, về bảo vệ sức khoẻ, trước hết là của chính mình, của người tiêu dùng, và của cộng đồng. “Làm giàu” cho nông dân là giúp người nông dân hiểu được “sản xuất, kinh doanh nông sản là trao đi sức khoẻ, nhận lại niềm tin”. “Làm giàu” đời sống tinh thần cho nông dân là khơi gợi ở người nông dân thái độ sống tích cực, sẵn lòng đón nhận sự thay đổi. “Làm giàu” đời sống tinh thần cho nông dân là giúp người nông dân hiểu rõ sức mạnh của “mua chung – bán chung”, của tinh thần “hợp tác-liên kết”, để chủ động tham gia vào các mô hình, tổ chức kinh tế tập thể mà nồng cốt là hợp tác xã. “Làm giàu” đời sống tinh thần cho nông dân là giúp người nông dân luôn mong muốn mở rộng không gian giao tiếp, chủ động tạo lập các mối quan hệ xã hội. Nông dân mình trước nay quen thuộc với luỹ tre làng, với cánh đồng, mảnh vườn. Muốn suy nghĩ lớn hơn, tầm nhìn xa hơn, khát khao mãnh liệt hơn, thì phải vượt ra không gian làng xã, kết nối với không gian liên xã, liên huyện, liên tỉnh, liên vùng. Trong không gian kết nối đó, người nông dân được tiếp xúc với các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp, được cung cấp kiến thức, kỹ năng, tư vấn, liên kết,… Không gian kết nối đó chính là không gian sinh hoạt cho cộng đồng dân cư nông thôn, như mô hình “Hội quán” ở Đồng Tháp, “Nông hội” ở Gia Lai, Kon Tum, “Ngôi nhà trí tuệ” ở Hà Tĩnh và những mô hình tương tự ở nhiều địa phương khác. Các không gian cộng đồng như một hình thức đình làng ngày xưa, nơi là chiếc cầu nối giữa Nhà và Nước, nơi để người dân luận bàn chuyện đất nước, trước hết là chuyện xóm chuyện làng. Nơi đó sẽ hình thành và thắt chặt tính cố kết cộng đồng, hướng đến hợp tác trong cuộc sống và hợp tác trong sản xuất. “Nông nghiệp là sinh mệnh. Nông thôn là tương lai”. “Không có nông dân. Không có lương thực. Không có tương lai”. Đây là những thông điệp mạnh mẽ về tầm quan trọng của “nông nghiệp – nông dân – nông thôn”từ chính các quốc gia tiên tiến có nền công nghiệp, dịch vụ phát triển vượt bậc. Trong tựa sách “Tương lai sau đại dịch Covid”, có ý kiến nhận định rằng: “Khi mọi người tranh luận xem ngành nào là thiết yếu và không thiết yếu, thì có một điều không cần phải tranh cãi: Nông nghiệp. Bởi lẽ, Nông nghiệp đạt đủ các chuẩn mực của một ngành thiết yếu. Không có thức ăn chúng ta không có gì cả. Tình trạng thiếu hụt lương thực, thực phẩm, nhất là sản phẩm tươi sống khuyến khích nhiều người quan tâm tham gia vào nghề nông, vào lĩnh vực nông nghiệp”. Vậy chúng ta đã chuẩn bị gì cho tương lai, cho ngành nông nghiệp, cho đội ngũ nông dân kế cận, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045? Phải chăng đã đến lúc chúng ta cần thảo luận về giáo dục nông nghiệp bài bản, về “đưa các nội dung phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã vào giảng dạy trong hệ thống các trường chính trị, các cơ sở đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân” như Kết luận số 70/KL/TW, ngày 9/3/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Có lẽ, mô hình Trường cấp 3 Nông nghiệp ở Nam Định – trường học đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam dạy học sinh kỹ thuật nông nghiệp theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến nông sản, thực phẩm theo mô hình Nhật Bản, là một gợi mở thú vị. Tại ngôi trường lý thú này, học sinh được ngửi đất, bắt sâu, làm bánh mỳ từ gạo. Từ việc đánh giá kết quả đào tạo tích cực của mô hình này, có thể xem xét khả năng nhân rộng ra các địa phương đủ điều kiện, như Trường cấp 3 thuỷ sản tại các tỉnh, thành ven biển, Trường cấp 3 lâm nghiệp ở các tỉnh trung du và miền núi. Triển khai mô hình này, điều quan trọng không chỉ là kiến thức, kỹ năng, mà hơn hết là vun bồi, hun đúc cho học sinh tình cảm, khát vọng trở thành những người nông dân chuyên nghiệp, thương nhân kinh doanh nông sản, kỹ sư nông nghiệp thực hành, nhà nông học lành nghề, yêu nghề trong tương lai, những người làm nông nghiệp bằng cả tinh thần văn hoá và trách nhiệm xã hội như các quốc gia tiên tiến đã thực hiện từ mấy mươi năm trước. Khi ấy, nghề nông sẽ thoát khỏi lời nguyền “không biết làm gì thì làm nghề nông”. Khi ấy, người nông dân sẽ không còn “mặc định” qua hình tượng áo nâu, đầu vấn khăn rằn, tay cầm bó lúa. Khi ấy, người nông dân buổi sáng có thể mặc chiếc áo màu nâu của đất, buổi chiều mặc chiếc áo màu xanh của nhà máy chế biến và buổi tối có thể mặc chiếc áo màu trắng của trí thức, thương nhân, tự tin vào năng lực của mình trước sóng gió thị trường. Muốn có một nền nông nghiệp chuyên nghiệp phải có đội ngũ nông dân được chuyên nghiệp hoá. Muốn có một nền nông nghiệp tri thức trong nền kinh tế tri thức, người nông dân phải được tri thức hoá. Muốn tri thức hoá nông dân phải thông qua nhiều giải pháp: cấu trúc lại hệ thống giáo dục nghề từ bậc thấp tiến lên bậc cao, từ ruộng đồng tiến vào trường học, từ giáo trình cho người học đến phương pháp cho người dạy, từ hệ thống khuyến nông cơ sở đến đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, từ sách vở, tài liệu cho đến các báo đài, các kênh truyền thông chuyên biệt dành cho nông dân và người dân nông thôn. Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn và đánh giá cao Tạp chí Cộng sản đã kịp thời dày công biên soạn 2 ấn phẩm về 2 chủ đề trong Hội nghị lần này về chính sách, pháp luật về đất đai và nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Đây là những tài liệu vừa có tính lý luận chuyên sâu, vừa có tính tổng kết thực tiễn với nhiều góc nhìn, cách tiếp cận khác nhau, cung cấp cho Trung ương những nội dung để thảo luận chuyên sâu hơn, phong phú hơn. Cá nhân tôi mong rằng, Trung ương còn sẽ nhận được nhiều hơn từ những ấn phẩm chuyên đề như vậy trong mỗi kỳ họp tiếp theo. Bộ trưởng NN&PTNT Lê Minh …

Tin mớiadmin16/05/2022
Chuyển đổi số nông nghiệp cần làm căn cơ, bài bản
Chuyển đổi số nông nghiệp cần làm căn cơ, bài bản

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến cho rằng chuyển đổi số nông nghiệp có những nét đặc thù, đòi hỏi cách làm bài bản, căn cơ theo đúng lộ trình. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp Ban chỉ đạo Chuyển đổi số Bộ NN-PTNT ngày 4/5. Ảnh: Bảo Thắng. Chiều 4/5, Ban chỉ đạo Chuyển đổi số Bộ NN-PTNT họp bàn Dự thảo Đề án Chuyển đổi số ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030. Chủ trì cuộc họp, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến yêu cầu thành viên Ban chỉ đạo làm rõ các vấn đề liên quan tới thực trạng ngành trong dự thảo. Ông nhấn mạnh, những đơn vị trực thuộc Bộ NN-PTNT phải tự xây dựng chương trình, kế hoạch chuyển đổi số, trước khi báo cáo Văn phòng Bộ tổng hợp để trình Thủ tướng trong quý II/2022. Bên cạnh kinh nghiệm thực tiễn, sẵn có, lãnh đạo Bộ NN-PTNT còn gợi mở thành viên Ban chỉ đạo tham khảo về trình tự, thủ tục xây dựng lộ trình chuyển đổi số của quốc tế, nhất là các nước phát triển, từ đó xây dựng bài học cho Việt Nam. “Để đề án chuyển đổi số sớm đi vào thực tiễn, chúng ta cần dựa vào cơ sở pháp lý, đồng thời làm rõ mục tiêu, tầm nhìn của đề án, và nêu bật được vai trò trụ đỡ nền kinh tế của ngành nông nghiệp trong bối cảnh hiện nay”, Thứ trưởng nói. Trước đó, vào ngày 14/3/2022, Ban chỉ đạo Chuyển đổi số của Bộ NN-PTNT đã tham mưu, trình Thứ trưởng Phùng Đức Tiến về việc thành lập Tổ soạn thảo xây dựng đề án. Ngày 7/4, Bộ trưởng Lê Minh Hoan gửi văn bản số 2133/BNN-VP đến Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố đề nghị phối hợp triển khai chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn. Đến ngày 29/4, 62/63 Sở NN-PTNT gửi tham vấn xây dựng đề án; 40/63 tỉnh, thành phố cung cấp thông tin khảo sát, phục vụ xây dựng đề án. Dự kiến trong tháng 5/2022, Tổ soạn thảo sẽ hoàn thành lấy ý kiến địa phương về dự thảo. Sang tháng 6, Tổ sẽ lấy ý kiến các Bộ, ban, ngành, Ủy ban liên quan của Quốc hội, trước khi hoàn thiện tờ trình, báo cáo thuyết minh đề án để trình Thủ tướng. Dựa trên 3 nội dung chính về chuyển đổi số, là Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, đề án đặt ra một số mục tiêu trọng tâm đến năm 2025. Về phát triển Chính phủ số: 80% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý hoàn toàn trực tuyến; 90% người dân và doanh nghiệp hài lòng về giải quyết thủ tục hành chính; 100% hoạt động chỉ đạo điều hành và quản trị nội bộ của cơ quan ngành nông nghiệp được thực hiện trên nền tảng tổng thể, thống nhất; 100% hồ sơ được tạo, lưu giữ, chia sẻ dữ liệu điện tử theo quy định; 50% hoạt động giám sát, kiểm tra được thực hiện qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý. Về phát triển kinh tế số: đưa ngành nông nghiệp vào tốp 10 nhóm ngành dẫn đầu về chỉ số cạnh tranh. Về phát triển xã hội số: trên 50% nông dân được hỗ trợ tiếp cận với công nghệ, cũng như hệ sinh thái nông nghiệp số; trên 70% làng nghề truyền thống, 70% doanh nghiệp, HTX, kinh tế hộ được tập huấn, hỗ trợ. Mục tiêu của đề án đến năm 2030, là 100% dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 4; tỷ lệ hồ sơ giải quyết theo dịch vụ công trực tuyến đạt 90%; tích hợp tối thiểu 70% các dịch vụ công trực tuyến với cổng dịch vụ công quốc gia; 100% người dân và doanh nghiệp hài lòng với giải quyết thủ tục hành chính; tỷ trọng kinh tế số nông nghiệp trung bình đạt tối thiểu 20%. Tại cuộc họp chiều 4/5, 17 ý kiến tham luận được nêu ra. Trong đó, đa phần cho rằng ngành nông nghiệp đã có những tiềm năng sẵn có về chuyển đổi số như mã số vùng trồng, mã số vùng nuôi, chuỗi liên kết giá trị, công tác dự tính, dự báo về sâu hại, cháy rừng… hay liên kết theo chuỗi giá trị với HTX, doanh nghiệp. Tuy nhiên, thành viên Ban chỉ đạo cũng chỉ rõ vấn đề trùng hợp, chồng chéo trong công tác thống kê, chỉ đạo, điều hành giữa các đơn vị chuyên môn. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến yêu cầu thành viên Ban chỉ đạo tập trung xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, bảo mật an ninh mạng. Ngoài ra, ông nhấn mạnh quá trình chuyển đổi số phải đi từ cơ sở hạ tầng, phát triển vùng nguyên liệu, trước khi tính đến chế biến, logictics. “Chuyển đổi số ngành nông nghiệp có nét đặc thù. Thực tế ấy đòi hỏi cách làm căn cơ, bài bản, theo từng bước nhỏ và bám sát khung đề án”, Thứ trưởng bày tỏ. Bảo …

Tin mớiadmin05/05/2022
Giá thức ăn chăn nuôi tăng mạnh: Gỡ khó bằng tìm nguyên liệu thay thế
Giá thức ăn chăn nuôi tăng mạnh: Gỡ khó bằng tìm nguyên liệu thay thế

Trong khi giá thức ăn chăn nuôi dự báo sẽ tiếp tục tăng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang đẩy mạnh các giải pháp thức ăn thay thế từ nguyên liệu trong nước để gỡ khó cho người chăn nuôi. Xung đột Nga và Ukraine làm giảm nguồn cung, đẩy giá nhiều loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tăng cao và dự báo còn tiếp tục tăng đến hết năm nay. Kéo theo đó, giá thức ăn chăn nuôi hỗn hợp đã tăng từ 25-40% và ảnh hưởng rất lớn đến phát triển chăn nuôi trong thời gian tới. Đây là thông tin được đưa ra tại hội nghị trực tuyến bàn giải pháp thúc đẩy phát triển chăn nuôi lợn và tăng cường công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức ngày 18/3. Giá nguyên liệu tăng gần 50% Từ năm 2015-2020, giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước tương đối ổn định, thậm chí có thời điểm giảm dần. Thế nhưng bắt đầu từ năm 2020, do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Đặc biệt, xung đột Nga và Ukraine gần đây đã đẩy giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tăng mạnh. So với cùng kỳ (tháng 3/2021), giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tháng 3/2022 đều tăng, trong đó tăng mạnh nhất là nhóm ngũ cốc. Mức tăng cao nhất là giá lúa mì đã lên tới 9.850 đồng/kg, tăng tới 49,5%; khô dầu đậu tương là 16.500 đồng/kg, tăng 33,4%; ngô hạt giá là 10.200 đồng/kg, tăng 29,3%; bã ngô giá 10.300 đồng/kg tăng 23,1%. Theo ông Tống Xuân Chinh, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), dự kiến giá nguyên liệu vẫn tăng đến hết năm 2022. Thực tế, giá chào hàng nguyên liệu nhập khẩu về Việt Nam giao hàng sau tháng 8/2022 đã tăng, giá ngô tăng lên 11.000 đồng/kg và giá khô gầu đậu tương tăng lên 17.000 đồng/kg. Nguyên nhân khiến các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tăng giá chủ yếu do ảnh hưởng của thời tiết bất lợi từ các khu vực trồng chính trên thế giới tại các nước Nam Mỹ đồng thời cuộc khủng hoảng chính trị giữa Nga và Ukraine (nhà xuất khẩu lúa mỳ lớn nhất và thứ tư trên thế giới) đang tác động lớn đến giá ngô và lúa mỳ trên thị trường thế giới và Việt Nam. Việt Nam nhập khẩu từ Nga và Ukraine nhiều nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nông nghiệp trong nước như lúa mỳ (trong điều kiện bình thường có thể đến 1 triệu tấn, chiếm khoảng 20% tổng nhập khẩu lúa mỳ), ngô (3% tổng nhập khẩu ngô)… để làm thức ăn chăn nuôi.   Ông Tống Xuân Chinh cho biết do giá nguyên liệu tăng mạnh nên giá thức ăn chăn nuôi công nghiệp trong nước cũng tăng theo. Giá thức ăn cho lợn thịt xuất chuồng đã tăng 18,4% lên 12.500 đồng/kg, thức ăn cho gà thị lông màu tăng 24,5% lên 13.400 đồng/kg, thức ăn cho gà thịt lông trắng tăng 29,8% lên 14.100 đồng/kg. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến nhận định giá thức ăn chăn nuôi tăng tương đối cao trong hai năm gần đây. Trước đây giá ngô chỉ khoảng 4.700 đồng/kg thì đến nay đã tăng lên trên dưới 10.000 đồng/kg, đỗ tương trước đây chỉ hơn 8.000 đồng/kg đến giờ đã tăng lên 16.300 đồng/kg… kéo theo đó giá thức ăn chăn nuôi hỗn hợp đã tăng từ 25-40%, điều này  ảnh hưởng rất lớn đến phát triển chăn nuôi trong thời gian tới. “Hạ nhiệt” bằng nguyên liệu trong nước Theo ông Tống Xuân Chinh, lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, do đó chịu ảnh hưởng trực tiếp từ biến động giá nguyên liệu trên thế giới. Sở dĩ nguồn nguyên liệu còn phụ thuộc là do năng lực sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước còn hạn chế, công nghệ sản xuất và quản lý thức ăn chăn nuôi còn thiếu đồng bộ, nhiều cơ sở sản xuất quy mô nhỏ lẻ, thủ công. [Thêm khó cho doanh nghiệp chăn nuôi từ căng thẳng Nga-Ukraine] Dẫn chứng ví dụ về năng lực sản xuất nguyên liệu trong nước còn hạn chế, ông Tống Xuân Chinh cho biết diện tích trồng ngô làm nguyên liệu phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi của Việt Nam đến nay chỉ đạt 942.00 hecta và thậm chí đang có xu hướng giảm đi. “Chẳng hạn như tại Sơn La, trước kia đây là địa phương có diện tích trồng ngô số 1 tại miền Bắc nhưng hiện nay do có ưu thế về xuất khẩu hoa quả ra nước ngoài, địa phương này đã chuyển dịch rất nhanh từ diện tích trồng ngô sang trồng hoa quả khiến diện tích trồng ngô đã giảm đi đáng kể,” ông Chinh cho hay. Không chỉ diện tích trồng ít mà năng suất ngô cũng còn rất thấp. Theo ông Chinh, hiện nay sản phẩm ngô của Việt Nam rất khó cạnh tranh với những sản phẩm nhập khẩu bởi lẽ Mỹ và Brasil, Irasel đều có năng suất trồng ngô cao gấp 2-4 lần so với Việt Nam. Điều này đòi hỏi cần phải hình thành vùng nguyên liệu để tập trung công nghệ cao, tăng năng suất thì mới có thể giảm bớt phụ thuộc vào việc nhập khẩu nguyên liệu. Trong khi việc nâng cao năng lực sản xuất nguyên liệu trong nước để “hạ nhiệt” giá thành thức ăn chăn nuôi sẽ không phải là câu chuyện ngày một ngày hai mà cần có thời gian, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang đẩy mạnh triển khai giải pháp tìm thức ăn thay thế để gỡ khó cho người chăn nuôi. Đại diện Viện Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết việc sử dụng các nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương như cám dừa, cám gạo… trong mô hình chăn nuôi lợn tại Tiền Giang, Lào Cai đã giúp giảm giá thành sản phẩm khoảng 3.000-5.000 đồng/kg. Mô hình chăn nuôi lợn bản địa áp dụng các công thức phối trộn thức ăn từ nguyên liệu tự có tại Nghệ An, Thừa Thiên Huế… cũng đã giúp giảm chi phí thức ăn từ 10-15%/nái/năm so với việc mua thức ăn hỗn hợp. Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, giá thức ăn chiếm tới 65-70% giá thành trong chăn nuôi. Do đó, trong bối cảnh giá nguyên liệu nhập khẩu tăng cao thì việc ứng dụng công nghệ xây dựng khẩu thức ăn chăn nuôi từ nguyên liệu trong nước sẽ là giải pháp giúp hạ giá thành sản phẩm thức ăn chăn nuôi. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho biết sau nhiều năm, Viện Chăn nuôi cùng với các đơn vị đã đánh giá giá trị dinh dưỡng các nguyên liệu của địa phương và đưa ra công thức thức ăn, phân tích giá trị thức ăn hỗn hợp với đầy đủ các tiêu chí protein, năng lượng, canxi, phốt pho, vitamin, axit amin… Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trên nhiều đối tượng như chăn nuôi lợn, chăn nuôi gia cầm… “Các công thức từ nguyên liệu trong nước đã được nghiên cứu và nghiệm thu. Với cách làm này, giá thức ăn chăn nuôi giảm từ 300-1.000 đồng/kg. Với mức giảm 1.000 đồng/kg, khi mua thức ăn 10.000 đồng/kg sẽ giảm được 10% và tương ứng giá thành chăn nuôi sẽ giảm được 5-7%,” Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho hay. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến đã yêu cầu Cục Chăn nuôi, các địa phương cần nhân rộng hơn nữa các công thức xây dựng khẩu phần ăn từ nguyên liệu trong nước trong thời gian tới để gỡ khó cho người chăn nuôi vượt qua giai đoạn giá nguyên liệu nhập khẩu sẽ vẫn tiếp tục có xu hướng tăng cao./. Hồng Kiều …

Tin mớiadmin18/03/2022
Sử dụng nguyên liệu sẵn có hạ giá thành thức ăn chăn nuôi
Sử dụng nguyên liệu sẵn có hạ giá thành thức ăn chăn nuôi

https://nongnghiep.vn/video/su-dung-nguyen-lieu-san-co-ha-gia-thanh-thuc-an-chan-nuoi-tv318341.html Sử dụng nguyên liệu sẵn có hạ giá thành thức ăn chăn nuôi. Chờ đón sự kiện trình diễn quốc tế AGRITECHNICA Live 2022. Giá heo hơi ngày 18/3 tăng cao nhất 3.000 đồng/kg. Hành tím giảm giá do nguồn cung tăng. Truyền hình Nông …

Tin mớiadmin18/03/2022
DỰ THẢO BÁO CÁO HỘI NGHỊ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI LỢN BỀN VỮNG VÀ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH THỨC ĂN CHĂN NUÔI
DỰ THẢO BÁO CÁO HỘI NGHỊ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI LỢN BỀN VỮNG VÀ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH THỨC ĂN CHĂN NUÔI

Tin mớiadmin17/03/2022
Cục Chăn nuôi xin ý kiến góp ý Tiêu chuẩn quốc gia về Phúc lợi động vật trong chăn nuôi bò thịt, bò sữa và trâu

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về: Phòng Kế hoạch Tổng hợp Địa chỉ: Phòng 105 Toà nhà số 2 số 16 Thuỵ Khuê, Tây Hồ, Hà Nội Cán bộ đầu mối: Ông Võ Trọng Thành; Điện thoại di động: 0912664237; email: …

Thông báoadmin21/02/2022
Chúng ta mới dạy nông dân sản xuất chứ chưa dạy làm giàu
Chúng ta mới dạy nông dân sản xuất chứ chưa dạy làm giàu

‘Hồi xưa đến giờ chúng ta dạy người nông dân sản xuất chứ chưa dạy người nông dân làm giàu’, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan chia sẻ. Giải quyết điểm yếu của ngành nông nghiệp từ nền móng Khi tôi có ý tưởng xây dựng chiến lược nông nghiệp, nông thôn bền vững với tầm nhìn đến năm 2050, nhiều người băn khoăn vì không biết nguồn tiền lấy từ đâu để xây dựng. Thậm chí, toàn ngành đã có chiến lược phát triển trong 5 năm tới rồi, nhiều phân ngành quan trọng cũng đã có chiến lược. Trên các diễn đàn, tôi đã nhiều lần phát biểu rằng, “ngành nông nghiệp của chúng ta đang bị lời nguyền sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, tự phát”. Những nhược điểm, điểm yếu đó kéo theo hàng loạt câu chuyện như được mùa mất giá, giá cả bấp bênh, câu chuyện thị trường, câu chuyện dự báo… Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan chia sẻ tại buổi họp báo công bố Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 vào ngày 17/2. Ảnh: Minh Phúc Vậy nên, Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt nền tảng từ tổ chức lại sản xuất để phát triển nông thôn, hay cơ cấu lại nền nông nghiệp bắt đầu bằng tổ chức sản xuất. Không thể nào 10 triệu hộ nông dân sản xuất trên vài chục triệu mảnh ruộng được. Thứ hai, quyền lực của cơ quan nhà nước trong nền kinh tế thị trường khác với nền kinh tế bao cấp, kế hoạch trước đây. Tất cả đều phải tuân theo quy luật thị trường. Dù chúng ta đã có quy hoạch, nhưng nông dân thấy trồng cây gì có lợi là lập tức trồng theo. Do đó, quyền lực nhà nước có giới hạn. Vậy thì phải huy động sự tham gia của quyền lực xã hội, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, hợp tác xã. Trên cương vị Bộ trưởng Bộ NN-PTNT, tôi nói như vậy không phải để thoái thác trách nhiệm quản lý nhà nước, mà để chúng ta nhìn lại câu chuyện đó và đưa ra các giải pháp dài hạn. Tại sao Chiến lược đặt mục tiêu cho giai đoạn đầu là đến năm 2030, vì tổ chức lại sản xuất không phải ngày một ngày hai, chúng ta cũng không thể ép buộc bà con vào hợp tác xã. Chưa nói đến cánh đồng lớn, chỉ nói đến việc ghép những người nông dân sản xuất nhỏ lại để sản xuất lớn đã là vấn đề khó rồi. Do đó, Chiến lược này bắt đầu từ nền, chứ không phải bắt đầu từ ngọn (là giải quyết vấn đề được mùa mất giá). Bởi vì, nguyên lý giá rất đơn giản, đó là thị trường quyết định và cung – cầu quyết định, ai cũng biết hết rồi. Nhưng nguyên lý kinh tế học nói rằng, khi thông tin được cân bằng thì cung cầu quyết định giá, còn khi thông tin không minh bạch, bất cân xứng thì không biết theo quy luật nào. Nhà nước không có quyền quyết định giá. Vì nếu Nhà nước có quyền lực định giá 5.000/kg lúa, thì chính bà con nông dân sẽ là người phá giá đầu tiên chứ không phải ông thương lái. Bởi vì có người nghĩ rằng, bán 4.900 đồng/kg cũng được, miễn là bán hàng được nhanh hơn người khác, bớt lợi nhuận chút ít không sao. Theo tư duy đó, đến những người sau, giá nông sản giảm dần Chúng ta chỉ giúp người nông dân đẩy mạnh sản xuất để đạt sản lượng nhiều nhất mà không dạy người nông dân đôi khi hãy sản xuất ít hơn nhưng vẫn thu nhập cao hơn. Ảnh: LHV. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng quyết định được giá để tranh mua, tranh bán. Truyền thông cũng quyết định giá cả. Ví dụ, khi giá lợn đang xuống mà báo chí đăng tin còn mấy triệu con lợn trong chuồng, thì tâm lý của nông dân sẽ hoảng loạn, họ bán đổ, bán tháo dẫn đến giá giảm mạnh. Chúng ta phải hiểu được các vấn đề này thì mới đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững trong Chiến lược. Khó làm giàu từ nông nghiệp nếu không có tư duy kinh tế Dịp tết vừa rồi, có nhà báo hỏi tôi rằng: “Bộ trưởng tiền nhiệm đặt mục tiêu thu nhập của người dân nông thôn tăng 1,5 lần, vậy Bộ trưởng đương nhiệm cho rằng, nông dân chúng ta chừng nào làm giàu được?” Tôi không trả lời được vì nó liên quan đến nhiều tư duy. Nếu nói nông dân làm giàu, thì tôi có thể chỉ ra hàng loạt nông dân giàu. Còn nếu nói nông dân nghèo thì tôi sẽ chỉ ra được hàng loạt nông dân nghèo, thậm chí có người nông dân không có đất, phải đi làm thuê cho nông dân khác. Bản thân giai cấp nông dân đã có sự phân tầng rồi. Từ đó tôi mới suy nghĩ ra, chúng ta khó có thể làm giàu từ nông nghiệp nếu không có tư duy kinh tế nông nghiệp. Cùng một sản phẩm nông sản có chất lượng như nhau, người có kỹ năng bán hàng, có tư duy kinh tế có thể bán được sản phẩm với giá gấp đôi người khác. Bởi họ tạo được niềm tin của khách hàng nhờ chú trọng truy xuất nguồn gốc sản phẩm, minh bạch quy trình canh tác, bán hàng khéo léo, còn người khác thì không. Một trái xoài nếu bọc giấy báo để dưới vỉa hè bán giá khác, làm cái kệ đặt quả xoài lên giá sẽ khác, đưa trái xoài vào cái hộp, tạo ra giá trị cảm xúc, bao bì thì giá sẽ khác. Thành ra, hồi xưa đến giờ chúng ta dạy người nông dân sản xuất chứ không dạy người nông dân làm giàu. Hai vấn đề này khác xa nhau, bởi vì làm giàu không phải chỉ từ bán sản phẩm mà từ cách phân loại nông sản, bán niềm tin cho khách hàng về quy trình sản xuất sạch, xây dựng mã số vùng trồng, vùng nuôi, bao bì nhãn mác… Tại sao các loại trái cây ngoại thường để trong những quầy kính rất đẹp đẽ còn nông sản của Việt Nam để ngoài vỉa hè? Thực trạng đó một phần đến từ việc chúng ta ứng xử với người nông dân. Chúng ta chỉ giúp người nông dân đẩy mạnh sản xuất để đạt sản lượng nhiều nhất mà không dạy người nông dân đôi khi hãy sản xuất ít hơn nhưng vẫn thu nhập cao hơn. Bộ NN-PTNT đang xây dựng Chương trình Quốc gia về hợp tác xã và dự kiến trong tháng 3/2022 sẽ trình Chính phủ Nghị định về vấn đề này. Bên cạnh đó, Bộ sẽ phối hợp với các cơ quan truyền thông, báo chí để có chương trình huấn luyện người nông dân kỹ năng kinh doanh, cách làm giàu, cách giảm chi phí đầu vào trong sản xuất để nâng cao giá trị gia tăng. Trung Quốc đã làm những vấn đề này lâu rồi. Định vị sứ mạng của “tam nông” trong tâm thức những nhà lãnh đạo Tôi kỳ vọng rằng, bản Chiến lược này sẽ được truyền thông lan tỏa đến toàn xã hội. Từ đó, chúng ta định vị đúng vai trò, vị trí sứ mạng của nông nghiệp, nông thôn trong tâm thức của những nhà lãnh đạo, người dân. Báo chí đặt vấn đề: ngành chiếm giữ đất đai nhiều nhất là nông nghiệp, ngành chiếm giữ lao động nhiều nhất là nông nghiệp nhưng đóng góp GDP không lớn thì có nên chuyển dịch sang các khu vực khác? Tuy nhiên, nông nghiệp và kinh tế nông thôn có một vai trò, vị trí trong việc bình ổn xã hội, bởi hơn 60% dân số sống ở nông thôn và đang là nông dân. Bởi vậy, phải có Chiến lược này để chúng ta cùng ngồi lại với nhau, định vị lại. Khi chúng ta nhận thức đúng rồi thì sẽ có vốn, sẽ có hạ tầng, còn khi chúng ta thấy không quan tâm thì vốn và hạ tầng sẽ được chuyển cho khu vực khác. Khó có thể làm giàu từ nông nghiệp nếu không có tư duy kinh tế nông nghiệp. Ảnh: MP. Bản thân nông nghiệp không phải là một ngành kinh tế độc lập mà là một thành phần trong cấu trúc kinh tế – xã hội. Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh nằm ở địa phương chứ không phải chỉ ở các Bộ, ngành. Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, các địa phương cần cân nhắc dành nguồn lực nhiều hơn cho khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn; để đâu đó đừng chẻ đồi chè ra để làm bất động sản. Tôi hoàn toàn không trách chính quyền địa phương, vì đó là xu thế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa. Phần nào đó, ngành nông nghiệp cần tự trách mình vì chúng ta chưa định vị được mỗi diện tích đất sẽ đem lại giá trị bao nhiêu. Và chúng ta cũng chưa chứng minh được nếu chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp thì giá trị mảnh đất sẽ tăng rất nhiều lần, để mỗi khi cân nhắc quyết định chuyển đổi đất nông nghiệp, đất rừng, đất lúa, các địa phương sẽ cân nhắc cái được trước mắt, cái được lâu dài để quyết định. “Chúng ta đừng chỉ vì tăng thu ngân sách, phục hồi kinh tế mà không lường trước được các tác động đến cuộc sống của người nông dân, nhất là người nông dân sau khi mất đất sẽ như thế nào. Giá trị của Chiến lược nằm ở đó”. Minh Phúc …

Tin mớiadmin21/02/2022
Bộ trưởng Lê Minh Hoan: Nông nghiệp VN tiếp cận xu thế tiêu dùng của nền kinh tế toàn cầu
Bộ trưởng Lê Minh Hoan: Nông nghiệp VN tiếp cận xu thế tiêu dùng của nền kinh tế toàn cầu

TPO – Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan cho biết, trong chiến lược phát triển sắp tới, ngành nông nghiệp sẽ đổi mới tư duy một cách toàn diện, từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, tập trung vào nâng cao giá trị, chuyển từ phát triển đơn ngành sang tích hợp đa ngành, từ “đơn giá trị” sang “tích hợp đa giá trị”… Ngày 17/2, Bộ NN&PTNT tổ chức buổi họp báo công bố Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng GDP nông lâm thủy sản đạt bình quân từ 2,5 – 3%/năm. Tốc độ tăng năng suất lao động nông lâm thủy sản đạt bình quân từ 5,5 – 6%/năm. Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu đạt bình quân từ 5 – 6%/năm. Tầm nhìn đến năm 2050, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có nền nông nghiệp hàng đầu thế giới với ngành công nghiệp chế biến nông sản hiện đại, hiệu quả, thân thiện với môi trường. Nông thôn không còn hộ nghèo và trở thành “nơi đáng sống”, văn minh, xanh, sạch, đẹp với điều kiện sống, thu nhập dân cư nông thôn tiệm cận và kết nối chặt chẽ, hài hoà với đô thị Bộ trưởng NN&PTNT Lê Minh Hoan cho biết, nông nghiệp Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới, cần tìm động lực mới cho sự tăng trưởng. Theo đó, ngành nông nghiệp sẽ phải đổi mới tư duy một cách toàn diện, từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, tập trung vào nâng cao giá trị, hiệu quả, đa dạng theo chuỗi giá trị phù hợp với yêu cầu của thị trường; chuyển từ phát triển đơn ngành sang tích hợp đa ngành, từ “đơn giá trị” sang “tích hợp đa giá trị”… Theo ông Hoan, trong thời gian tới, nông nghiệp sẽ phát triển theo hướng nông nghiệp xanh, nông nghiệp sinh thái bằng việc áp dụng đồng bộ các quy trình, công nghệ; sử dụng hợp lý, tiết kiệm vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không gây ảnh hưởng tới môi trường, sức khỏe con người. Bộ trưởng Lê Minh Hoan kỳ vọng chiến lược lần này sẽ được định vị đúng vai trò, vị trí sứ mệnh của nông nghiệp, nông thôn và nông dân Ngành nông nghiệp sẽ hoàn chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp gắn với lợi thế cạnh tranh và yêu cầu thị trường. Ngành tiếp tục cơ cấu lại theo 3 trục sản phẩm: quốc gia, cấp tỉnh và địa phương và theo lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp. “Bộ NN&PTNT rất nghiêm túc trong xây dựng chiến lược và thực hiện để chiến lược đi vào cuộc sống. Đến một thời điểm nào đó xã hội hiểu được nền nông nghiệp Việt Nam có tầm nhìn dài hạn, mang tính chất giải quyết vấn đề nội tại ngành nông nghiệp và quan trọng hơn là tiếp cận dòng chảy, xu thế tiêu dùng của nền kinh tế toàn cầu, xu thế tiêu dùng xanh của thế giới”, ông Hoan nói. Bộ trưởng Lê Minh Hoan kỳ vọng chiến lược lần này sẽ được định vị đúng vai trò, vị trí sứ mệnh của nông nghiệp, nông thôn và nông dân; góp phần thay đổi diện mạo xã hội vì 60% dân số Việt Nam đang ở nông thôn. Sau khi chiến lược được ban hành, Bộ NN&PTNT sẽ trình Chính phủ kế hoạch hành động, không để những nội dung, ý tưởng “nằm trên giấy”. “Chúng tôi mong các địa phương và các bộ, ngành cùng vào cuộc để hiện thực hoá chiến lược vì một mình Bộ NN&PTNT không thể triển khai hết được. Thông qua chiến lược, tôi cũng mong các địa phương trong quá trình phát triển cân nhắc, tập trung nhiều nguồn lực hơn cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đừng xẻ đồi chè ra làm bất động sản mà hãy cân nhắc được và mất của người nông dân trước khi chuyển đổi”, ông Hoan chia sẻ. Đưa Việt Nam trở thành nước có nông nghiệp hàng đầu thế giới Nói về mục tiêu chiến lược, ông Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn cho biết: Mục tiêu chung của chiến lược là xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo hướng hiện đại năng suất cao, chất lượng, hiệu quả, bền vững và sức cạnh tranh cao thuộc nhóm dẫn đầu trong khu vực và trên thế giới, thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà …

Tin mớiadmin17/02/2022
Bình Phước phấn đấu thành trung tâm chăn nuôi, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi
Bình Phước phấn đấu thành trung tâm chăn nuôi, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi

UBND tỉnh Bình Phước vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển chăn nuôi trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2045. Theo kế hoạch, đến năm 2025, tổng đàn heo trên địa bàn tỉnh Bình Phước đạt 2,7 triệu con; đàn gia cầm trên 18 triệu con; đàn trâu, bò trên 60.000 con. Năm 2030, tổng đàn heo trên địa bàn 3,2 triệu con; đàn gia cầm trên 27 triệu con; đàn trâu, bò trên 70.000 con. Mức tăng trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2021 – 2025 trên 15% năm, giai đoạn 2026 – 2030 trên 8% năm. Sản lượng thịt xẻ các loại đến năm 2025 đạt 401.025 tấn, trong đó thịt heo 58 – 60%, thịt gia cầm 35 – 38%, thịt gia súc ăn cỏ 2 – 7%; đến năm 2030 đạt 618.942 tấn, trong đó thịt heo 56 – 58%, thịt gia cầm 38 – 40%, thịt gia súc ăn cỏ 1 – 2%. Sản lượng trứng đến năm 2025 đạt 1.150 triệu quả, đến năm 2030 đạt 1.728 triệu quả. Bình Phước phấn đấu trở thành trung tâm chăn nuôi cả nước. Ảnh: Trần Trung. Về xây dựng vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh, đến năm 2025 xây dựng ít nhất 7 vùng cấp huyện; đến năm 2030 ít nhất 10 vùng cấp huyện. Hoàn thiện ít nhất 2 nhà máy giết mổ, chế biến thịt gia súc, gia cầm và đưa sản phẩm chế biến xuất khẩu ra thị trường thế giới. Tầm nhìn đến năm 2045, trình độ và năng lực sản xuất ngành chăn nuôi của tỉnh thuộc nhóm tiên tiến của các tỉnh khu vực Nam bộ và cả nước. Khống chế và kiểm soát tốt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bệnh lây nhiễm sang người. Hầu hết sản phẩm chăn nuôi chính, bao gồm thịt, trứng sản xuất trong các cơ sở chăn nuôi an toàn sinh học và thân thiện với môi trường. 100% sản phẩm thịt gia súc, gia cầm hàng hóa được cung cấp từ các cơ sở giết mổ tập trung, công nghiệp và trên 70% khối lượng sản phẩm chăn nuôi chính được qua sơ chế, chế biến công nghiệp, trong đó khoảng 30% được chế biến sâu. Bình Phước trở thành trung tâm chăn nuôi và xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tiên tiến và hiện đại của cả nước và khu vực Đông Nam Á Theo kế hoạch, kiểm soát dịch bệnh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Ảnh: Trần Trung. Ông Nguyễn Thanh Bình Giám đốc Sở NN-PTNT Bình Phước cho biết, kế hoạch này nhằm mục đích phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương để phát triển chăn nuôi toàn diện, hiệu quả, bền vững gắn với phát triển các chuỗi giá trị; nâng cao giá trị gia tăng; bảo đảm an toàn sinh học, dịch bệnh, môi trường và an toàn thực phẩm; đối xử nhân đạo với vật nuôi; đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu; tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Qua đó, phát triển ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời đẩy mạnh chăn nuôi hữu cơ, chăn nuôi truyền thống theo hướng sản xuất hàng hóa chất lượng cao, an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh việc xã hội hóa các hoạt động chăn nuôi, phát triển chăn nuôi phù hợp với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng để mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển. Trần …

Tin mớiadmin07/02/2022
Dự thảo Nghị định Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi

Thông báoadmin20/12/2021
Chuyển đổi số ngành nông nghiệp: Không thể không làm
Chuyển đổi số ngành nông nghiệp: Không thể không làm

Chuyển đổi số là xu thế, đòi hỏi, yêu cầu khách quan của sự phát triển, không thể không làm, không thể đứng ngoài cuộc, đặc biệt là chuyển đổi số trong nông nghiệp. Lễ công bố Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp của Bộ NN-PTNT. Ảnh: Phạm Hiếu. Thành lập Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp Ngày 14/12, Bộ NN-PTNT đã công bố Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp của Bộ NN-PTNT. Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan là Trưởng Ban Chỉ đạo; Phó Trưởng Ban Chỉ đạo là ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT. Các thành viên giúp việc cho Ban Chỉ đạo gồm lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ NN-PTNT. Theo đó, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp là chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ của Bộ, ngành NN-PTNT quy định tại Quyết định số 749 ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Nghiên cứu, đề xuất ban hành chính sách, cơ chế quản lý, điều hành; xây dựng chương trình, đề án, quy hoạch, kế hoạch, chiến lược lồng ghép nội dung về chuyển đổi số nông nghiệp; tạo điều kiện thúc đẩy người dân và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chuỗi giá trị nông nghiệp theo hướng số hóa, xây dựng nông thôn mới thông minh trên cả nước. Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực chuyên ngành để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ mới phát sinh trong tiến trình chuyển đổi số, khuyến khích đổi mới, sáng tạo trong chuyển đổi số nông nghiệp. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ xây dựng các hệ thống dữ liệu của ngành, thực hiện số hóa trong từng lĩnh vực chuyên ngành: Đất nông nghiệp, cây trồng, vật nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, chế biến, quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm, thủy lợi, phòng, chống thiên tai… Ứng dụng công nghệ số trong dự báo, cảnh báo thị trường, quản lý quy hoạch; ứng dụng công nghệ số để tự động hóa các quy trình sản xuất, kinh doanh, quản lý, giám sát nguồn gốc, chuỗi cung ứng sản phẩm, bảo đảm nhanh chóng, minh bạch, chính xác; xem xét thử nghiệm triển khai sáng kiến “Mỗi người nông dân là một thương nhân, mỗi hợp tác xã là một doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số”. Đôn đốc, điều phối việc triển khai hoạt động chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp. Tổng kết, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện và chỉ đạo xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện chuyển đổi số nông nghiệp trong toàn ngành… Ban Chỉ đạo sẽ xem xét thử nghiệm triển khai sáng kiến “Mỗi người nông dân là một thương nhân, mỗi hợp tác xã là một doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số”. Ảnh: Nafoods. Cũng tại Lễ công bố, Bộ NN-PTNT đã công bố Quyết định của Bộ trưởng Bộ NN-PTNT lấy ngày 19/8 hàng năm là ngày Chuyển đổi số trong Nông nghiệp. Ngày Chuyển đổi số trong nông nghiệp nhằm nâng cao nhận thức về sứ mệnh, sự cần thiết, tính cấp bách của chuyển đổi số trong ngành NN-PTNT và hành động đồng bộ ở các cấp với sự tham gia của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành NN-PTNT thực hiện thắng lợi chương trình chuyển đổi số quốc gia. Qua đó, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Bộ. Việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày Chuyển đổi số hàng năm đảm bảo đúng quy định của pháp luật, thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm, không phô trương, hình thức, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng cơ quan, đơn vị. Căn cứ nhiệm vụ chuyển đổi số NN-PTNT hàng năm, Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số của Bộ xác định chủ đề chuyển đổi số của năm, xây dựng kế hoạch khung và hướng dẫn các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày Chuyển đổi số (19/8) phù hợp, thiết thực, hiệu quả; phát động phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số để phấn đấu đạt, vượt và về đích sớm các mục tiêu cơ bản và thực hiện toàn diện các nhiệm vụ, giải pháp tại Quyết định số 749 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Không thể đứng ngoài cuộc Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp, nhấn mạnh, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định, cùng với sự phát triển mạnh mẽ khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là một trong ba trụ cột thực hiện phát triển nhanh, phát triển bền vững; đồng thời là một trong những khâu đột phá lớn, góp phần “tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh”. Dự thảo Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2030 cũng nêu rõ “Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” là động lực quan trọng, mở ra cơ hội đổi mới mô hình tăng trưởng trong nông nghiệp, Bộ đã đưa Chuyển đổi số vào nhiệm vụ trọng tâm của ngành, hướng đến mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp “minh bạch – trách nhiệm – bền vững”. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp của Bộ NN-PTNT, phát biểu tại chương trình. Ảnh: Phạm Hiếu. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho biết, nhiệm vụ chuyển đổi số ngành nông nghiệp được xây dựng trên 3 trụ cột: Bộ số, Kinh tế nông nghiệp số và Nông thôn số, Nông dân số. Thời gian qua, việc thực hiện chuyển đổi số bước đầu đã được áp dụng trong ngành NN-PTNT ở các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp mang lại những kết quả hết sức khả quan. Tuy nhiên, quy mô ứng dụng chuyển đổi số còn hạn chế, chưa đồng bộ giữa các vùng, miền, địa phương. “Đại dịch Covid-19 là cú híc mạnh mẽ cho chuyển số trong nông nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ số trong chuỗi cung ứng, sản xuất, chế biến, thị trường nông sản diễn ra rất nhanh trên phạm vi toàn quốc, động chạm cùng lúc tới các doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã, nông dân. Nhưng cách triển khai, tiếp cận rời rạc đã nảy sinh các vấn đề: về trao đổi thông tin giữa các đơn vị thuộc Bộ, giữa bộ, ngành, các địa phương; về ứng dụng công nghệ; về dữ liệu…”, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT nêu vấn đề. Theo đó, Thứ trưởng cho rằng chuyển đổi số ngành nông nghiệp cần một tầm nhìn xa, phải bắt đầu nông dân và phải dựa trên nên tảng số, dữ liệu số. Mọi chính sách đều hướng đến nông dân, nông thôn doanh nghiệp, hợp tác xã và mọi nông dân, nông thôn, doanh nghiệp, hợp tác xã cũng phải tham gia vào quá trình chuyển đổi số. Đồng thời, người đứng đầu phải có tư duy đột phá, tầm nhìn chiến lược, cách làm phù hợp, bám sát thực tiễn, điều kiện, hoàn cảnh của nền nông nghiệp Việt Nam để đạt hiệu quả cao, sức lan tỏa rộng và mang lại lợi ích cho nhiều nông dân, nông thôn, doanh nghiệp, hợp tác xã. “Chuyển đổi số là xu thế, đòi hỏi, yêu cầu khách quan của sự phát triển, không thể không làm, không thể đứng ngoài cuộc, đặc biệt là chuyển đổi số trong nông nghiệp. Đây là vấn đề tác động đến tất cả các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, người dân, doanh nghiệp nên phải bắt tay thực hiện ngay để tạo ra hệ thống tổng thể, liên thông từ Bộ đến cơ sở”, lãnh đạo Bộ NN-PTNT khẳng định. Phạm Hiếu – Đức …

Tin mớiadmin15/12/2021
Cục Chăn nuôi Lấy ý kiến hủy bỏ QCVN trong lĩnh vực chăn nuôi

Kính gửi: Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ Hiện nay, nội dung của một số QCVN trong lĩnh vực chăn nuôi không còn phù hợp với quy định tại Luật Chăn nuôi, Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành. Vì vậy, để hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị hủy bỏ một số QCVN trong lĩnh vực chăn nuôi, Cục Chăn nuôi đề nghị Chi cục Chăn nuôi và Thú y các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho ý kiến về việc hủy bỏ các QCVN, cụ thể như sau: Danh mục QCVN đề nghị hủy bỏ (chi tiết tại Phụ lục kèm theo). Đề nghị các Chi cục gửi ý kiến về Phòng Thanh tra, Pháp chế, Cục Chăn nuôi trước ngày 22/12/2021, 16 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà …

Thông báoadmin15/12/2021
Tăng cường giải pháp phòng chống đói rét cho đàn vật nuôi
Tăng cường giải pháp phòng chống đói rét cho đàn vật nuôi

Sáng 14/12, Bộ NN-PTNT tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai công tác phòng, chống đói rét cho vật nuôi năm 2021-2022 các tỉnh miền núi phía bắc và Bắc Trung Bộ. Số lượng gia súc, gia cầm bị thiệt hại do đói rét giảm rõ rệt Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Trung Quân. Tại hội nghị, ông Tống Xuân Chinh, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT) cho biết: Trong những năm gần đây, số lượng gia súc, gia cầm bị thiệt hại đo đói, rét trong vụ đông xuân giảm rõ rệt, cụ thể:  Vụ đông xuân 2007-2008 hơn 200.000 gia súc bị chết; 2010-2011 gần 100.000 con; 2011-2012 hơn 5.800 con; 2013-2014 hơn 2.800 con, 2020-2021 hơn 2.200 con gia súc và 335 con gia cầm… Tuy nhiên, công tác phòng chống đói, rét cho đàn vật nuôi vẫn gặp rất nhiều khó khăn do các tỉnh thường chịu ảnh hưởng sâu sắc của rét đậm, rét hại, đặc biệt là các huyện vùng núi cao. Chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô nhỏ, phân tán còn chiếm tỷ lệ cao (trên 80%), điều kiện cơ sở vật chất, trình độ kỹ thuật chăn nuôi nông hộ, kiến thức về phòng chống dịch bệnh, xử lý ô nhiễm môi trường và vệ sinh chuồng trại của người dân còn nhiều hạn chế. Một số hộ nghèo chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của chính quyền, khi không có hỗ trợ thì người chăn nuôi cũng không đủ kinh tế để củng cố chuồng trại, xử lý phân chuồng và dự trữ thức ăn cho gia súc… Đồng bộ nhiều giải pháp, xây dựng mô hình hiệu quả Theo Cục chăn nuôi, để công tác phòng chống đói, rét cho đàn vật nuôi cần áp dụng đồng bộ các giải pháp, cụ thể: Tăng cường công tác quản lý và tổ chức sản xuất, theo dõi chặt chẽ và thông tin kịp thời về tình hình diễn biến của thời tiết khí hậu, đặc biệt những đợt rét đậm, rét hại để chủ động phòng chống đói, rét cho gia súc kịp thời. Vận động người dân không thả rông gia súc và cho gia súc làm việc khi nhiệt độ xuống dưới 10 độ C. Vận động người dân thực hiện 3 không (không thả rông, không sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, không dấu dịch), 3 có (có chuồng trại, có xử lý chất thải trong chăn nuôi, có tiêm phòng cho gia súc). Không chủ quan, lơ là trong chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý vật nuôi trước, trong và sau rét đậm, rét hại… Về chuồng trại, thường xuyên kiểm tra, gia cố chuồng trại, tiến hành xây mới chuồng nuôi đảm bảo chống rét được cho gia súc trước mỗi vụ đông xuân hàng năm và sau mỗi đợt rét đậm, rét hại. Thực hiện tiêu độc khử trùng, phòng chống nguy cơ có thể bùng phát dịch. Sử dụng các chế phẩm vi sinh phun xử lý mùi hôi chuồng trại, hỗ trợ phân hủy nhanh chất thải thành phân bón hữu cơ. Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Trung Quân. Về thức ăn, thu gom phụ phẩm nông nghiệp có sẵn tại địa phương như rơm rạ, ngô, đậu, lạc khi thu hoạch, dự trữ chế biến để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn thức ăn, phế phụ phẩm nông nghiệp sẵn có tại các địa phương làm thức ăn gia súc. Chuyển diện tích sản xuất lương thực kém hiệu quả sang trồng cây thức ăn gia súc. Mở rộng diện tích trồng cỏ, ngô sinh khối, ngô vụ đông để làm thức ăn cho gia súc ăn cỏ… Về con giống, tổ chức tuyển chọn nhân giống, mua giống để có được giống tốt cung cho người chăn nuôi trước mỗi mùa đông. Có phương án chủ động con giống để sẵn sàng thay thế khi vật nuôi bị chết, tái sản xuất ngay sau khi thiệt hại do rét đậm, rét hại. Những vùng thấp, củng cố, tăng cường, phát huy tối đa hệ thống thụ tinh nhân tạo ở địa phương để tiến hành cải tạo đàn trâu, bò lợn bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo. Vùng cao, tuyển chọn đực giống tốt của địa phương để cải tạo giống bằng phương pháp nhảy trực tiếp… Tại hội nghị, ông Hoàng Văn Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia chia sẻ: Trung tâm đã triển khai 3 dự án về trồng và chế biến bảo quản thức ăn phục vụ phòng chống đói, rét cho đàn trâu, bò tại các địa phương. Hướng dẫn người dân xây dựng và củng cố chuồng trại trong chăn nuôi đại gia súc; phòng bệnh ghi chép sổ sách trong chăn nuôi; đào tạo, tập huấn phòng chống rét phát triển chăn nuôi đại gia súc; tăng cường thông tin tuyên truyền phòng chống đói, rét đến đông đảo người dân… Linh hoạt, chủ động giải pháp là giải pháp tối ưu Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến nêu rõ: Trong bối cảnh ngành nông nghiệp phải đối diện với nhiều khó khăn như hiện nay, với sự nỗ lực quyết tâm của cả hệ thống, năm 2021, ngành chăn nuôi vẫn có sự tăng trưởng tương đối tốt, tổng sản lượng thịt đạt 6,2 triệu tấn, trứng 6 tỷ quả, sữa 1,2 triệu tấn… góp tỷ trọng lớn vào sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Để công tác phòng chống đói rét cho đàn vật nuôi hiệu quả cần áp dụng đồng bộ các giải pháp như gia cố chuồng nuôi, tăng cường dinh dưỡng, dự trữ thức ăn thô xanh…Ảnh: TL. Tuy nhiên, vấn đề biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, khó lường, nếu ngành nông nghiệp nói chung, chăn nuôi nói riêng không có giải pháp chủ động ứng phó thì khi có tình huống xảy ra sẽ không kịp phản ứng, hậu quả sẽ rất nặng nề. Bên cạnh đó, công tác phòng chống đói, rét không thể thực hiện ngay một lúc mà cần chuẩn bị kỹ lưỡng. Trong đó, tập trung nâng cao sức khỏe đàn vật nuôi, đẩy mạnh công tác tiêm phòng, tăng cường dinh dưỡng, củng cố chuồng trại… là những vấn đề then chốt. Nếu các địa phương không chủ động chuẩn bị thì rất dễ lặp lại lịch sử vụ đông xuân 2007-2008, hơn 200.000 gia súc chủ yếu trâu bò bị chết. Trung …

Tin mớiadmin14/12/2021
Quyết định số 222/QĐ-CN-VP ngày 23 tháng 11 năm 2021 Về việc thành lập Ban chỉ đạo phong trào thi đua “Thực hiện chuyển đổi số, xây dựng nền chăn nuôi số gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính” giai đoạn 2021 – 2025

Quyết địnhadmin14/12/2021
Quyết định số 221/QĐ-CN-VP ngày 23 tháng 11 năm 2021 Về việc phát động phong trào thi đua “Thực hiện chuyển đổi số, xây dựng nền chăn nuôi số gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính” giai đoạn 2021 – 2025

Quyết địnhadmin14/12/2021
Ông Dương Tất Thắng giữ chức Cục trưởng Cục Chăn nuôi
Ông Dương Tất Thắng giữ chức Cục trưởng Cục Chăn nuôi

Ngày 24/11, Bộ NN-PTNT đã công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Dương Tất Thắng, Quyền Cục trưởng Cục chăn nuôi giữ chức Cục trưởng Cục chăn nuôi. Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến trao quyết định bổ nhiệm cho ông Dương Tất Thắng. Ảnh: Nam Khánh. Ông Dương Tất Thắng sinh năm 1970, quê huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh). Trước khi được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Chăn nuôi, ông Dương Tất Thắng là Quyền Cục trưởng Cục chăn nuôi. Trước đó, ông là Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi. Tại lễ trao quyết định bổ nhiệm, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến nhấn mạnh: Chăn nuôi là lĩnh vực hết sức quan trọng của ngành nông nghiệp, không chỉ phục vụ cho nhu cầu thực phẩm của 100 triệu dân trong nước, mà đang hướng tới mục tiêu vươn ra xuất khẩu, khẳng định vị thế và đóng góp lớn hơn cho ngành nông nghiệp. Đây cũng đang là lĩnh vực còn dư địa phát triển rất lớn. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến tin tưởng với kinh nghiệm công tác của mình trong lĩnh vực chăn nuôi – thú y, trên cương vị Cục trưởng Cục Chăn nuôi, với hành lang pháp lý, chiến lược và nguồn lực đã có, ông Dương Tất Thắng sẽ kế thừa và phát huy hơn nữa truyền thống đoàn kết, nỗ lực, cùng tập thể, lãnh đạo Cục Chăn nuôi tổng hợp các lực lượng, hệ thống quản lý nhà nước về ngành chăn nuôi các địa phương; các doanh nghiệp; các nhà khoa học và hộ nông dân cùng đưa ngành chăn nuôi Việt Nam lên tầm cao mới… Nhận quyết định bổ nhiệm, ông Dương Tất Thắng hứa sẽ nỗ lực hết mình trong công tác, triển khai thực hiện các nhiệm vụ được Bộ NN-PTNT giao, kế thừa và tiếp tục phát huy thành quả của các thế hệ đi trước; nỗ lực học tập, rèn luyện và làm việc với khả năng cao nhất để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Với ngành chăn nuôi, trước mắt, sẽ thường xuyên kết nối với địa phương để nắm bắt thông tin, sâu sát thực tiễn, đưa ra các giải pháp kịp thời, phủ hợp để ứng phó hiệu quả với các diễn biến bất thường của thị trường, dịch bệnh, thiên tai, môi trường và biến đổi khí hậu của từng vùng, từng địa phương, từng đối tượng vật nuôi nhằm thúc đẩy phát triển chăn nuôi bên vững, nâng cao giá trị, sức cạnh tranh và đàm bảo an toàn thực phẩm của sản phẩm chăn nuôi. Bên cạnh đó, tiếp tục phát huy, xây dựng phát triển bền vững mối quan hệ hữu cơ giữa Cơ quan quản lý nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp và người chăn nuôi. NAM …

Tin mớiadmin29/11/2021
Mặt trái của ngành chăn nuôi bò vùng Amazon
Mặt trái của ngành chăn nuôi bò vùng Amazon

Đối với nhiều người, hình ảnh trái chiều của nông nghiệp ở Amazon là các hoạt động tàn phá môi trường. Nhu cầu về thịt bò ở vùng Amazon ngày càng tăng khiến nhiều người dân địa phương coi chăn nuôi gia súc như một sinh kế giúp nuôi sống gia đình của họ, dẫn đến tình trạng phá rừng bất hợp pháp leo thang. Ảnh: Washington Post. Khoảng 80% số vụ phá rừng trong khu vực là do chăn nuôi gia súc, xuất khẩu thịt bò nhiễm độc. Ngành công nghiệp thịt bò của Brazil hy vọng sẽ thu hút người nuôi quay trở lại khu vực Amazon, nơi chiếm khoảng 40% tổng diện tích cả nước, với cam kết không phá rừng mới. Nhưng các nhà phê bình lo ngại rằng nó có thể hợp pháp hóa việc phá rừng một cách hiệu quả trong khu vực. Vào tháng 5, các quan chức chính phủ Brazil bắt đầu tìm hiểu chi tiết về cái gọi là khu vực phát triển bền vững Amacro, nơi được hy vọng sẽ dẫn đến việc tăng cường nông nghiệp lớn ở Amazon. Tổng thống Brazil, Jair Bolsonaro, dự kiến ​​sẽ bật mí dự án vào cuối năm nay. Vùng Amacro – một từ viết tắt được lấy từ các bang: Amazonas, Acre và Rondônia – là một vùng rộng lớn 465.800 km2 ở tây bắc Brazil. Vùng Amacro bao gồm công viên quốc gia Mapinguari, khu bảo tồn lớn thứ năm của Brazil, và lãnh thổ bản địa Kaxarari, nơi bộ tộc đã đấu tranh chống lại lâm tặc để bảo vệ đất đai của mình. Tổ chức Hòa bình xanh đã xác định phần phía bắc của khu vực này là một điểm nóng phá rừng mới nổi. Các dự án phát triển nông nghiệp trước đây đã làm mất đi những vùng rộng lớn của thảm thực vật bản địa ở các vùng khác của Brazil, nhưng những người ủng hộ Amacro cam kết dự án đang được thiết kế để ngăn chặn nạn phá rừng bất hợp pháp. Edivan Maciel, cựu Bộ trưởng Nông nghiệp của bang Acre, cho biết mục đích của dự án là sản xuất nhiều thịt bò hơn trên những vùng đất đã được khai phá. Maciel, một đồng minh của Tổng thống Bolsonaro, cho biết đó là nhằm tối ưu hóa khả năng sản xuất mà không cần phá rừng. Nhưng Humberto de Aguiar, một công tố viên liên bang ở bang Acre, người chuyên xử lý các tội phạm về môi trường, nói rằng kế hoạch này có khả năng “hợp pháp hóa việc phá rừng đã được thực hiện”.  Amacro là sản phẩm trí tuệ của Assuero Doca Veronez, một nhân vật quyền lực trong lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp ở vùng Amazon. Veronez chính là người đã nói với một trang tin tức Brazil vào năm ngoái rằng “phá rừng đồng nghĩa với tiến bộ”. Veronez, một chủ trang trại và là chủ tịch của Liên đoàn Nông nghiệp và Chăn nuôi Acre, đã bị phạt vì phá rừng bất hợp pháp vào năm 2006. Ông phủ nhận mọi hành vi sai trái và nói rằng ông đã bán tài sản vào năm 2002. Veronez cho biết việc chăn nuôi gia súc thâm canh hơn sẽ cho phép sản xuất nhiều thịt bò hơn trên diện tích đất ít hơn và chống lại nạn phá rừng. Ông tuyên bố sản xuất thịt bò tăng khoảng 2,5 lần so với mức trung bình của tiểu bang Acre. “Amacro có thể đóng góp vào việc bảo tồn những khu vực này”, Veronez khẳng định. Một số nhà nghiên cứu tranh cãi ý kiến ​​rằng việc chuyển sang chăn nuôi tập trung có thể cắt giảm nạn phá rừng ở Amazon. Một báo cáo của Đại học California vào năm 2017 đã kết luận rằng đó có thể là một cách tiếp cận không đúng, trong đó lưu ý rằng “điều ngược lại có thể xảy ra”. Judson Valentim, một nhà nghiên cứu tại cơ quan nghiên cứu nông nghiệp của Brazil, cho biết việc tăng cường trồng rừng khó có thể theo kịp tốc độ phá rừng chóng mặt. “Veronez, giống như hầu hết các chủ trang trại lớn, phụ thuộc vào mạng lưới các nhà sản xuất nhỏ hơn. hầu hết trong số họ thiếu nguồn lực kỹ thuật và tài chính để đầu tư vào các hoạt động chăn thả hiệu quả hơn”, Valentim thông tin. Trong khi các chủ trang trại như Veronez có thể tránh được nạn phá rừng, các nhà cung cấp cho họ có thể không có đủ điều kiện để làm như vậy. Nhu cầu về thịt bò ở vùng Amazon ngày càng tăng đã khiến nhiều người dân địa phương coi chăn nuôi gia súc như một sinh kế giúp nuôi sống gia đình của họ, dẫn đến tình trạng phá rừng bất hợp pháp leo thang. Gabriel Santos, một chủ trang trại ở vùng Amacro, đã bị phạt hơn 130.000 đô la vì đã chặt cây trái phép trong khu bảo tồn để chăn thả gia súc. Nhưng ông nói rằng chuyển đổi rừng thành đồng cỏ là lựa chọn kinh tế khả thi duy nhất của mình. Vì trang trại của Santos đã bị các cơ quan quản lý đưa vào danh sách đen nên  ông không thể bán gia súc trực tiếp cho các lò mổ. Vì vậy, ông bán cho một người trung gian, người này bán cho các chủ trang trại lớn. Valentim cho biết, “nếu các chủ trang trại lớn trở nên năng suất hơn, ngay cả khi họ không chặt phá rừng, thì điều đó sẽ gây áp lực cho những người chăn nuôi gia súc trong rừng bán hàng cho họ phải phát triển hoạt động phá rừng”. Veronez nói rằng ông ta không liên quan gì đến các vấn đề môi trường của người khác: “Tôi hoàn toàn chống lại kiểu kiểm soát này. Mặc dù luật pháp Brazil hạn chế hầu hết các chủ đất ở Amazon phá hơn 20% diện tích đất của họ, nhưng việc thiếu sự giám sát theo quy định sẽ giúp giải thích tại sao 94% vụ phá rừng có thể được thực hiện bất hợp pháp”. “Rất khó để duy trì hợp pháp”, Santos, người đã phải trốn tránh vì khoản tiền phạt chưa được thanh toán, nói. Santos nói với thu nhập hàng năm là 10.000 USD, ông không thể trả được. Ông lẩn trốn khi các nhân viên chính phủ đến trang trại của mình và lo sợ cuối cùng sẽ bị tống vào tù. Ông cho rằng mình bị một cơn đau tim gần đây là do căng thẳng. “Tôi sẽ hỗ trợ gia đình mình như thế nào?”, ông cầu xin. “Nếu tôi có một phương tiện sinh tồn khác, tôi sẽ rời đi. Tôi chỉ ở lại đây vì tôi không còn nơi nào để đi”. Hương Lan (Theo …

Tin mớiadmin29/11/2021
Phát triển kinh tế tuần hoàn trong chăn nuôi
Phát triển kinh tế tuần hoàn trong chăn nuôi

Ngày 19/11, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Sở NN-PTNT tỉnh Hòa Bình tổ chức diễn đàn khuyến nông về ‘Giải pháp phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong chăn nuôi’. Hiểu đúng về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp Theo ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, nông nghiệp tuần hoàn nói chung và chăn nuôi tuần hoàn nói riêng là hoạt động sản xuất không chất thải, không phế phẩm. Ứng dụng kỹ thuật truyền thống và những tiến bộ khoa học để xử lý phụ phẩm, chất thải trong quá trình sản xuất thành giá trị hữu ích, tái sử dụng trong nông nghiệp, góp phần bảo vệ và tái sinh môi trường là hướng đi bền vững trong định hướng phát triển ngành chăn nuôi. Xây dựng hầm biogas trong xử lý chất thải chăn nuôi. Ảnh: TL. Bà Hạ Thúy Hạnh, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho biết: Phát triển kinh tế tuần hoàn đã và đang là xu hướng của các quốc gia trên thế giới, nhất là trong bối cảnh nguồn tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt. Kinh tế tuần hoàn không chỉ là tái sử dụng chất thải, coi chất thải là tài nguyên mà còn là sự kết nối giữa các hoạt động kinh tế một cách có tính toán, tạo thành vòng tuần hoàn trong nền kinh tế. Kinh tế tuần hoàn mang lại 4 lợi ích cụ thể giúp phát triển bền vững: Tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế và mang lại nhiều lợi ích cho xã hội. Bên cạnh đó, kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp là quá trình sản xuất nông nghiệp theo chu trình khép kín, chất thải và phế phụ phẩm của quá trình này là đầu vào của quá trình sản xuất khác thông qua áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học, công nghệ hóa lý. Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp sẽ khai thác và sử dụng tài nguyên một cách tiết kiệm, hiệu quả, giảm thiểu sự lãng phí thất thoát sau thu hoạch; giảm thiểu và đi đến triệt tiêu chất thải gây ô nhiễm môi trường, bảo vệ hệ sinh thái và sức khỏe con người. Cũng theo bà Hạnh, ở Việt Nam, hiện nay cách hiểu về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp chưa đầy đủ và đúng nghĩa. Song một số mô hình gắn với kinh tế tuần hoàn đã và đang xuất hiện, tạo cơ hội cho kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp phát triển như: Mô hình vườn ao chuồng (VAC), vườn ao chuồng bioga (VACB), vườn ao chuồng rừng (VACR) tại các tỉnh miền núi, vườn ao hồ (VAH) tại các tỉnh miền trung, lúa tôm, lúa cá… Nông nghiệp tuần hoàn nói chung và chăn nuôi tuần hoàn nói riêng, là hướng đi bền vững trong định hướng phát triển ngành chăn nuôi. Ảnh: TL. Tuy nhiên, việc việc phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt nam đang gặp một số khó khăn: Những hướng dẫn về vai trò, lợi ích, bản chất, nội dung, tiêu chí của nông nghiệp tuần hoàn chưa rõ ràng, thậm chí chưa có. Điều này dẫn tới nhận thức của các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, người dân còn mơ hồ, chưa đầy đủ. Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên, sử dụng thuốc BVTV, phân bón vô cơ nên chưa tạo được động lực áp dụng kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp. Năng lực tái chế, tái sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp còn rất hạn chế. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao công nghệ xử lý, chất thải phế phụ phẩm trong nông nghiệp còn thiếu. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, nên việc thu gom, phân loại cũng như đầu tư cho công nghệ tái chế chưa được quan tâm. Vì vậy, hiện nay mới có 10% phụ phẩm trồng trọt được sử dụng là chất đốt tại chỗ, 5% là nhiên liệu công nghiệp, 3% là thức ăn gia súc, còn 80% chưa được sử dụng và thải trực tiếp ra môi trường hoặc đốt bỏ… Đề xuất nhiều giải pháp Tại diễn đàn, tổ tư vấn gồm các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp… có kinh nghiệm trong lĩnh vực chăn nuôi đã giải đáp những thắc mắc, băn khoăn của của các hộ sản xuất về nông nghiệp tuần hoàn, kinh tế tuần hoàn, các quy định, chính sách hiện nay. Bên cạnh đó, nhiều đại biểu đã đóng góp những giải pháp để phát triển kinh tế tuần hoàn hiệu quả trên thực tế Tổ tư vấn diễn đàn trả lời, giải đáp những thắc mắc của người dân, doanh nghiệp về các quy định, chính sách xuay quanh kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp tuần hoàn. Ảnh: Trung Quân. Ông Hà Văn Thắng, Chủ tịch Công ty Cổ phần T&T 159 Hòa Bình chia sẻ: Nguyên tắc cơ bản trong nền kinh tế tuần hoàn bao gồm: Thiết kế tái sử dụng, khả năng linh động nhờ sự đa dạng, sử dụng năng lượng từ các nguồn vô tận, sử dụng năng lượng từ các nguồn vô tận, tư duy hệ thống và nền tảng sinh học. Cũng theo ông Thắng, để triển khai được mô hình kinh tế tuần hoàn trong trong nông nghiệp, cần xây dựng một số mô hình thí điểm, với sự tham gia của kinh tế tập thể (hợp tác xã) gắn với kinh tế tư nhân (doanh nghiệp trong hợp tác xã). Từ đó, phát triển hệ sinh thái cho vùng sản xuất nông nghiệp. Trong hệ sinh thái này, doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt, rường cột, làm trung tâm vùng lõi, dẫn dắt thị trường cung ứng và tiêu thụ sản phẩm, thực hiện dịch vụ kỹ thuật, hậu cần, chế biến… Song song đó, cần mở rộng liên kết vùng sản xuất theo khu vực, ngành hàng để kết nối phát triển kinh tế tuần hoàn. Trong liên kết này, phế phụ phẩm của đơn vị này được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho đơn vị kia. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân, nông dân nhận thức, hiểu biết các mô hình nông nghiệp tuần hoàn để sẵn sàng tham gia và cùng phát huy hiệu quả… Đại diện Trung tâm Khuyến nông tỉnh Phú Thọ góp ý: Cần khuyến khích bà con nông dân xử lý trả lại chất đất hữu cơ bằng cách để lại phần phụ cho đất (như thân lá sắn, ngô, cành lá chè sau đốn), tăng cường chế biến phụ phẩm như mùn cưa tạo thành phân bón hữu cơ sử dụng trong nông nghiệp. Áp dụng các kỹ thuật mới sản xuất phân bón từ phân và chất thải chăn nuôi, khí đốt từ hầm Biogas, sử dụng làm nguyên vật liệu nuôi trồng đối tượng khác để khép kín tuần hoàn sản xuất… Có chính sách ưu tiên cho các doanh nghiệp đầu tư, khai thác, chế biến phế phụ phẩm trong nông nghiệp để tạo ra phân bón và giá thể hữu cơ; đẩy mạnh quy trình sản xuất tiên tiến, thân thiện với môi trường; xây dựng và nhân rộng các mô hình sử dụng thức ăn chăn nuôi phối trộn, sử dụng phế phẩm sinh học thay thế kháng sinh trong chăn nuôi. Trung …

Tin mớiadmin22/11/2021
Quyết định số 186/QĐ-CN-VP ngày 29 tháng 10 năm 2021 Ban hành Kế hoạch triển khai các hoạt động trong Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới năm 2021 của Cục Chăn nuôi

Quyết địnhadmin19/11/2021
Chương trình “ Tuổi trẻ Bộ Nông nghiệp và PTNT chung tay xây dựng nông thôn mới năm 2021”
Chương trình “ Tuổi trẻ Bộ Nông nghiệp và PTNT chung tay xây dựng nông thôn mới năm 2021”

Thực hiện chương trình công tác Đoàn và phong trào thanh niên năm 2021,  Sáng ngày 23/10/2021, Đoàn thanh niên Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức chuỗi các hoạt động “Tuổi trẻ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chung sức xây dựng nông thôn mới” tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. Cụm đoàn khu liên cơ quan số 16 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội được Đoàn Bộ Nông nghiệp và PTNT giao chủ trì thực hiện Chương trình tình nguyện này.  Chi đoàn Cục Chăn nuôi đã chủ động, tích cực phối hợp với các Chi đoàn tại Cụm đoàn khu liên cơ quan số 16 Thụy Khuê, huyện Đoàn Na Rì, các đoàn viên thanh niên công ty Cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam lên Kế hoạch, huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện. Ảnh: Đại diện Ban giám hiệu trường THCS Trần Phú nhận vở, sách truyện và trang thiết bị dậy và học từ đoàn công tác Đoàn thanh niên Bộ NN&PTNT đã trao tặng 1.500 quyển sách, 01 bộ máy tính, 01 bộ máy chiếu và nhiều sách, truyện cho trường THCS Trần Phú để xây dựng Tủ sách thanh niên đồng thời tổ chức khánh thành Công trình nước sạch và trồng cây lưu niệm. Ảnh: Đoàn thanh niên Cục Chăn nuôi trồng cây lưu niệm và khánh thành công trình nước sạch tại trường THCS Trần Phú  Cũng trong khuôn khổ của Chương trình tình nguyện tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, Chi đoàn Cục Chăn nuôi đã phối hợp với Công ty Cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam tổ chức trao 2.000 gà giống (20 đàn gà khăn quàng đỏ), 1.000 kg thức ăn chăn nuôi, 20 bóng đèn và các loại vật tư (thuốc thú y, máng cho ăn, uống nước…) phục vụ cho việc chăm sóc đàn gà, đồng thời tổ chức tập huấn mô hình chăn nuôi gà cho đoàn viên thanh niên và phụ huynh, học sinh nhận được hỗ trợ. Ảnh: Đoàn thanh niên Cục Chăn nuôi tặng quà cho các em học sinh trường THCS Trần Phú Chương trình thể hiện tinh thần, trách nhiệm của tuổi trẻ Bộ Nông nghiệp và PTNT, Cục Chăn nuôi đối với cộng đồng, chung tay phát triển kinh tế, sinh kế khu vực miền núi và xây dựng nông thôn mới tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. Đây cũng là dịp để giáo dục về ý thức, trách nhiệm sống vì cộng đồng, xã hội cho Đoàn viên thanh niên Cục Chăn nuôi, môi trường để chia sẻ kiến thức chuyên môn và kết nối giữa các đoàn viên thanh niên. Nguồn: Chi đoàn Cục Chăn nuôi   …

Chi đoàn Cục Chăn nuôiadmin10/11/2021
Giá heo hơi hôm nay 27/10: Miền Bắc tiếp tục tăng mạnh
Giá heo hơi hôm nay 27/10: Miền Bắc tiếp tục tăng mạnh

Giá heo hơi hôm nay 27/10/2021 tại miền Bắc tiếp tục tăng thêm 1.000 – 5.000 đ/kg. Trong khi đó, giá heo hơi miền Nam lại đi ngang. Giá heo hơi miền Bắc hôm nay Giá heo hơi hôm nay 27/10 tại thị trường miền Bắc tiếp tục tăng, giao dịch quanh mức 46.000 – 52.000 đ/kg Cụ thể, heo hơi tại Hưng Yên tiếp tục tăng giá thu mua lêm mức 52.000 đ/kg, tăng thêm 1.000 đ/kg so với hôm qua. Đây cũng là địa phương có mức giao dịch heo hơi cao nhất khu vực. Tương tự, Yên Bái cũng đang tăng nhẹ 1 giá lên mức 46.000 đ/kg, là địa phương có mức giá heo hơi thấp nhất khu vực hôm nay. Các tỉnh Nam Định, Hà Nam và Ninh Bình đồng loat tăng thêm 2.000 đ/kg, lên mức 47.000 đ/kg. Và đang ngang bằng với các địa phương Thái Bình và Tuyên Quang. Lào Cai và Vĩnh Phúc cũng không ngoại lệ, khi tăng mạnh 3.000 đ/kg so với hôm qua, lên mức 48.000 đ/kg. Đây cũng là mức giá giao dịch heo hơi đang neo tại Thái Nguyên. Đặc biệt, tỉnh Bắc Giang tiếp tục tăng lên mức 50.000 đ/kg, tăng mạnh thêm 5.000 đ/kg so với hôm qua. Còn thương lái tại Hà Nội đang tiếp tục thu mua heo hơi ở mức 49.000 đ/kg. Đây cũng là mức giá heo hơi tại Phú Thọ, sau khi tăng mạnh 4.000 đ/kg. Như vậy, giá heo hơi hôm nay 27/10/2021 tại thị trường miền Bắc tăng thêm 1.000 – 5.000 đ/kg so với hôm qua. Giá heo hơi miền Trung hôm nay Giá heo hơi hôm nay 27/10 tại miền Trung và Tây Nguyên chỉ tăng ở vài nơi Trong đó, Thanh Hóa và Nghệ An sau khi tăng 2.000 đ/kg, cùng điều chỉnh giá thu mua lên mức 46.000 đ/kg. Trở thành 2 địa phương có mức giá heo hơi cao nhất khu vực. Hiện tỉnh Hà Tĩnh đang giao dịch heo hơi với giá thấp nhất khu vực, với 44.000 đ/kg. Các tình thành còn lại đồng loạt đi ngang, duy trì mức giao dịch tại 45.000 đ/kg. Như vậy, giá heo hơi hôm nay 27/10/2021 ở miền Trung thu mua quanh mốc 44.000 – 46.000 đ/kg. Giá heo hơi miền Nam hôm nay Tại miền Nam, giá heo hơi hôm nay 27/10 đi ngang so với hôm qua. Cụ thể, Đồng Nai đang là địa phương có mức thu mua heo hơi cao nhất khu vực hiện nay, duy trì ở giá 46.000 đ/kg. Trong khi đó, TP HCM, Bình Phước, Bình Dương, Long An và các tỉnh thành còn lại khác tiếp tục neo tại 45.000 đ/kg. Như vậy, giá heo hơi hôm nay 27/10/2021 toàn miền Nam dao động quanh ngưỡng 45.000 – 46.000 đ/kg. Bàng …

Tin mớiadmin27/10/2021
Mỹ: Người nuôi gà hữu cơ 'sốc nặng' vì giá đậu tương hữu cơ tăng vọt
Mỹ: Người nuôi gà hữu cơ ‘sốc nặng’ vì giá đậu tương hữu cơ tăng vọt

Giá đậu tương hữu cơ của Mỹ được sử dụng để làm thức ăn chăn nuôi và sản xuất sữa đậu nành đã tăng lên mức cao kỷ lục. Tại Hoa Kỳ, giá thức ăn hữu cơ, chiếm 65% chi phí nuôi gà, đã tăng gần 20% vào năm 2021. Ảnh minh họa: Reuters. Lý do là khối lượng hàng nhập khẩu chiếm phần lớn nguồn cung của Hoa Kỳ suy giảm, gây ra sự tăng giá đối với thực phẩm, bao gồm cả gà nuôi hữu cơ. Đậu tương lên giá và các sản phẩm hữu cơ có giá cao hơn đang thúc đẩy lạm phát thực phẩm tại thời điểm người tiêu dùng mong muốn ăn ngon hơn và chú trọng đến sức khỏe trong đại dịch Covid-19. Ngành thực phẩm hữu cơ trị giá 56 tỷ USD của Mỹ cũng đang phải vật lộn với tình trạng thiếu container vận chuyển và thị trường lao động eo hẹp do giá thực phẩm toàn cầu đạt mức cao nhất trong 10 năm. Các công ty thực phẩm và các nhà sản xuất gà đang gặp phải cú sốc lớn hơn từ giá đậu tương hữu cơ, được vận chuyển trong các container. Dù giá đậu tương thông thường chưa phải mức kỷ lục nhưng vẫn đang ở mức cao nhất trong vòng 7 năm. Các nhà sản xuất gà hữu cơ đang cắt giảm chi phí hoạt động để bù đắp chi phí thức ăn cao và tranh giành nguồn cung ứng nội địa thay vì ở nước ngoài. Theo ước tính của ngành nông nghiệp, Mỹ nhập khẩu khoảng 70% đậu tương hữu cơ và sản lượng hữu cơ của Mỹ hiện không tăng đủ lượng để bắt kịp với nhu cầu. Bell & Evans, một nhà sản xuất gà có tuổi đời 127 năm, và có trụ sở tại Pennsylvania, hàng tuần đều sử dụng các loại cây trồng hữu cơ của Mỹ làm thức ăn cho 500.000 – 600.000 con gà và “đang phải cạnh tranh để mua đậu tương với những người mua khác phụ thuộc vào nguồn hàng nhập khẩu trước đây”, theo chủ sở hữu Scott Sechler. “Công ty đã tăng tất cả giá gà trong tháng 7 và có khả năng sẽ cần tăng giá gà nuôi hữu cơ một lần nữa”, ông nói. “Chúng ta đang ở trong thời kỳ thách thức nhất kể từ khi thế giới hữu cơ bắt đầu mở ra với việc cho động vật ăn thức ăn hữu cơ và bán protein động vật hữu cơ. Tình hình hiện tại điên rồ giống như trong nhà thương điên”. Nhập khẩu đậu tương hữu cơ của Hoa Kỳ từ tháng 9/2020 đến tháng 8/2021 đã giảm 18% xuống còn khoảng 240.585 tấn, theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA). Các lô hàng nhập khẩu từ Argentina, nhà cung cấp lớn nhất cho Hoa Kỳ, giảm 30%. Nhập khẩu từ Ấn Độ giảm 34%, làm trầm trọng thêm xu hướng suy giảm đã có từ trước, sau khi Hoa Kỳ vào tháng Giêng tăng cường các yêu cầu về chứng nhận cây trồng của Ấn Độ là hữu cơ. Trong khi Hoa Kỳ là nhà xuất khẩu đậu tương thông thường số 2 thế giới, nông dân nước này lại chậm chuyển sang canh tác đậu tương hữu cơ, do đầu tư ban đầu quá lớn và thời gian chuyển đổi dài để đạt được chứng nhận hữu cơ. Giờ đây, khi xem xét lợi nhuận thu được từ canh tác thông thường trong bối cảnh nguồn cung đậu tương toàn cầu thấp, một số người trồng cho biết không đáng để bỏ thêm tiền và công sức để chuyển sang trồng hữu cơ. “Mỹ không có đủ ngũ cốc hữu cơ để thay thế tất cả các loại ngũ cốc hữu cơ nhập khẩu”, Sechler nhấn mạnh. Tắc nghẽn Tình trạng thiếu container vận chuyển sử dụng trong nhập khẩu cây trồng hữu cơ, kèm theo đó là việc tắc nghẽn tại các cảng của Hoa Kỳ đúng thời điểm người mua đang có nhu cầu tiêu dùng lớn, đã đẩy chi phí vận chuyển hàng hóa lên mức kỷ lục. John Sheppard, Chủ tịch công ty nghiền đậu tương hữu cơ Sheppard Grain của Mỹ cho biết: “Thị trường hàng tiêu dùng đang trả thêm chi phí cho bất cứ container nào mà họ có thể tìm thấy. Sản phẩm nông nghiệp không thể cạnh tranh được”. Công ty dữ liệu hàng hóa Mercaris cho biết, giá đậu tương hữu cơ giao tại Trung Tây Hoa Kỳ vào tháng 9 đạt khoảng 33 USD/giạ, vượt qua mức kỷ lục trước đó đạt khoảng 25 USD/giạ trong năm 2014-15. Debarshi Sengupta, Giám đốc tài chính của nhà sản xuất gà Farmer Focus, cho biết giá thức ăn hữu cơ, chiếm 65% chi phí nuôi gà, đã tăng gần 20% vào năm 2021. Ông dự đoán giá thức ăn hữu cơ sẽ tăng gần 40% vào cuối năm nay nếu xu hướng giá hiện tại vẫn tiếp tục. Doanh số bán thực phẩm hữu cơ của Mỹ tăng 12,8% trong năm ngoái lên 56,5 tỷ USD, so với mức tăng 4,6% trong năm 2019, theo Hiệp hội Thương mại Hữu cơ. Năm 2020, thực phẩm hữu cơ chiếm 5,8% doanh số bán thực phẩm vì đại dịch đã thúc đẩy người tiêu dùng ăn nhiều bữa hơn ở nhà và tập trung vào các sản phẩm được coi là có lợi cho sức khỏe. Nhà sản xuất gà Perdue Farms hy vọng khách hàng chấp nhận mức giá cao hơn một phần do chi phí thức ăn hữu cơ tăng. “Chúng tôi đang tìm cách tăng cường nguồn cung ngũ cốc hữu cơ trong nước để ngăn chặn sự thay đổi giá trong tương lai”, người phát ngôn của công ty Andrea Staub cho biết. Các công ty thực phẩm và người sử dụng thức ăn chăn nuôi đang đàm phán để mua đậu tương hữu cơ của Mỹ với giá cao từ vụ thu năm nay kéo dài đến vụ thu hoạch năm sau. Nguồn cung trong nước sẽ vẫn còn hạn chế, những người tham gia đàm phán cho biết. Nông dân Mỹ đã thu hoạch khoảng 170.074 mẫu (68.827 héc-ta) đậu tương hữu cơ vào năm 2019, tăng 37% so với năm 2016, theo USDA. Tổng sản lượng đậu tương, phần lớn là cây biến đổi gen, chiếm 86,4 triệu mẫu (khoảng 35 triệu héc-ta) trong năm nay. Tại Hoa Kỳ, nông dân phải trồng trọt trong ba năm mà không sử dụng các chất bị cấm, chẳng hạn như hạt giống biến đổi gen và thuốc trừ sâu tổng hợp, để được chứng nhận là hoàn toàn hữu cơ. Nicole Atchison, Giám đốc điều hành của nhà cung cấp nguyên liệu PURIS Holdings, công ty mua đậu tương hữu cơ của Mỹ, cho biết: “Đây không phải là một ngành công nghiệp có thể chuyển đổi trong một sớm một chiều”. (1 giạ đậu tương, lúa mì = 27,2 kg; 1 giạ ngô = 25,4 kg) Hương Lan (Theo …

Tin mớiadmin13/10/2021
Mỹ nói Việt Nam là 'cường quốc nhập khẩu thức ăn chăn nuôi'
Mỹ nói Việt Nam là ‘cường quốc nhập khẩu thức ăn chăn nuôi’

Việt Nam đã tăng cường nhập khẩu ngô làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi để phục vụ ngành sản xuất thịt, vốn đã tăng trưởng gần 30% trong thập kỷ qua, theo USDA. Tốc độ tăng trưởng nhanh Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), vấn đề này giống như đã từng xảy ra ở nhiều quốc gia, tăng trưởng tiêu thụ protein từ động vật đi đôi với sự phát triển kinh tế. Vì vậy Việt Nam đã chuyển sang nhập khẩu ngô làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi để phục vụ ngành sản xuất thịt, vốn đã tăng gần 30% trong thập kỷ qua. Đồ họa cơ cấu ngành sản xuất thịt tại Việt Nam (thịt lợn màu nâu, thịt gia cầm màu xanh nhạt và thịt bò màu xanh đậm) từ năm 2011 đến 2021 (đơn vị triệu tấn) và lượng tiêu thụ thịt (kg) trên đầu người. Nguồn: GSOV Đến nay, Việt Nam là nhà nhập khẩu ngô lớn nhất ở Đông Nam Á và dự báo sẽ là nhà nhập khẩu ngô lớn thứ năm trên toàn cầu vào các năm 2021/22. Mặc dù thịt lợn vẫn là loại thịt chính được người dân Việt Nam lựa chọn, nhưng lượng tiêu thụ thịt gà và thịt bò cũng đang tăng lên. Theo Báo cáo Thương mại Nông nghiệp Quốc tế của USDA, nuôi trồng thủy sản và động vật có vỏ hoặc các loài khác cũng đang được mở rộng tại Việt Nam và tạo thêm nhiều cơ hội cho các nhà xuất khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi vào thị trường tiềm năng này. Sản lượng ngô của Việt Nam bắt đầu tăng lên từ những năm 1980 và tiếp tục xu hướng này cho đến năm 2015. Tuy nhiên, nó đã đạt đến “điểm uốn” vào năm 2015/16 khi nhập khẩu vượt sản lượng lần đầu tiên kể từ những năm 1970. Sản lượng ngô bị sa sút và giảm dần do hoạt động sản xuất trong nước ngày càng kém khả năng cạnh tranh so với ngô nhập khẩu về cả giá thành và chất lượng, dẫn đến Việt Nam không khuyến khích mở rộng diện tích ngô. Cùng lúc, nguồn cung tại Argentina và Brazil trở nên dồi dào hơn và nhìn chung được giao dịch với giá thấp hơn ngô Mỹ, nên hai quốc gia này đã trở thành bạn hàng cung cấp phần lớn lượng ngô nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2013/14 đến nay. Bất chấp sự xuất hiện của dịch tả lợn châu Phi (ASF) năm 2019 tại Việt Nam, các doanh nghiệp vẫn không lo ngại khi tăng lượng nhập khẩu ngô về nước. Mặc dù năm 2021 số lượng ngô nhập về có giảm – mức giảm đầu tiên kể từ năm 2011/12 chủ yếu là do nguồn cung bị ảnh hưởng sương giá ở Brazil. Ngô Mỹ thường kém cạnh tranh hơn so với ngô Nam Mỹ do giá cả nhưng khi sản lượng ngô ở Argentina và Brazil bị ảnh hưởng tiêu cực bởi hạn hán trong niên vụ 2018/19, Việt Nam đã trở thành nhà nhập khẩu ngô lớn nhất của Mỹ. Cùng với ngô, các mặt hàng xuất khẩu phục vụ thức ăn chăn nuôi và thủy sản của Mỹ như bột ngũ cốc sấy khô, phụ phẩm lên men (DDGS) đã tăng trưởng mạnh trong thập kỷ qua. Việt Nam hiện là một trong những nhà nhập khẩu hàng đầu của mặt hàng này của Mỹ, nhất là việc sử dụng DDGS làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi có hàm lượng protein và năng lượng cao. Nhờ có cơ sở hạ tầng sản xuất ethanol tốt, Mỹ hiện là nước xuất khẩu mặt hàng DDGS lớn nhất thế giới và nhìn chung phải đối mặt với rất ít cạnh tranh. Xuất khẩu DDGS của Mỹ sang Việt Nam năm 2020 đạt gần 1,3 triệu tấn, trị giá hơn 275 triệu USD. Nhập khẩu tăng mạnh Dự báo, nhu cầu nhập khẩu ngô và phụ phẩm ngũ cốc làm thức ăn chăn nuôi của Việt Nam tiếp tục tăng cao, với mức gấp ba lần trong vòng 10 năm tới. Trong đó ngô chiếm phần lớn, còn lại là lúa mì và lúa mạch thể hiện qua xu hướng trong ngành sản xuất thịt. Cụ thể là mặc dù sản lượng thịt tổng thể ở Việt Nam giảm trong năm 2019 do tác động của ASF đối với sản xuất thịt lợn, nhưng sản lượng thịt gà và thịt bò đều tăng trưởng trong giai đoạn này. Đồ họa mô tả sản lượng ngô trong nước (xanh đậm) và lượng nhập khẩu ngô (xanh nhạt) của Việt Nam từ 2011 đến năm 2021 (đơn vị triệu tấn). Nguồn: USDA Theo USDA, hầu hết sản lượng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam đều thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng, trong đó khoảng 70% lượng cá nuôi và 80% lượng tôm nuôi của Việt Nam được sản xuất ở 13 tỉnh cực nam của đất nước. Số liệu thống kê của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam cho biết, xuất khẩu cá da trơn năm 2020 của Việt Nam đạt 1,5 tỷ USD, giảm so với năm trước do tác động của COVID-19. Dữ liệu hải quan chính thức cho thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu của tất cả các sản phẩm thủy sản của Việt Nam năm 2020 là 8,4 tỷ USD. Ngô và DDGS là hai trong số những thành phần phổ biến trong thức ăn chăn nuôi trên cạn. Các nghiên cứu, báo cáo về xu hướng thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản ở châu Á chỉ ra rằng các thành phần thức ăn chính vẫn được sử dụng ở Việt Nam bao gồm bột đậu nành, cám gạo và bột cá. Tuy nhiên một thử nghiệm do Hội đồng Ngũ cốc Hoa Kỳ tài trợ cho thấy, DDGS cũng có thể dễ dàng được bổ sung vào khẩu phần ăn của cá da trơn tại Việt Nam, nhằm có thể thay thế cho các nguồn protein khác. Theo USDA, bên cạnh sự phục hồi của sản xuất thịt lợn và mở rộng sản xuất thịt bò và thịt gia cầm, ngành nuôi trồng thủy sản đang phát triển của Việt Nam sẽ mang lại cơ hội lớn hơn cho các nhà xuất khẩu ngô và DDGS làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Kim …

Tin mớiadmin08/10/2021
Tài liệu Hội nghị trực tuyến Phát triển chăn nuôi các tháng cuối năm 2021 và kế hoạch năm 2022
Tài liệu Hội nghị trực tuyến Phát triển chăn nuôi các tháng cuối năm 2021 và kế hoạch năm 2022

Tài liệu Hội nghị trực tuyến Phát triển chăn nuôi các tháng cuối năm 2021 và kế hoạch năm …

Uncategorizedadmin07/10/2021
Chủ động phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi
Chủ động phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi

Nghệ An sở hữu tổng đàn gia súc lớn nhưng đa phần là chăn nuôi nông hộ, do đó công tác quản lý an toàn phòng chống dịch bệnh phải được đặt lên hàng đầu. Trên địa bàn Nghệ An chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm đa số, do đó công tác quản lý, phòng chống dịch bệnh phải được đặt lên hàng đầu. Ảnh: Anh Khôi. Quy mô càng lớn càng phải đề phòng Nghệ An có tổng đàn gia súc, gia cầm lớn với 788.000 con trâu bò, 926.000 con lợn và trên 26 triệu con gia cầm. Số lượng dù “nhiều nhưng không tinh” bởi hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, nông hộ, phân tán chiếm đến 85%. Nhiều vùng chủ yếu chăn thả rông, chuồng trại không đảm bảo, khâu tiêm phòng chưa đạt đã gây ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý và ứng phó phòng chống dịch bệnh. Bên cạnh đó, dù trên địa bàn có hàng chục cơ sở giết mổ (bao gồm 19 cơ sở giết mổ tập trung đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm) nhưng nhìn chung chính quyền cơ sở vẫn thiếu sự chỉ đạo, quản lý, đôn đốc, kiểm tra. Phần đa vẫn duy trì hoạt động giết mổ nhỏ lẻ, thủ công, chính những điều này ẩn chứa rất nhiều nguy cơ lây lan dịch bệnh. Hai nữa, Nghệ An là tỉnh có địa bàn rộng, lại nằm trên trục chính của các tuyến giao thông Bắc – Nam, do đó việc kiểm soát, hạn chế lây lan dịch bệnh từ các phương tiện giao thông càng khó khăn gấp bội. Là tỉnh có địa bàn rộng, lại nằm trên trục chính của các tuyến giao thông Bắc – Nam, vì thế quá trình kiểm soát vận chuyển phòng chống dịch bệnh gia súc trên địa bàn gặp nhiều khó khăn. Ảnh: Việt Khánh. Theo ghi nhận của NNVN, thực hiện Nghị quyết số 22/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh Nghệ An thì nhân viên thú y thuộc Ban NN-PTNT không nằm trong chức danh những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và không có chế độ phụ cấp. Trong thế “liệu cơm gắp mắm”, công tác chăn nuôi và thú y đành giao cho các chức danh như: công chức Địa chính – Nông nghiệp hoặc Hội Nông dân, Đoàn thanh niên… theo hình thức kiêm nhiệm, vì thế hoạt động kém hiệu quả. Xuất phát từ thực tiễn, lộ trình đến 2025 Nghệ An đặt mục tiêu duy trì ổn định đàn trâu khoảng 268.000 con, đàn bò thịt từ 445.000 – 450.000 con, đàn bò sữa đạt 90.000 con. Trên tinh thần đó sẽ từng bước cơ cấu lại phương thức chăn nuôi, dần chuyển dịch theo quy mô công nghiệp, trang trại. Mục tiêu của ngành thú y tỉnh là chủ động khống chế hiệu quả dịch bệnh truyền nhiễm trên đàn vật nuôi theo nguyên tắc “Thực hiện phòng bệnh là chính, chữa bệnh kịp thời, chống dịch khẩn trương; phát hiện nhanh, chính xác, xử lý triệt để”. Nguyên nhân nữa xuất phát từ nhân lực chuyên ngành còn mỏng, đặc biệt cán bộ thú y cấp xã, lực lượng này vừa thiếu, vừa yếu, chưa kể phụ cấp thấp nên không thể níu chân họ nên hiện đang lộ ra nhiều lỗ hổng. Cẩn trọng không thừa Dịch lở mồm long móng (LMLM) trên địa bàn tỉnh Nghệ An có xu hướng giảm dần. Năm 2017 xảy ra khá nhiều ổ dịch với 446 con gia súc mắc bệnh. Từ  2018-2020 dịch chủ yếu xảy ra trên đàn trâu bò nhưng quy mô nhỏ lẻ, trong diện hẹp. Trong 6 tháng đầu năm 2021 diễn biến chung được kiểm soát tốt với chỉ tổng cộng 5 ổ dịch thuộc 29 hộ của 4 huyện Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Diễn Châu và Tân Kỳ, số trâu, bò mắc bệnh chỉ 70 con. Qua theo dõi, phần đa các trường hợp bị bệnh là do không thực hiện tiêm phòng đầy đủ, không có đủ miễn dịch để chống chọi trước sự xâm nhập của virus. Ngoài ra, nhiều hộ chăn nuôi tự phát không bảo đảm vệ sinh thú y và vệ sinh môi trường, gia súc mua về không có nguồn gốc rõ ràng… cũng là nguyên nhân. Dịch lở mồm long móng được ngành chăn nuôi và thú y Nghệ An kiểm soát tốt trong những năm qua. Ảnh: Việt Khánh. Ông Đặng Văn Minh – Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y Nghệ An khẳng định: “Để chủ động phòng, chống dịch bệnh LMLM trên gia súc, người chăn nuôi cần chú ý nắm bắt thông tin về diễn biến thời tiết chủ động phương án che chắn chuồng trại, tránh mưa rét, nhiễm lạnh. Tuyệt đối hạn chế để chuồng trại, vật nuôi bị ngấm, ứ đọng nước, đặc biệt là chuồng nuôi bê nghé”. Ngành chăn nuôi khuyến cáo, tiêm phòng vacxin LMLM là biện pháp tối ưu để nâng cao hệ thống miễn dịch, do đó người nuôi cần tuân thủ nghiêm túc cho đàn gia súc của mình. Đồng thời thực hiện tốt “5 không” trong phòng chống dịch: Không dấu dịch; Khi có dịch báo ngay cho thú y và chính quyền; Không bán chạy gia súc mắc bệnh; Không giết mổ gia súc mắc bệnh; Không vứt xác chết và chất thải gia súc ra môi trường. Cùng với đó, cần tăng cường cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho đàn vật nuôi nhằm nâng cao sức để kháng, qua đó chống lại mầm bệnh xâm nhập. Khi phát hiện có những triệu chứng bất thường (bỏ ăn, không nhai lại, nước dãi nhiều và trắng như bọt xà phòng, vành móng có vết loét, đi lại khó khăn) phải báo ngay cho cán bộ thú y cơ sở đến để có biện pháp can thiệp kịp thời. Dựa theo tình hình thực tại, dễ thấy công tác quản lý và ứng phó dịch bệnh trên vật nuôi nói chung đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Trông chờ đơn thuần vào quá trình xoay xở của lực lượng chức năng chỉ là phương án trước mắt, lâu dài nhất thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ từ chính quyền các cấp. Việt …

Tin mớiadmin14/09/2021
THÔNG BÁO triển khai Chương trình giống gốc vật nuôi theo Quyết định số 3639/QĐ-BNN-TC ngày 26/8/2021 về việc phê duyệt kế hoạch nhập khẩu giống gốc vật nuôi năm 2021 (đợt 3)

Cục chăn nuôi được Bộ Nông nghiệp và PTNT giao đầu mối triển khai Chương trình giống gốc vật nuôi theo Quyết định số 3639/QĐ-BNN-TC ngày 26/8/2021 về việc phê duyệt kế hoạch nhập khẩu giống gốc vật nuôi năm 2021 (đợt 3) cụ thể như sau: Giống nhập ĐVT Số lượng       Vịt Star53 Heavy ông bà con 1.105 – Trống con 215 – Mái con 890 Xin mời các cơ sở chăn nuôi (khu vực phía Bắc, đã và đang nuôi giữ giống gốc và cung ứng sản phẩm giống gốc vật nuôi) có đủ điều kiện năng lực về con người, cơ sở vật chất đáp ứng Quyết định số 2317/QĐ-BNN-CN ngày 07/6/2017 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc phê duyệt tiêu chí đối với cơ sở nuôi giữ giống gốc, sản xuất và cung ứng sản phẩm giống gốc vật nuôi và giống gốc thủy sản, đăng ký tham gia bằng văn bản có chữ ký và đóng dấu gửi về Cục Chăn nuôi – Bộ nông nghiệp và PTNT, số 16, Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội từ 16 giờ ngày 27/8 đến hết 16 giờ ngày 31/8/2021. (Liên hệ chi tiết với bà Trần Thị Ngọc Lan (ĐT: 0961186668, E.mail: ngoclanmanh@yahoo.com), Phòng giống vật nuôi – Cục Chăn nuôi.     Hà Nội, Ngày 27 tháng 8 năm 2021 CỤC CHĂN …

Thông báoadmin27/08/2021
Thông báo về việc phê duyệt kế hoạch lưu giữ, sản xuất và cung ứng sản phẩm giống gốc vật nuôi năm 2021 (đợt 2)

THÔNG BÁO Cục chăn nuôi được Bộ Nông nghiệp và PTNT giao đầu mối triển khai Chương trình giống gốc vật nuôi theo Quyết định số 3490/QĐ-BNN-TC ngày 9/8/2021 về việc phê duyệt kế hoạch lưu giữ, sản xuất và cung ứng sản phẩm giống gốc vật nuôi năm 2021 (đợt 2) gồm chủng loại và số lượng cụ thể như sau: Nuôi giữ. TT Loại giống gốc ĐVT Số lượng Khu vực nuôi giữ đàn giống gốc 1 Lợn Yorkshire, Landrace nái GG phối hợp với lợn đực kiểm tra năng suất. con 300 Miền Bắc 2 Lợn đực kiểm tra năng suất con 50 Miền Bắc 3 Gà Lương Phượng mái thuần SS con 1.000 Miền Bắc 6 Gà Móng mái thuần SS con 1.500 Toàn Quốc 7 Gà Tiên Yên mái dòng thuần SS con 1.700 Toàn Quốc 8 Tằm thầu dầu lá sắn thuần ổ 5.500 Toàn Quốc 9 Lợn Móng cái – CD nái thuần sinh sản con 100 Toàn Quốc Xin mời các cơ sở chăn nuôi có đủ điều kiện năng lực về con người, cơ sở vật chất và đàn giống gốc vật nuôi đáp ứng Quyết định số 2317/QĐ-BNN-CN ngày 07/6/2017 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc phê duyệt tiêu chí đối với cơ sở nuôi giữ giống gốc, sản xuất và cung ứng sản phẩm giống gốc vật nuôi và giống gốc thủy sản, Quyết định số 675/QĐ-BNN-CN ngày 4/4/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT đăng ký tham gia thực hiện việc nuôi giữ đàn giống gốc và cung ứng sản phẩm giống gốc từ 1/1 đến 31/12/2021. Đăng ký tham gia bằng văn bản có chữ ký và đóng dấu gửi về Cục Chăn nuôi – Bộ nông nghiệp và PTNT, số 16, Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội từ 16 giờ ngày 9/8 đến hết 16 giờ ngày 13/8/2021. (Liên hệ chi tiết với bà Trần Thị Ngọc Lan (ĐT: 0961186668, E.mail: ngoclanmanh@yahoo.com), Phòng giống vật nuôi – Cục Chăn nuôi.     Hà Nội, Ngày 09 tháng 8 năm 2021 CỤC CHĂN …

Thông báoadmin09/08/2021
Tuyệt đối không để đứt gãy các chuỗi cung ứng nông sản
Tuyệt đối không để đứt gãy các chuỗi cung ứng nông sản

Các địa phương cần chủ động rà soát kế hoạch sản xuất và cụ thể hóa danh mục vật tư nông nghiệp trong điều kiện dịch Covid-19. Thực hiện Nghị quyết số 78/NQ-CP ngày 20/7/2021 của Chính phủ về phòng, chống dịch bệnh Covid-19 và bảo đảm lương thực, thực phẩm cho nhân dân tại các địa phương thực hiện giãn cách xã hội, Bộ NN-PTNT đề nghị UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ quan, ban ngành trực thuộc chủ động rà soát kế hoạch sản xuất và cụ thể hóa danh mục vật tư nông nghiệp trong điều kiện dịch Covid-19. Cụ thể, các đơn vị cần rà soát tình hình, kế hoạch sản xuất các loại nông sản trên địa bàn; có phương án cụ thể, phù hợp đối với các loại cây trồng, vật nuôi, thủy sản bảo đảm thúc đẩy sản xuất. Đối với các loại nông sản vào vụ thu hoạch cần thiết huy động các lực lượng tham gia thu hoạch, vận chuyển, tiêu thụ, tuyệt đối không để đứt gãy các chuỗi cung ứng nông sản, hàng hoá nhằm bảo đảm ổn định nguồn cung lương thực, thực phẩm cho người dân nhất là tại các địa phương thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ và phục vụ xuất khẩu. Cùng với đó cần thường xuyên rà soát, cập nhật Danh mục các mặt hàng vật tư nông nghiệp (gồm: nguyên liệu, vật liệu, phụ liệu, trang thiết bị, thuốc, vacxin thú y…) phục vụ sản xuất chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng trọt, lâm nghiệp và chế biến nông sản, phòng, chống dịch bệnh động vật, kiểm dịch động thực vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm. Đồng thời cần linh hoạt để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người và phương tiện vận chuyển các loại vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất và chế biến nông sản. Song song tạo điều kiện thuận lợi trong sản xuất, vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm của các cơ sở có chuỗi sản xuất khép kín, đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu như Masan, Japfa, CP,… bảo đảm nguồn cung ứng kịp thời các mặt hàng thực phẩm thiết yếu. Phạm …

Tin mớiadmin23/07/2021
Công văn số 4150/BNN-CN ngày 20 tháng 7 năm 2021 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc tháo gỡ khó khăn trong vận chuyển vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất và chế biến nông sản

Kính gửi: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận được phản ánh của nhiều doanh nghiệp chăn nuôi, thủy sản, trồng trọt và lâm nghiệp về việc gặp khó khăn khi lưu thông, vận chuyển vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất và chế biến nông sản,… tại một số địa phương đang có dịch Covid-19. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 789/CĐ-TTg ngày 05 tháng 6 năm 2021 về áp dụng các biện pháp phòng chống dịch bệnh Covid-19 và phát triển kinh tế để thực hiện mục tiêu kép, đồng thời góp phần thúc đẩy sản xuất đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu nông sản; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ quan, ban ngành trực thuộc tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người và phương tiện vận chuyển các loại vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất và chế biến nông sản được lưu thông trên địa bàn của tỉnh và liên tỉnh khi đã tuân thủ các quy định về phòng, chống dịch Covid-19 của Bộ Y tế. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trân trọng đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quan tâm chỉ đạo các đơn vị chức năng thực hiện các nội dung nêu …

Tin mớiadmin21/07/2021
Tổ công tác đặc biệt của Bộ NN-PTNT bắt tay ngay vào việc
Tổ công tác đặc biệt của Bộ NN-PTNT bắt tay ngay vào việc

Chiều 19/7, Bộ NN-PTNT tổ chức hội nghị trực tuyến tại đầu cầu hai miền, nhằm thúc đẩy sản xuất, cung ứng nông sản trong điều kiện dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Lâm Đồng đủ khả năng cung ứng 6.000-7.000 tấn rau/ngày Theo ông Nguyễn Văn Sơn, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Lâm Đồng, Sở đã liên hệ với TP.HCM để hỗ trợ nông sản cho các vùng cách ly. “Hiện nay, khả năng cung ứng mỗi ngày của Lâm Đồng cho thành phố khoảng từ 6.000-7.000 tấn rau”, ông Sơn cho biết. Cũng theo ông Sơn, hiện giá rau đang tăng cao chứ không có chuyện rẻ và dư thừa như một số thông tin đã đưa trước đó. Hiệp hội bán lẻ hiến kế các chung cư nên mở thêm điểm bán hàng Theo đại diện Hiệp hội bán lẻ, để thực hiện quy định “3 tại chỗ”, các sản phẩm đóng gói chế biến bị giảm nguồn cung tới 50% (do một số nhà máy phải đóng cửa). Phía Hiệp hội mong muốn chính quyền địa phương khi áp dụng giãn cách nên bám sát tình hình thực tiễn để chỉ đạo, không để hàng hóa ùn ở nơi sản xuất và thiếu ở nơi bán hàng. Hiệp hội đưa ra đề xuất các khu chung cư nên mở thêm nhiều điểm bán hàng để phục vụ kịp thời nhu cầu cho nhân dân. Cần có hướng dẫn cụ thể trong tất cả các khâu cung ứng nông sản Từ khi thực hiện Chỉ thị 16, các doanh nghiệp thu mua rau quả chưa được hướng dẫn cụ thể. Tại các nhà máy sơ chế, công nhân rất lo ngại do chưa có hướng dẫn lao động trong điều kiện dịch bệnh. Thêm vào đó, các vùng bị phong tỏa dẫn đến thương lái không thể vào thu mua, tiêu thụ, làm thị trường bị thiếu hụt. Đại diện Hiệp hội Rau quả Việt Nam kiến nghị có biện pháp, hướng dẫn cụ thể trong tất cả các khâu như thu hoạch, nhà máy sơ chế, vận chuyển tiêu thụ. Đồng quan điểm, Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhấn mạnh các doanh nghiệp cần phối hợp với các Sở NN-PTNT để hình thành chuỗi an toàn cung ứng rau củ quả. Cần Thơ kiến nghị duy trì chợ truyền thống Khó khăn của Cần Thơ chủ yếu là vận chuyển hàng hóa. Lý do là xe vận chuyển phải đi qua nhiều trạm kiểm soát dịch. Ngoài ra, việc chăn nuôi từ con giống, thức ăn chăn nuôi cũng khó. Đầu cầu Cần Thơ cho biết, tỉnh kiến nghị các tỉnh, địa phương duy trì chợ truyền thống để giúp bà con nông dân tiêu thụ được nông sản. Thứ hai, giá phân bón đang tăng quá cao, nên tỉnh khó phối hợp với Cơ quan Trung ương kiểm soát dc giá thực phẩm, duy trì sản xuất ổn định. Thứ ba, “mô hình vận chuyển hàng hóa, con giống đi các tỉnh cần cơ chế ưu tiên”, phía đầu cầu Cần Thơ góp ý. Lý do là hiện tại một số con giống chưa thu hoạch được, cần có quy trình chung cho các tỉnh nuôi thủy sản, giúp thông thương cho các tỉnh. “Chẳng hạn, đi từ miền Trung đến ĐBSCL phải mất quá nhiều thủ tục, chưa có một cơ chế ưu tiên, luồng xanh cho nông sản”, phía đầu cầu Cần Thơ nêu dẫn chứng. Đồng Tháp mong muốn Bộ NN-PTNT đứng ra tạo chuỗi thu mua – tiêu thụ khép kín Đầu cầu Đồng Tháp cho biết tỉnh cố gắng kết nối các doanh nghiệp để tạo luồng đi cho nông sản. Ngoài ra, phối hợp với Cục Chế biến để tìm đầu ra cho quả nhãn. “Đề nghị Bộ đứng ra, tạo một chuỗi thu mua, tiêu thụ khép kín cho các địa phương, giúp tiêu thụ nhanh hơn”, phía Đồng Tháp cho biết. “Hiện tỉnh đang học tập kinh nghiệm của Bắc Giang trong việc thu hoạch, bao tiêu đầu ra quả vải”. Trà Vinh dồi dào hàng hóa Theo đại diện Sở NN-PTNT tỉnh Trà Vinh, hiện tỉnh chưa có sản phẩm nào bị ứ đọng hay chưa tiêu thụ được. Vị đại diện cho biết TP.HCM nói thiếu nhưng tỉnh lại đang dồi dào hàng hóa. Cụ thể, lúa gạo đảm bảo 70% nhu cầu tiêu thụ ngoài tỉnh, chăn nuôi đảm bảo 50% nhu cầu tiêu thụ ngoài tỉnh, thủy sản đảm bảo 60-65%. Tuy nhiên, cũng theo đại diện Sở NN-PTNT Trà Vinh, trong thời gian TP.HCM giãn cách, việc tiêu thụ nông sản tắc nghẽn là do các lái xe không dám thực hiện vận chuyển do sợ dịch bệnh. “Mong TP.HCM cho các tỉnh biết quy trình đưa xe nông sản tiêu thụ vào thành phố. Thêm vào đó, kiến nghị TP.HCM có kênh kết nối cung cầu tiêu thụ”, vị đại diện phát biểu. TP.HCM đã rà soát nhu cầu của người dân Giám đốc Sở Công Thương TP.HCM Bùi Tá Hoàng Vũ khẳng định đã rà soát nhu cầu của người dân thành phố. Theo đó, rau dự kiến thiếu khoảng 1.500 tấn, nhưng trứng chỉ thiếu khoảng 300.000-400.000 quả. Số liệu trên được thống kê thông qua 9 đầu mối kết nối. Ngoài ra, “những xe từ miền Đông vào thành phố vẫn thuận lợi và được tạo điều kiện tối đa”, ông Vũ cho biết thêm. Tây Ninh cung cấp 20.000 tấn rau, 40.000 tấn lúa cho TP.HCM “Số nông sản nói trên sẽ được tỉnh Tây Ninh cung cấp cho TP.HCM trong thời gian 14 ngày tới”, đại diện Sở NN-PTNT tỉnh Tây Ninh cho biết. Tuy nhiên, tỉnh đang gặp khó khăn trong việc lưu thông hàng hóa. Về lâu dài sẽ có ách tắc sản xuất do các nhà máy đóng cửa. Dự báo hàng hóa sẽ bị thiếu. Tỉnh đã động viên bà con tiếp tục sản xuất. Về vấn đề này, Thứ trưởng Trần Thanh Nam khẳng định sẽ làm việc với Bộ Công Thương để cấp luồng xanh, tạo điều kiện cho việc vận chuyển nông sản. TP.HCM cố gắng trung chuyển hàng hóa không cần thông qua chợ đầu mối Để làm được điều này, thành phố dự kiến kết nối với các HTX tại các tỉnh thành để trung chuyển hàng hóa nhanh chóng. Bên cạnh đó, thành phố cũng cố gắng mở lại các chợ đầu mối, chợ truyền thống. Ông Trần Lâm Sinh, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đồng Nai, cho biết, từ nay đến cuối năm, Đồng Nai sẽ làm việc với TP.HCM để khi các chợ đầu mối mở lại sẽ thông tin chi tiết chính xác cho tiểu thương. Tỉnh Đồng Nai cũng tích cực điều phối thông tin nông sản thừa thiếu, chú trọng việc phòng ,chống dịch trong các cơ sở giết mổ. Về phía TP.HCM, theo ông Đinh Minh Hiệp, Giám đốc Sở NN-PTNT TP.HCM, sở đã đề xuất việc đặt hàng online thông qua Bưu điện Thành phố. “Hiện nay, thành phố ưu tiên tiêm vacxin cho hơn 300 nhân viên cơ sở giết mổ trên địa bàn, do đó có thể đảm bảo nhu cầu về thịt”, ông Hiệp cho biết. Tuy nhiên, nhu cầu của người dân TP.HCM vẫn thiếu khoảng 3 triệu trứng gà, hơn 2.000 tấn rau củ. Phân bón tăng giá dẫn đến giá rau củ quả sẽ tăng 10%. Thức ăn chăn nuôi cũng tăng nên giá thịt gia súc sẽ tăng nhẹ. 5 việc cần làm ngay của các tỉnh thành phía Nam Phát biểu tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Trần Thanh Nam nhấn mạnh 5 việc cần làm ngay của các tỉnh thành phía Nam để đảm bảo chuỗi cung ứng nông sản. Một là, cần theo dõi dự báo tình hình nguồn cung từ nay đến cuối năm. Các tỉnh có 2 nhiệm vụ để cung ứng sản xuất: Thứ nhất phải đảm bảo cung ứng cho địa bàn, thứ hai là tiếp tục hỗ trợ cho TP.HCM. Hai là, các tỉnh cần báo cáo tổ công tác tình hình cơ sở sản xuất giết mổ. Nếu 1 cơ sở chế biến giết mổ có nhân viên dính Covid-19 sẽ làm đứt gãy cả chuỗi cung ứng. Các tỉnh cần rà soát lại, đặc biệt là TP.HCM. Ba là, Bộ NN-PTNT và Bộ Công Thương đã tạo điều kiện tối đa để cung ứng nông sản, vậy thì các tỉnh không những phải cung ứng sản phẩm tiêu thụ mà còn cần tập trung vào vật tư để sản xuất. Bốn là, các tỉnh nên phối hợp với Bộ Công Thương để củng cố tình hình phát triển chuỗi cung ứng nông sản. Nên hình thành chuỗi thể hiện vai trò của Nhà nước. Năm là, nguồn nhân lực phục vụ sản xuất và lưu thông đang thiếu hụt, cần phải tháo gỡ sớm. Theo Bộ NN-PTNT, tại TP.HCM, giá lương thực, thực phẩm trong tháng 6 và nửa đầu tháng 7/2021 đều tăng so với các tháng trước đó. Cụ thể, giá lương thực tăng 0,46%; giá thực phẩm tăng 0,37% so tháng trước, trong đó rau củ quả tăng mạnh do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp nên việc vận chuyển hàng hóa khó khăn, nguồn rau về chợ giảm (bắp cải tăng 18,53%, su hào tăng 5,28%, đậu cô ve tăng 22,78%, rau muống tăng 5,38%, rau tươi khác tăng 5,63%). Trong khi đó, giá thịt các loại có xu hướng giảm (thịt heo giảm 1,92%; thịt bò giảm 0,75%), giá các loại trứng tăng 2,36%-3,41%, giá nhiều mặt hàng thủy hải sản đa số tăng 6%-20% vì lượng thủy hải sản tươi về chợ bình quân giảm 10% so tháng trước. Nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn TP.HCM ước tính khoảng 10 triệu người. Cụ thể: Các doanh nghiệp bình ổn thị trường: chiếm 30% – 40% thị phần. Thương nhân các chợ đầu mối (mặt hàng rau, củ, quả, thủy hải sản, thịt gia súc) chiếm 60% -70% thị phần. Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khác chiếm 10% – 20% thị phần. Để thực hiện công tác phòng, chống dịch, trong trường hợp cần điều chuyển hàng hóa bằng các kênh giao dịch phù hợp, để đảm bảo hàng hóa lưu thông thông suốt đến với người tiêu dùng trên địa bàn, Bộ NN-PTNT khuyến cáo chuyển dịch năng lực cung ứng. Cụ thể: Các chợ đầu mối (mặt hàng rau, củ, quả, thủy hải sản, thịt gia súc) chiếm 25%-30% thị phần. Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khác chiếm 20% – 30% thị phần. Các doanh nghiệp bình ổn thị trường đẩy mạnh sản xuất, tăng cường dự trữ, đảm bảo cung ứng hàng hóa tăng 50%. Về các chuỗi cung ứng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn TP. HCM, hiện có 2.833 tổng điểm cung ứng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn. Trong số này: 106 Các siêu thị, 2.616 Hệ thống cửa hàng tiện lợi, và 111 Hệ thống các Chợ truyền thống. Nhìn chung, người dân tập trung mua lương thực, thực phẩm từ hệ thống siêu thị và các cửa hàng tiện lợi. Do phải đáp ứng điều kiện giãn cách, cấm tụ tập đông người nên người dân vẫn phải xếp hàng lâu mới mua được hàng hóa thiết yếu. Việc thu mua nông sản của các thương lái, hiện hoạt động chậm lại, thậm chí đóng cửa do dịch bệnh. Giá nhiều nông sản giảm mạnh khi các đợt dịch bùng phát trùng với thời điểm vào vụ thu hoạch rộ. Vấn đề đáng lưu tâm nhất là lưu thông hàng hóa. Các xe vận chuyển tiêu thụ nông sản khi lưu thông trên các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ phải tuân thủ kiểm dịch, kiểm tra nhiều tại các chốt nên tăng chi phí vận chuyển. Việc lưu thông, vận chuyển hàng hóa khó khăn do nhiều tỉnh, thành phố yêu cầu lái xe khi đi ra từ vùng dịch phải thực hiện cách ly nên đã khiến các thương lái tại các tỉnh lo ngại khi vào địa bàn tỉnh để thu mua nông sản. Container vận chuyển khan hiếm, giá thành vận chuyển cao do nhiều lái xe lo ngại việc phải thực hiện cách ly thời gian dài sau khi từ vùng có dịch trở về. Nhóm …

Tin mớiadmin19/07/2021
Tài liệu Hội nghị tổng kết thực hiện Chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020

Thông báoadmin09/06/2021
Anh: Thu nhập trang trại giảm 20% trong một năm do thời tiết, Covid-19 và Brexit
Anh: Thu nhập trang trại giảm 20% trong một năm do thời tiết, Covid-19 và Brexit

Khó khăn gia tăng đối với các nông dân nhỏ khi gần một tỷ bảng Anh đã biến mất khỏi nền kinh tế nông nghiệp của Vương quốc Anh vào năm 2020. Tổng thu nhập từ nông nghiệp, được chính phủ Anh tính toán hàng năm, đã giảm từ gần 5,2 tỷ bảng vào năm 2019 xuống chỉ còn hơn 4,1 tỷ bảng vào năm 2020. Ảnh: Alamy. Thu nhập từ nông trại đã giảm đáng kể vào năm 2020, do thời tiết xấu kết hợp với tác động của đại dịch Covid-19 và các vấn đề liên quan đến Brexit đã quét sạch gần một tỷ bảng Anh khỏi nền kinh tế nông nghiệp của Vương quốc Anh và gia tăng khó khăn cho nhiều nông dân nhỏ. Tổng thu nhập từ nông nghiệp, được chính phủ Anh tính toán hàng năm, đã giảm từ gần 5,2 tỷ bảng vào năm 2019 xuống chỉ còn hơn 4,1 tỷ bảng vào năm 2020, giá trị thấp nhất tính theo giá trị thực kể từ năm 2007. Vụ phong tỏa do đại dịch Covid-19 vào mùa xuân năm 2020 khiến nhiều nông dân quay cuồng khi thị trường chính của họ trong cung cấp hàng hóa cho dịch vụ ăn uống đã biến mất chỉ sau một đêm. Nông dân đã phải đổ sữa tươi xuống cống khi họ phải vật lộn để tập trung vào việc cung cấp cho các siêu thị. Thời tiết khắc nghiệt cũng gây ra một thiệt hại lớn, với mưa lớn và bão đầu năm 2020 đã ngăn cản việc trồng trọt trước một trong những mùa xuân khô hạn nhất được ghi nhận. Vụ thu hoạch lúa mì giảm mạnh và các cây trồng chủ lực khác như khoai tây bị ảnh hưởng. Nhìn chung, giá trị sản lượng cây trồng đã giảm 999 triệu bảng, mặc dù giá trị vật nuôi tăng khoảng 490 triệu bảng trong năm. Tom Bradshaw, Phó Chủ tịch của Hiệp hội Nông dân Quốc gia, cho biết: “Biến động là thứ mà nông dân phải quen để thích nghi nhưng nó không làm cho việc ứng phó dễ dàng hơn, đặc biệt là khi tiếp tục có quá nhiều sự không chắc chắn về những thay đổi trong tương lai đối với chính sách nông nghiệp và sự thiếu rõ ràng đối với các chương trình [trợ cấp] mới”. Nông dân đang phải đối mặt với việc cắt giảm nghiêm ngặt các khoản trợ cấp của họ, vì họ không còn nhận được các khoản thanh toán theo chính sách nông nghiệp chung của EU và chính phủ đang dần áp dụng một hệ thống quản lý đất theo môi trường mới, theo đó nông dân sẽ được trả tiền để cung cấp “hàng hóa công cộng” như trồng cây, cải tạo đất, bảo vệ động vật hoang dã và các biện pháp phòng chống lũ lụt. Tuy nhiên, chi tiết về cách thức hoạt động của hệ thống mới vẫn chưa rõ ràng và nhiều nông dân đang phải đối mặt với sự bất ổn gia tăng do tác động của Brexit và các thỏa thuận thương mại mới. Một thỏa thuận thương mại sắp đạt được với Úc có khả năng mở cửa thị trường thịt của Vương quốc Anh cho một dòng thịt bò Úc giá rẻ, một số được sản xuất bằng các phương pháp có thể là bất hợp pháp ở Vương quốc Anh. Tuần trước, chính phủ Anh đã công bố khoản thanh toán mới lên tới 100.000 bảng cho những nông dân nghỉ hưu, với một số ưu đãi cho những người mới tiếp quản. Nhưng nhiều người lo ngại rằng các khoản thanh toán sẽ thúc đẩy sự hợp nhất hơn nữa trong ngành nông nghiệp ở Anh, ép các nông dân nhỏ lẻ ủng hộ các doanh nghiệp nông nghiệp thâm canh lớn và các trang trại nhà máy. Tim Farron, người phát ngôn của Đảng Dân chủ Tự do về môi trường, lương thực và các vấn đề nông thôn, cho biết: “Đảng Bảo thủ đang đưa những người nông dân Anh và môi trường của chúng ta tới thất bại. Họ đang cắt giảm các khoản thanh toán hỗ trợ, đưa ra các giao dịch thương mại mà không có đủ đảm bảo và họ khuyến khích những người nông dân có kinh nghiệm rời đi mà không đảm bảo sẽ có người thay thế họ. “Thu nhập giảm mạnh này là do Đảng Bảo thủ quản lý kém. Đảng Bảo thủ phải thay đổi cách giải quyết ngay bây giờ trước khi chúng ta thấy thu nhập giảm hơn nữa và nông dân phải bỏ sản xuất”, Tim nhấn mạnh. Số lượng trang trại gia đình nhỏ ở Anh đã giảm hơn 100.000 trang trại kể từ năm 1990 và nhiều nông dân nhỏ được tờ Guardian liên hệ cho thấy mối lo ngại về một cuộc di cư lớn hơn khi các thỏa thuận thương mại mới hậu Brexit được ký kết. Thái tử Charles đã viết trên tờ Guardian trong tuần vừa rồi rằng những người nông dân nhỏ là điều cần thiết cho một nền nông nghiệp tương lai bền vững sẽ giúp giảm khí nhà kính và nuôi dưỡng nông thôn. Ông kêu gọi các hộ nông dân nhỏ ở Anh và trên thế giới đoàn kết trong các hợp tác xã để tăng sức ảnh hưởng của họ và thúc đẩy các phương pháp canh tác thân thiện với môi trường. Hương Lan (Theo The …

Tin mớiadmin01/06/2021
Tạm ngừng nhập khẩu lợn thịt từ Thái Lan
Tạm ngừng nhập khẩu lợn thịt từ Thái Lan

Trong quá trình thực hiện kiểm dịch nhập khẩu lô lợn sống 980 con nhập khẩu từ Thái Lan vào Việt Nam để giết mổ làm thực phẩm, cơ quan kiểm dịch đã phát hiện lô lợn bị nhiễm bệnh dịch tả lợn châu Phi… Ngày 28/5/2021, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến ký Công văn số 3157/BNN-TY gửi Đại sứ quán Thái Lan tại Hà Nội, thông báo về việc: Tạm ngừng nhập khẩu lợn sống để giết mổ làm thực phẩm từ Thái Lan vào Việt Nam. Công văn dẫn thông báo của cơ quan kiểm dịch thuộc Cục Thú y Việt Nam, ngày 19/5/2021, trong quá trình thực hiện kiểm dịch nhập khẩu lô lợn sống 980 con nhập khẩu từ Thái Lan vào Việt Nam để giết mổ làm thực phẩm, cơ quan kiểm dịch đã phát hiện lô lợn bị nhiễm bệnh Dịch tả lợn châu Phi.  Vì vậy, “Để ngăn ngừa bệnh Dịch tả lợn châu Phi xâm nhập vào Việt Nam làm lây lan dịch bệnh cho đàn lợn nuôi trong nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trân trọng thông báo tới Đại sứ quán Thái Lan tại Hà Nội về việc Việt Nam tạm ngừng nhập khẩu lợn sống để giết mổ làm thực phẩm từ Thái Lan kể từ ngày 30/6/2021. “Đối với những lô lợn sống đã được doanh nghiệp hai nước ký hợp đồng mua bán và sẽ vận chuyển về Việt Nam đến hết ngày 29/6/2021, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vẫn tiếp tục cho phép nhập khẩu vào Việt Nam và sẽ chỉ đạo cơ quan thú y tổ chức kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm an toàn dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm”, Công văn nêu rõ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao Cục Thú y phối hợp với Cơ quan có thẩm quyền của Thái Lan đánh giá tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nuôi để giết mổ làm thực phẩm của Thái Lan, xem xét cho phép nhập khẩu trở lại khi các điều kiện về an toàn dịch bệnh được bảo đảm. Trước đó, năm 2020, do nguồn cung trong nước thiếu hụt trầm trọng khiến giá thịt lợn tại Việt Nam tăng quá cao, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cũng đã ký văn bản cho phép lợn sống từ Thái Lan được nhập khẩu vào Việt Nam để giết mổ làm thực phẩm hoặc được nuôi bắt đầu từ ngày 12/6/2020. Văn bản này nêu rõ, khi ngành chăn nuôi trong nước đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu tiêu dùng thịt lợn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ dừng nhập khẩu và quyết định này được thông báo cho các doanh nghiệp trước 1 tháng. Theo Cục Thú y, năm 2020, Việt Nam nhập khẩu gần 226 nghìn tấn thịt lợn các loại, tăng 260% so với năm 2019. Nguồn nhập chủ yếu là từ các nước Nga, Ba Lan, Brazil, Canada, Mỹ, Đức, Tây Ban Nha. Riêng về nhập khẩu lợn sống từ Thái Lan, thống kê của Cục Thú y cho thấy, từ giữa tháng 6/2020 đến ngày 13/1/2021 đã có hơn 503 nghìn con lợn được nhập về Việt Nam để giết mổ làm thực phẩm. Trong quý I/2021, Việt Nam nhập khẩu 34,65 nghìn tấn thịt lợn (mã HS 0203), trị giá 80,07 triệu USD, tăng 101,4% về lượng và tăng 102,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020. Nga, Canada, Brazil, Ba Lan và Đan Mạch là 5 thị trường lớn nhất cung cấp thịt lợn cho Việt Nam. Từ đầu năm đến nay, lợn sống vẫn tiếp tục được nhập từ Thái Lan về, với sống lượng ước tính mỗi tháng khoảng 30 nghìn đến 50 nghìn …

Tin mớiadmin31/05/2021
Công văn Số: 82 /SPS-BNNVN ngày 27 tháng 5 năm 2021 V/v Thông báo của Thái Lan tạm dừng nhập khẩu gia cầm sống và thịt gia cầm từ Việt Nam
Công văn Số: 82 /SPS-BNNVN ngày 27 tháng 5 năm 2021 V/v Thông báo của Thái Lan tạm dừng nhập khẩu gia cầm sống và thịt gia cầm từ Việt Nam

Ngày 25/5/2021, Thái Lan ra thông báo các biện pháp khẩn cấp số G/SPS/N/THA/394 tới Việt Nam về việc Cục phát triển chăn nuôi Thái Lan ra lệnh tạm dừng nhập khẩu gia cầm sống và thịt gia cầm từ Việt Nam để ngăn chặn sự lây lan của bệnh Cúm gia cầm độc lực cao (Serotype H5N6 và H5N1) (Thông báo kèm theo). Nội dung chính như sau: -Theo công báo Chính phủ Thái Lan, từ ngày 15/12/2020, Thái Lan đã tạm ngừng nhập khẩu gia cầm sống và thịt gia cầm từ Việt Nam (hiệu lực đến ngày 15/3/2021). Tuy nhiên, Tổ chức Thú y thế giới (OIE) nhận định tại Việt Nam tiếp tục bùng phát dịch cúm gia cầm độc lực cao (HPAI). Do đó, Thái Lan cần ngăn chặn sự xâm nhập của bệnh HPAI vào nước này. Theo Đạo luật dịch tễ động vật B.E. 2558 (2015), việc nhập khẩu gia cầm sống và thịt gia cầm từ Việt Nam bị tạm dừng trong thời hạn 90 ngày sau khi đăng trên công báo Hoàng gia Thái Lan (ngày 21/4/2021). Văn phòng SPS Việt Nam đề nghị Quý Cơ quan: 1.Xem xét các thông tin liên quan trong thông báo đểcó giải pháp thích ứng. 2.Thông báo cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sang Thái Lan thuộc phạm vi điều chỉnh của biện pháp này. Văn phòng SPS Việt Nam thông báo để Quý cơ quan biết, phối hợp thực …

Tin mớiadmin27/05/2021
Hồ sơ thiết kế mẫu thiết bị khí sinh học kiểu KT1 và KT2 (Dùng cho các tỉnh phía Nam)

Môi trường chăn nuôiadmin25/05/2021
Hồ sơ thiết kế mẫu thiết bị khí sinh học kiểu KT1 và KT2 (Dùng cho các tỉnh phía Bắc gồm cả tỉnh Thừa Thiên Huế

Môi trường chăn nuôiadmin25/05/2021
Giá ngô tương lai vượt ngưỡng 7 USD/giạ do lo ngại về thời tiết ở Brazil
Giá ngô tương lai vượt ngưỡng 7 USD/giạ do lo ngại về thời tiết ở Brazil

‘Giá ngô kỳ hạn tăng trên 7 USD/giạ lần đầu tiên trong hơn 8 năm qua. Lý do là Brazil thiếu mưa dẫn đến lo ngại về nguồn cung bị thu hẹp’, Bloomberg đưa tin. “Giá ngô giao dịch tương lai tăng thêm 3,6% lên 7,04 USD/giạ trên Sàn giao dịch Chicago, mức cao nhất kể từ tháng 3/2013. Giá ngô kỳ hạn giao tháng 7 tăng vọt, và chốt cuối ngày với mức tăng 2,5% lên 6,9675 USD/giạ. Đậu nành và lúa mì cũng tăng giá”, Bloomberg cho biết. Bài báo của Bloomberg giải thích: “Hôm 4/5, nhà kinh doanh cây trồng lớn Bunge Ltd. đưa ra dự đoán nhu cầu cây trồng trở nên mạnh mẽ khi thế giới đối mặt với đại dịch, động thái Trung Quốc tăng mua từ nguồn cung của Mỹ và ngành công nghiệp diesel mở rộng”. Bài báo cho biết thêm, “Khô hạn đang cản trở vụ ngô chủ chốt thứ hai của Brazil và một số khu vực trồng trọt chính của nước này sẽ tiếp tục không có mưa trong tuần tới, theo Somar – cơ quan dự báo thời tiết của Brazil. Điều đó có thể làm ảnh hưởng đến sản lượng hơn nữa, và các nhà phân tích bao gồm Safras và StoneX Brazil đã cắt giảm ước tính cho vụ thu hoạch tới. Tình trạng thiếu hụt sản lượng sẽ khiến nguồn cung ngũ cốc toàn cầu bị kéo dài và có nguy cơ gây ra lạm phát lương thực hơn nữa”. Trước đó, cũng trong tuần này, Bloomberg còn có một bài báo khác viết: “Có những dấu hiệu về điều kiện tốt hơn ở các nước cung cấp lớn khác, điều này có thể giúp hạ nhiệt thị trường [ngô]. Nông dân Hoa Kỳ đang trồng ngô với tốc độ nhanh nhất trong nhiều năm, nhờ thời tiết nắng ấm. Dữ liệu mới nhất của chính phủ cho thấy việc gieo hạt sắp hoàn thành một nửa. Công ty tư vấn SovEcon ước tính những dấu hiệu ban đầu cũng cho thấy một vụ mùa lớn kỷ lục ở Ukraine”. Điều kiện tốt của Hoa Kỳ – cùng với giá cao – đã làm gia tăng suy đoán trên thị trường rằng nông dân tăng diện tích trông ngô hơn nhiều so với dự đoán của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. “Cơ quan sẽ cập nhật dự báo của mình vào cuối tháng 6”, Bloomberg cho biết. Cùng quan điểm, ngày 5/5, Reuters đưa tin “Nông dân Mỹ đang đi trước kế hoạch gieo trồng ngô và đậu tương năm 2021 bắt đầu vào tháng 5, tháng gieo trồng bận rộn nhất. Dự báo thời tiết không chính xác không tạo điều kiện thuận lợi cho việc gieo trồng liền mạch trong những tuần tới, nhưng giá hấp dẫn có thể khắc phục những điểm chưa hoàn hảo đó”. “Thị trường vẫn kỳ vọng sự gia tăng đáng kể diện tích trông ngô và/hoặc đậu tương trong cuộc khảo sát về diện tích tháng 6 sau khi các dự định trong tháng 3 không như dự đoán, mặc dù diện tích trồng ngô thường không được bổ sung vào những ngày mưa ẩm ướt. Tuy nhiên, các so sánh trước đó có thể bị lãng quên vì giá ngô kỳ hạn mới đã có một đợt tăng giá chưa từng có trong vài tháng qua, làm phức tạp thêm các kịch bản về diện tích có thể xảy ra cho cả cuộc khảo sát tháng 6 và kết quả báo cáo cuối cùng. Trong 40 năm qua, có 15 lần kết quả diện tích trồng ngô cuối cùng cao hơn dự định trồng báo cáo trong tháng Ba. Khối lượng mưa tháng 5 cao hơn mức trung bình chỉ ở hai trong số 15 trường hợp đó: năm 2004 và năm 2017. Diện tích đạt được năm 2017 ở mức tối thiểu, diện tích bổ sung của năm 2004 là một ngoại lệ lớn khi xem xét tới yếu tố thời tiết”, Reuters viết. (1 giạ ngô = 25,4 kg) Hương Lan (Theo Bloomberg, …

Tin mớiadmin10/05/2021
Trung Quốc có thể nhập 40 triệu tấn ngô trong năm nay
Trung Quốc có thể nhập 40 triệu tấn ngô trong năm nay

Các chuyên gia nhận định, lượng nhập khẩu ngô của Trung Quốc làm thức ăn chăn nuôi tiếp tục tăng lên và đạt mốc kỷ lục vì nhu cầu trong nước thiếu hụt nặng. Hãng Bloomberg cho biết, lượng ngô Trung Quốc nhập khẩu từ Mỹ có thể đạt mốc 40 triệu tấn trong niên vụ này, so với 11 triệu tấn của năm 2020. Ảnh: Daniel Acker Việc Trung Quốc tăng lượng nhập khẩu ngô Mỹ ngoài nguyên nhân khách quan là tình hình sản xuất ngô tại Ukraine gặp khó khăn, khiến giá ngô tăng mạnh thì còn có cả việc thực thi bản thỏa thuận thương mại giai đoạn một của cuộc thương chiến giữa hai cường quốc. Kể từ tháng 3 năm 2020, giá ngô tại Trung Quốc đã tăng vọt, đạt đỉnh 2.900 nhân dân tệ (442 USD)/tấn. Bước sang năm 2021, mặc dù giá ngô đã có lúc giảm xuống mức 2.700 nhân dân tệ/tấn từ tháng 3 đến đầu tháng 4, nhưng sau đó đã tăng trở lại thêm 150 nhân dân tệ/tấn, tính đến cuối tuần qua và dự kiến sẽ vẫn duy trì ở mức cao trong lịch sử. Xi Yinsheng, chuyên gia Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Nông thôn thuộc Bộ Nông nghiệp Trung Quốc cho hay, giá ngô đang trên đà thiệt lập kỷ lục trên mọi mặt trận thu mua, giao sau và bán buôn và điều này phản ánh những thay đổi trong quan hệ cung- cầu. Các nhà phân tích cho biết trong những năm gần đây, các kho dự trữ lương thực của Trung Quốc đã nhanh chóng cạn kiệt, trong khi khoảng cách giữa các khu vực sản xuất cũng ngày một lớn thêm. Nhu cầu tăng đẩy giá ngô cao cũng khiến nông dân Trung Quốc mở rộng diện tích ngô tự phát. Ảnh: GloabalTimes  Ông Xi cho biết: Cùng với tác động của đại dịch Covid-19, giá các loại cây có hạt đang tăng cao, trong đó giá ngô tăng mạnh nhất do chênh lệch cung cầu trong nước nới rộng. Dự báo, nhu cầu bùng nổ ở Trung Quốc sẽ tiếp tục thúc đẩy việc nhập khẩu ngô. Số liệu từ Viện nghiên cứu ASKCI cho thấy, từ tháng 1 đến tháng 2 năm nay, lượng nhập khẩu ngô của Trung Quốc đã ở mức 4,8 triệu tấn, tăng 414% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó hãng tin Reuters dẫn nguồn Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự đoán rằng, Trung Quốc sẽ nhập khẩu một lượng ngô lớn nhất từ trước tới nay và có thể đạt mốc lịch sử 24 triệu tấn trong niên vụ 2020/21. Mặt khác, Trung Quốc cũng sẽ vẫn tăng cường sản xuất ngô trong nước để đảm bảo an ninh lương thực. “Mỹ sẽ thay thế Ukraine trở thành nhà cung cấp ngô lớn nhất cho Trung Quốc và lượng nhập khẩu ngô của Mỹ sẽ chiếm 70% lượng ngô nhập khẩu của Trung Quốc trong năm nay”, một chuyên gia giấu tên cho biết. Dữ liệu từ nền tảng thông tin thị trường trực tuyến Qichacha cho thấy, thị trường ngũ cốc sôi động khiến số lượng doanh nghiệp đăng ký tham gia kinh doanh ngành hàng ngô đã tăng 16% so với cùng kỳ năm 2020. Trong quý đầu tiên của năm 2021, có 16.000 đăng ký mới được ghi nhận, tăng 120 % so với cùng kỳ năm ngoái. “Thậm chí là ngay cả khi không hề có một thông báo chính thức nào kích thích ngành hàng ngô, nhưng diện tích ngô trồng tự phát cũng đang tăng mạnh, bất chấp thị trường có nhiều sản phẩm thay thế ngô nhập khẩu dùng làm thức ăn chăn nuôi”, chuyên gia Meng Jinhui cho biết. Kim Long (Reuters, GlobalTimes) Meng Jinhui, một nhà phân tích chuỗi ngành ngô của Bộ Nông nghiệp cho hay, “Trung Quốc không giới hạn đối với nhập khẩu ngô. Ngoài 10 triệu tấn từ khu vực Biển Đen như Ukraine và Nga, dự báo sẽ có khoảng 30 triệu tấn được nhập khẩu từ …

Tin mớiadmin19/04/2021
ĐÍNH CHÍNH THÔNG BÁO NGÀY 15/4/2021

Cục chăn nuôi có Thông báo ngày 15/4/2021 trên cổng thông tin điện từ về việc đăng ký triển khai Chương trình giống gốc vật nuôi năm 2021, nay xin đính chính lại cụ thể việc nuôi giữ giống gốc vật nuôi tại mục 17 và 29 như sau:   TT Loại giống gốc ĐVT Số lượng Khu vực nuôi giữ đàn giống gốc 17 Ngan RT7, RT8 mái dòng thuần SS con 1.000 Miền Bắc 29 Bò đực Brahman-MCĐ, Red Angus-MCĐ, BBB-MCĐ và HF-MCĐ nhập ngoại sản xuất tinh con 30 Miền Bắc   Các nội dung khác vẫn thực hiện theo đúng Thông báo ngày 15/4/2021. (Liên hệ chi tiết với bà Trần Thị Ngọc Lan (ĐT: 0961186668, E.mail: ngoclanmanh@yahoo.com), Phòng giống vật nuôi – Cục Chăn nuôi.     Hà Nội, Ngày 19 tháng 4 năm 2021 CỤC CHĂN …

Thông báoadmin19/04/2021
'Số hóa' quản lý chăn nuôi
‘Số hóa’ quản lý chăn nuôi

Tỉnh Bình Định đang triển khai quản lý chăn nuôi, kiểm soát dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc… trong chăn nuôi bằng công nghệ 4.0. Xây dựng trung tâm mua bán động vật tập trung Theo ông Đào Văn Hùng, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Bình Định, thời gian qua, hình thức qua chăn nuôi nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh đã có xu hướng giảm, thay vào đó là phát triển chăn nuôi tập trung. Với nhiều chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích phát triển chăn nuôi quy mô trang trại, gia trại, những năm qua Bình Định đã phát triển được 74 trang trại, cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao. Trong đó, có một doanh nghiệp được công nhận doanh nghiệp khoa học công nghệ là Công ty TNHH Giống gia cầm Minh Dư ở xã Phước Nghĩa (huyện Tuy Phước); 59 trang trại, cơ sở chăn nuôi đạt tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu (Global GAP), an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm; 14 doanh nghiệp, cơ sở chăn nuôi theo hướng công nghệ cao. Bên cạnh đó, Bình Định còn chú trọng thu hút đầu tư các dự án chế biến gia súc, gia cầm nhằm nâng cao giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi. Trang trại heo giống quy mô 450.000 con/năm của THACO Group đầu tư tại Bình Định. Ảnh: Vũ Đình Thung. Trong năm 2021, Sở NN-PTNT Bình Định tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng tăng tỷ trọng gia súc, gia cầm; triển khai quy hoạch khu chăn nuôi công nghệ cao Nhơn Tân tại xã Nhơn Tân (Thị xã An Nhơn) và tiếp tục xây dựng vùng chăn nuôi heo an toàn tại huyện Hoài Ân. Bên cạnh đó, ngành chức năng sẽ tiếp tục thực hiện các chính sách khuyến khích hỗ trợ chăn nuôi, thu hút doanh nghiệp đầu tư phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn, khép kín, áp dụng công nghệ cao. Cũng theo ông Đoàn Văn Hùng, tại huyện Hoài Ân, địa phương được mệnh danh là “vựa heo lớn nhất miền Trung”, ngoài xây dựng vùng chăn nuôi heo an toàn, huyện này còn đầu tư xây dựng trung tâm mua bán động vật tập trung để quản lý cả đầu vào lẫn đầu ra của gia súc. Hiện khu trung tâm mua bán động vật tập trung ở đây đã hoàn thành việc giải phóng mặt bằng với diện tích 2,5 ha tại thôn An Hậu (xã Ân Phong), xây dựng 1 số hạng mục cơ sở hạ tầng như tường rào cổng ngõ, hệ thống chiếu sáng, đường giao thông… Theo anh Võ Duy Tín, Phó trưởng phòng NN-PTNT huyện Hoài Ân, UBND tỉnh Bình Định đã chứng nhận nhà đầu tư dự án, mọi hồ sơ thủ tục đã hoàn thành cơ bản, dự án này có tổng kinh phí dự kiến khoảng 25 tỷ đồng. Hiện ở Bình Định đã có 800 cơ sở chăn nuôi được chọn triển khai thử nghiệm phần mềm quản lý đàn vật nuôi và dịch bệnh bằng công nghệ Blockchain. Ảnh: Vũ Đình Thung. Hoài Ân không chỉ là địa phương có phong trào chăn nuôi heo mạnh nhất tỉnh Bình Định, mà với tổng đàn heo luôn ổn định từ 300.000-400.000 con, Hoài Ân còn được mệnh danh là vựa heo lớn nhất miền Trung. Trung tâm mua bán động vật tập trung được xây dựng với mục đích vừa quản lý được số lượng heo xuất, nhập trên địa bàn, mà qua đó còn kiểm soát được dịch bệnh. Đặc biệt, lượng heo xuất bán khỏi địa phương trước khi vận chuyển ra khỏi địa bàn buộc phải đi qua trung tâm mua bán động vật tập trung để được ngành chức năng xử lý về thú y, phân loại, đóng dấu. Đây cũng là cách kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm làm tăng giá trị sản phẩm để tiến tới xây dựng thương hiệu heo Hoài Ân. “Số hóa” việc quản lý, kiểm soát dịch bệnh  Đầu năm nay, UBND tỉnh Bình Định đã ban hành Văn bản số 175/UBND-TH ngày 11/1/2021 chỉ đạo Cục Thống kê, Sở NN-PTNT, Sở Tài chính và Sở Công thương phối hợp thực hiện triển khai thử nghiệm phần mềm quản lý đàn vật nuôi và dịch bệnh bằng công nghệ Blockchain trên địa bàn tỉnh năm 2021. Đầu tháng 3/2021, để thực hiện việc khai báo và quản lý phần mềm có hiệu quả, Cục Thống kê Bình Định đã phối hợp với Sở NN-PTNT xây dựng kế hoạch phân công công việc thực hiện phần mềm quản lý đàn vật nuôi và thông tin chống dịch cụ thể. Theo đó, ngành chức năng sẽ tuyên truyền cho người chăn nuôi hiểu ý nghĩa, quyền lợi, trách nhiệm trong việc tham gia chương trình quản lý đàn chăn nuôi và phòng, chống dịch bệnh trong chăn nuôi. Người chăn nuôi cũng sẽ nắm bắt cách thao tác ứng dụng trên điện thoại thông minh để báo cáo tình hình đàn vật nuôi, dịch bệnh và việc tiêu thụ, vận chuyển; thực việc chủ động, tự giác trong việc báo cáo số liệu chăn nuôi, dịch bệnh… Bình Định sẽ từng bước “số hóa” công tác quản lí chăn nuôi trên địa bàn. Ảnh: Vũ Đình Thung Từ phần mềm nói trên, các cơ quan chức năng sẽ quản lý được tổng đàn vật nuôi thường xuyên trên địa bàn; có thông tin nhanh, chính xác về đàn vật nuôi và sản phẩm chăn nuôi; quản lý thông tin thống kê; nắm bắt được tình hình dịch bệnh trên địa bàn để có những giải pháp kịp thời phòng, chống dịch bệnh. Phần mềm cũng sẽ giúp quản lý việc áp dụng an toàn sinh học, tiêm phòng, thức ăn tại cơ sở chăn nuôi; giúp ngành chức năng quản lý về tình hình tiêm phòng, theo dõi được trang trại bị lây nhiễm dịch bệnh, việc xử lý tiêu hủy gia súc, gia cầm và việc hỗ trợ thiệt hại do dịch bệnh… Theo ông Đào Văn Hùng, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Bình Định, ngành nông nghiệp Bình Định đang giao cho Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh phối hợp với Cục Thống kê tỉnh và Công ty TNHH Chế tạo máy và Dịch vụ công nghệ cao Te-Food tổ chức tập huấn sử dụng phần mềm quản lý đàn vật nuôi và thông tin chống dịch khẩn cấp cho cán bộ quản lý và các hộ, trang trại chăn nuôi trên địa bàn. Người chăn nuôi sẽ được cung cấp miễn phí phần mềm trên điện thoại thông minh kết nối Internet, sau khi hoàn tất khai báo thông tin, hệ thống sẽ cung cấp mã quản lý, sử dụng. Ông Huỳnh Ngọc Diệp, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y Bình Định cho biết: Hiện đã có 800 cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Bình Định được chọn để triển khai thử nghiệm phần mềm quản lý đàn vật nuôi và dịch bệnh bằng công nghệ Blockchain trong năm 2021. Trong đó, huyện Hoài Ân có 450 cơ sở, Thị xã An Nhơn có 100 cơ sở, huyện Phù Cát có 100 cơ sở, Thị xã Hoài Nhơn có 80 cơ sở và huyện Phù Cát có 70 cơ sở. Te-Food là phần mềm quản lý từ trang trại đến bàn ăn. Theo đó, phần mềm sẽ quản lý số lượng đàn đối với heo thịt, heo nái, heo con. Về quản lý dịch bệnh, đối với heo bị bệnh, người chăn nuôi sẽ báo cáo, qua đó áp dụng quy trình xử lý từ sát trùng chuồng trại, sử dụng vacxin. Te-Food cũng giúp quản lý truy xuất chuỗi cung ứng thịt heo ra đến thị trường; đặc biệt hỗ trợ kết nối các kênh tiêu thụ và xây dựng thương hiệu; giúp cơ quan quản lý nắm được số lượng đàn, cập nhật chính xác số liệu chăn nuôi; hỗ trợ nhận biết và kiểm soát dịch bệnh; kiểm soát từ khâu vận chuyển, thức ăn, giết mổ, tiêu thụ… Vũ Đình …

Tin mớiadmin15/04/2021
Thông báo: Cục chăn nuôi được Bộ Nông nghiệp và PTNT giao đầu mối triển khai Chương trình giống gốc vật nuôi năm 2021 gồm chủng loại và số lượng cụ thể như sau:

THÔNG BÁO Cục chăn nuôi được Bộ Nông nghiệp và PTNT giao đầu mối triển khai Chương trình giống gốc vật nuôi năm 2021 gồm chủng loại và số lượng cụ thể như sau: Nuôi giữ. TT Loại giống gốc ĐVT Số lượng Khu vực nuôi giữ đàn giống gốc 1 Lợn YS, LR và DR nái GGP SS con 150 Miền Bắc 2 Lợn YS, LR và DR nái GGP SS con 300 Miền Nam 3 Lợn đực KTNS phục vụ sản xuất con 200 Miền Nam 4 Lợn VCN nái GGP SS con 350 Miền Bắc 5 Lợn đực VCN KTNS phục vụ sản xuất con 50 Miền Bắc 6 Lợn Móng Cái cái thuần SS con 140 Miền Bắc 7 Lợn hương cái thuần SS con 100 Miền Bắc 8 Vịt STAR53 mái dòng thuần SS con 4.000 Miền Bắc 9 Vịt SM3 mái dòng thuần SS con 2.200 Miền Bắc 10 Vịt CV Super M (SM) mái dòng thuần SS con 1.000 Miền Núi, TD phía Bắc 11 Vịt V2, V7, V12, V17 mái dòng thuần SS con 3.500 Miền Nam 12 Vịt biển (Haiya) mái thuần SS con 1.000 Miền Bắc 13 Vịt biển (ĐX) mái dòng thuần SS con 600 Miền Bắc 14 Vịt biển mái dòng thuần SS con 1.500 Miền Nam 15 Vịt TC mái dòng thuần SS con 2.000 Miền Nam 16 Ngan R71, R51 mái dòng thuần SS con 3.600 Miền Bắc 17 Ngan RT7, RT9 mái dòng thuần SS con 1.000 Miền Bắc 18 Gà LV mái dòng thuần SS con 3.500 Miền Bắc 19 Gà LMT1, LMT2 mái dòng thuần SS con 1.200 Miền Trung 20 Gà H’Mong mái thuần SS con 1.700 Miền Bắc 21 Gà ri mái dòng thuần SS con 1.500 Miền Bắc 22 Gà màu VLV1, VLV2 mái dòng thuần SS con 4.500 Miền Nam 23 Gà Ninh Hòa mái dòng thuần SS con 4.500 Miền Trung 24 Gà chọi mái thuần SS con 500 Miền Trung 25 Trâu đầm lầy (nội) cái thuần SS con 70 Miền Bắc 26 Trâu Muhra, đầm lầy (nội) cái thuần SS con 90 Miền Nam 27 Ngựa nội cái thuần SS con 40 Miền Bắc 28 Bò Senepol cái thuần SS con 30 Miền Bắc 29 Bò đực Brahman-MCĐ, Red Angus-MCĐ, BBB-MCĐ và HF-MCĐ nhập ngoại sản xuất tinh con 35 Miền Bắc 30 Bò đực Brahman, Angus, Charolais và BBB nhập ngoại sản xuất tinh con 22 Miền Bắc 31 Trâu đực SX tinh con 05 Miền Bắc 32 Bò Red Angus cái thuần SS con 50 Miền Nam 33 Bò Droughmaster cái thuần SS con 70 Miền Nam 34 Bò Brahman cái thuần SS con 140 Miền Nam 35 Dê Boer cái thuần SS con 150 Miền Bắc & Miền Trung 36 Dê Saanen cái thuần SS con 150 Miền Bắc & Miền Trung 37 Dê bách thảo cái thuần SS con 200 Miền Bắc & Miền Trung 38 Dê Boer cái thuần SS con 60 Miền Nam 39 Dê bách thảo cái thuần SS con 140 Miền Nam 40 Cừu Phan Rang cái thuần SS con 600 Miền Bắc & Miền Trung 41 Tằm lưỡng hệ thuần ổ 4.000 Miền Bắc 42 Tằm đa hệ thuần ổ 6.000 Miền Bắc 43 Phối giống công ích bò có chửa con 5.000 Miền Bắc Nhập khẩu giống TT Giống nhập ĐVT Số lượng         1 Vịt Star53 Heavy ông bà con 2.000 – Trống con 400 – Mái con 1.600 2 Dê Boer thuần con 78 – Đực con 14 – Cái con 64 3 Lợn LR, YS cụ kỵ con 90 – Đực con 18 – Cái con 72 4 Bò cái Senepol thuần con 26 5 Bò đực giống con 08 Bò đực giống BBB con 4 Bò đực giống Charolais con 4 Xin mời các cơ sở chăn nuôi có đủ điều kiện năng lực về con người, cơ sở vật chất và đàn giống gốc vật nuôi đáp ứng Quyết định số 2317/QĐ-BNN-CN ngày 07/6/2017 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc phê duyệt tiêu chí đối với cơ sở nuôi giữ giống gốc, sản xuất và cung ứng sản phẩm giống gốc vật nuôi và giống gốc thủy sản, Quyết định số 675/QĐ-BNN-CN ngày 4/4/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT đăng ký tham gia thực hiện việc nuôi giữ đàn giống gốc và cung ứng sản phẩm giống gốc từ 1/1 đến 31/12/2021. Đăng ký tham gia bằng văn bản có chữ ký và đóng dấu gửi về Cục Chăn nuôi – Bộ nông nghiệp và PTNT, số 16, Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội từ 10 giờ ngày 15/4 đến 10 giờ ngày 26/4/2021. (Liên hệ chi tiết với bà Trần Thị Ngọc Lan (ĐT: 0961186668, E.mail: ngoclanmanh@yahoo.com), Phòng giống vật nuôi – Cục Chăn nuôi.   Hà Nội, Ngày 15 tháng 4 năm 2021 CỤC CHĂN …

Thông báoadmin15/04/2021
Xã biên giới thu tiền tỷ từ nuôi trâu vỗ béo
Xã biên giới thu tiền tỷ từ nuôi trâu vỗ béo

Xã biên giới Quang Hán, huyện Trùng Khánh (Cao Bằng) tập trung phát triển mô hình nuôi trâu vỗ béo, đem lại thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm cho người chăn nuôi. Mô hình vỗ béo trâu của ông Bế Văn Định, xóm Vững Bền, xã Quang Hán, huyện Trùng Khánh cho hiệu quả kinh tế cao. Ảnh: Công Hải. Theo chân cán bộ Hội Nông dân xã Quang Hán, chúng tôi đến thăm mô hình vỗ béo trâu của gia đình ông Bế Văn Định, xóm Vững Bền, một trong những hộ đầu tiên mạnh dạn phát triển vỗ béo trâu ở xã, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Ông Định chia sẻ: Năm 2012, thấy nhiều nơi phát triển nuôi trâu vỗ béo bằng cách nuôi nhốt cho hiệu quả cao, nên vợ chồng ông đã mạnh dạn làm chuồng trại tập trung. Thời điểm đó, gia đình còn nhiều khó khăn, phải vay vốn ngân hàng nên chỉ dám nuôi 2 – 3 con/lứa. Chăn chủ yếu bằng rau, chuối nên trâu phát triển chậm, phải 4 tháng mới xuất bán được, hiệu quả kinh tế chưa cao. Không nản chí, vợ chồng ông tiếp tục tìm hiểu các thông tin trên ti vi, báo đài về kỹ thuật chăn nuôi trâu vỗ béo rồi áp dụng theo. Ngoài rau, chuối, gia đình đã trồng thêm vài nghìn m2 cỏ voi, sử dụng thêm các loại cám để thay đổi thức thức ăn theo từng ngày nên đàn trâu phát triển nhanh hơn hẳn. Cứ khoảng 2 – 3 tháng xuất bán một lứa. “Hiện nay, gia đình tôi nuôi trung bình 8 – 10 con trâu/lứa. Mỗi lần xuất bán, mỗi con trâu cho thu lãi trung bình 6 – 8 triệu đồng. Nhiều con trâu dù chỉ mua về được nửa tháng nhưng nếu gặp khách và đúng thời điểm giá cao thì bán luôn cũng có thể cho lãi vài triệu đồng”, ông Định cho biết thêm. Cũng là một trong những hộ chăn nuôi trâu vỗ béo điển hình ở xã, ông Bế Văn Hội, xóm Bản Niếng mỗi lứa đang vỗ béo 6 con trâu. Từ vỗ béo trâu, mỗi năm gia đình ông thu nhập hơn 100 triệu đồng. Nhờ đó cuộc sống có nhiều đổi thay. Ông Hội tâm sự: Vỗ béo trâu là nghề cho thu nhập ổn định so với nhiều nghề nông khác nhưng chi phí đầu tư cũng khá cao. Muốn chăn nuôi hiệu quả phải làm tốt từ khâu chọn giống. Phải chọn con dáng cao to, vai nở, lưng dài. Không mua loại còn non vì thời gian vỗ béo lâu, tốn thức ăn, lợi nhuận thấp, chậm quay vòng vốn. Ông thường đi tìm mua trâu nặng khoảng hơn 4 tạ về vỗ béo, mỗi con đầu tư cũng khoảng 40 triệu đồng. Ông Bế Văn Hội, xóm Bản Niếng, xã Quang Hán, huyện Trùng Khánh mỗi lứa vỗ béo 6 con trâu. Ảnh: Công Hải. Theo ông Hội, vỗ béo trâu việc pha trộn thức ăn là khâu quan trọng nhất. Thức ăn bao gồm: cỏ voi xay nhuyễn, rau, chuối, cám… đảm bảo sạch sẽ. Nguồn nước uống cũng được pha thêm các loại muối khoáng cần thiết, tăng sức đề kháng cho vật nuôi. Ngoài nguồn dinh dưỡng, trong quá trình chăn nuôi, cần quan tâm đến vệ sinh, che chắn chuồng trại, tiêm vacxin phòng bệnh đầy đủ. Nhiều năm nay, cùng với phát triển cây quýt, xã Quang Hán tuyên truyền người dân đẩy mạnh phát triển vỗ béo trâu, bò mang lại hiệu quả kinh tế cao. Chỉ đạo các xóm mở rộng diện tích trồng cỏ voi, mỗi năm xã trồng trên 60 ha cỏ voi và nhiều loại cỏ khác. Toàn xã có hơn 450 hộ nuôi trâu, bò vỗ béo với tổng số hơn 2.000 con, trong đó hơn 90% số hộ vỗ béo trâu. Tập trung nhiều tại các xóm: Vững Bền, Bản Niếng, Pò Mán, Pú Dô, Bản Tám… Trung bình, mỗi hộ nuôi từ 3 – 5 con/lứa, một số hộ vỗ béo từ 8 – 10 con/lứa. Mỗi con trâu sau 2 – 3 tháng vỗ béo có thể cho thu nhập từ 6 – 8 triệu đồng/con. Ảnh: Công Hải. Ông Hoàng Văn Thiện, Chủ tịch UBND xã Quang Hán cho biết: Người dân trong xã thường chọn vỗ béo trâu vì con trâu tăng trọng lượng nhanh hơn, giá bán lại cao và ổn định hơn con bò. Đa số các hộ vỗ béo trâu tại xã đều đã thoát nghèo, nhiều hộ có thu nhập cao từ 100 – 200 triệu đồng/năm. Thời gian tới, mô hình vỗ béo trâu vẫn là một trong những hướng đi chính để phát triển kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, làm giàu ở địa phương. Công …

Tin mớiadmin12/04/2021
Phát động tổ chức Cuộc thitrực tuyến “Tìm hiểu pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân”

Thông báoadmin07/04/2021
Nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 – 26/3/2021), Chi đoàn Cục Chăn nuôi tổ chức Lễ “Trưởng thành đoàn” cho các đoàn viên trong Chi đoàn và chương trình “Trồng cây xanh”.
Nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 – 26/3/2021), Chi đoàn Cục Chăn nuôi tổ chức Lễ “Trưởng thành đoàn” cho các đoàn viên trong Chi đoàn và chương trình “Trồng cây xanh”.

Sáng ngày 22/03/2021, tại Trung tâm Khảo, kiểm nghiệm và kiểm định Chăn nuôi, Chi đoàn Cục Chăn nuôi long trọng tổ chức Lễ trưởng thành Đoàn cho 11 đoàn viên và chương trình trồng cây xanh nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 – 26/3/2021) với sự tham gia tham gia của toàn bộ 36 Đoàn viên Chi đoàn. Toàn thể hội nghị làm lễ chào cờ Tham dự buổi lễ có đồng chí Tống Xuân Chinh, Bí thư Đảng ủy, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Chủ tịch Công đoàn Cục Chăn nuôi; đồng chí Phương Văn Vĩnh, Đảng ủy viên, Bí thư Chi bộ 5, Giám đốc Trung tâm Khảo, Kiểm nghiệm và Kiểm định chăn nuôi; đồng chí Nguyễn Hoàng Linh, Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Bộ Nông nghiệp và PTNT. Tại buổi lễ, Đồng chí Nguyễn Văn Tình, Bí thư Chi đoàn Cục Chăn nuôi báo cáo hoạt động của Chi đoàn trong thời gian qua. Được sự quan tâm, chỉ đạo của Lãnh đạo Cục Chăn nuôi, Đảng ủy, Đoàn Bộ Nông nghiệp và PTNT, Chi đoàn Cục Chăn nuôi từng bước phát triển, tổ chức, triển khai nhiều phong trào và hoạt động thanh niên, tạo môi trường phấn đấu, rèn luyện lành mạnh cho Đoàn viên Chi đoàn. Chi đoàn cũng đã biên tập và chiếu video giới thiệu về quá trình thành lập và phát triển của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và hình ảnh về hoạt động của Đoàn thanh niên Cục Chăn nuôi giai đoạn 2020 – 2021. Đồng chí Nguyễn Văn Tình, Bí thư Chi đoàn Cục Chăn công bố Quyết định trưởng thành Đoàn   Đồng chí Nguyễn Văn Tình đã công bố Quyết định số 123-QĐ/ĐTN ngày 16/3/2021 của Đoàn Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về công nhận trưởng thành Đoàn cho 11 đồng chí đoàn viên của Chi đoàn Cục Chăn nuôi. Thay mặt các đoàn viên trưởng thành Đoàn dịp này, đồng chí Võ Thị Vân xúc động phát biểu, chia sẻ những kỷ niệm khó phai trong suốt thời gian hoạt động Đoàn, đặc biệt là thời gian hoạt động tại Chi đoàn Cục Chăn nuôi. Qua đây, đồng chí gửi lời cảm ơn đến Đảng ủy, Lãnh đạo Cục Chăn nuôi, Đoàn Bộ Nông nghiệp và PTNT và Chi đoàn đã luôn tạo điều kiện, giúp đỡ các đồng chí trong suốt thời gian vừa qua. Đồng thời, bày tỏ niềm tin tưởng vào thế hệ các đồng chí Đoàn viên trẻ kế cận, tin tưởng với sự sáng tạo, năng động, nhiệt tình của các đoàn viên thanh niên, Chi đoàn sẽ tiếp tục tổ chức và thực hiện tốt các hoạt động, bám sát yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng ủy, Lãnh đạo Cục, Đoàn Bộ Nông nghiệp và PTNT tin tưởng, giao cho. Các đồng chí trưởng thành Đoàn sẽ vẫn tiếp tục đồng hành, đóng góp trí tuệ, công sức với công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Bộ Nông nghiệp và PTNT nói chung và của Cục Chăn nuôi nói riêng trong thời gian tới. Đồng chí Võ Thị Vân thay mặt Đoàn viên trưởng thành phát biểu Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Tống Xuân Chinh, Bí thư Đảng ủy, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Chủ tịch Công đoàn Cục Chăn nuôi ghi nhận những đóng góp của Đoàn thanh niên trong thời gian qua. Đồng chí cho rằng, hoạt động trong tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là cơ hội tốt, môi trường lành mạnh để rèn luyện và tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng vì vậy thanh niên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đồng chí khẳng định Đảng ủy, Lãnh đạo Cục Chăn nuôi sẽ luôn quan tâm, tạo điều kiện cho các hoạt động của Đoàn thanh niên. Đồng chí Tống Xuân Chinh, Bí thư Đảng ủy, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Chủ tịch Công đoàn Cục Chăn nuôi phát biểu tại buổi lễ Thay mặt Đoàn Bộ Nông nghiệp và PTNT, đồng chí Nguyễn Hoàng Linh, Phó Bí thư Đoàn Thanh niên biểu dương những kết quả đã đạt được của Chi đoàn. Đồng chí khẳng định, những kết quả này đã góp vào thành công chung của Đoàn Bộ năm 2020 và đề nghị Chi Đoàn Cục Chăn nuôi tiếp tục phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện, tính chủ động, sáng tạo để thực hiện tốt kế hoạch công tác Đoàn và phong trào thanh niên năm 2021. Đoàn Bộ Nông nghiệp và PTNT sẽ luôn đồng hành, hỗ trợ Chi đoàn trong các phong trào và hoạt động thanh niên. Đồng chí Nguyễn Hoàng Linh, Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Bộ Nông nghiệp và PTNT  phát biểu tại buổi lễ Chi đoàn Cục Chăn nuôi tổ chức chương trình “Trồng cây xanh” – trồng hàng cây hoa Ban trước cổng Trung tâm Khảo, Kiểm nghiệm và Kiểm định chăn nuôi tại Thụy Phương, Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Đồng chí Tống Xuân Chinh, đồng chí Nguyễn Hoàng Linh, đồng chí Phương Văn Vĩnh và đồng chí Nguyễn Văn Tình tham gia trồng cây Đây là hoạt động hưởng ứng phong trào “Tết trồng cây” và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình trồng 1 tỷ cây xanh do Đoàn Bộ Nông nghiệp và PTNT phát động nhằm tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong công tác bảo vệ môi …

Chi đoàn Cục Chăn nuôiadmin01/04/2021
Đoàn Thanh niên Cục Chăn nuôi tích cực tham gia Chương trình Hiến máu tình nguyện năm  2021 “Mỗi giọt máu cho đi – Một cuộc đời ở lại”
Đoàn Thanh niên Cục Chăn nuôi tích cực tham gia Chương trình Hiến máu tình nguyện năm 2021 “Mỗi giọt máu cho đi – Một cuộc đời ở lại”

Hiến máu tình nguyện là một hành động cao cả, một nghĩa cử cao đẹp của toàn xã hội. Mỗi giọt máu hiến tặng không chỉ góp phần cứu sống người bệnh trong giờ phút hiểm nghèo mà còn thể hiện tinh thần tương thân tương ái, truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ ngàn đời   Đoàn viên Cục Chăn nuôi tích cực tham gia chương trình hiến máu tình nguyện. Nhằm phát huy tinh thần tương thân thương ái, sẵn sàng cứu người, đề cao nghĩa cử cao đẹp, hưởng ứng Chương trình Hiến máu tình nguyện năm 2021 do Đoàn thanh niên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Viện Huyết học – truyền máu TW tổ chức, Đoàn viên thanh niên và cán bộ, công nhân viên chức Cục Chăn nuôi đã tích cực tham gia hiến máu tình nguyện ngay tại trụ sở Bộ Nông nghiệp và PTNT vào ngày 15/3/2021. Đây là hoạt động thiết thực, mang ý nghĩa nhân văn cao cả, ý nghĩa xã hội của Đoàn viên thanh niên Cục Chăn nuôi chào mừng Tháng thanh niên và kỉ niệm 90 năm ngày thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 -26/3/2021). Với ý nghĩa và mục đích nhân văn cao cả: “Một giọt máu cho đi – Một cuộc đời ở lại”, chương trình đã diễn ra và thành công tốt đẹp với sự tham gia của hơn 500 công nhân viên chức đang công tác, học tập tại các đơn vị của Bộ Nông nghiệp, đã bổ sung được gần 300 đơn vị máu vào ngân hàng máu quốc gia, đóng góp tích cực vào hoạt động cứu, chữa người bệnh tại các cơ sở y tế trong toàn quốc./. Nguồn: Đoàn thanh niên Cục Chăn …

Chi đoàn Cục Chăn nuôiadmin18/03/2021
Lần đầu Việt Nam nhân bản thành công lợn Ỉ
Lần đầu Việt Nam nhân bản thành công lợn Ỉ

Các nhà khoa học Viện Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT) đã áp dụng thành công phương pháp nhân bản lợn Ỉ từ tế bào soma mô tai trưởng thành. Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường thăm và kiểm tra đàn lợn Ỉ được nhân bản vô tính thành công tại Viện Chăn nuôi sáng 14/3. Ảnh: Nguyễn Chương. Ngày 10/3/2021, 4 lợn Ỉ con đã chào đời khỏe mạnh tại Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương, Viện Chăn nuôi, phát triển tốt từ công nghệ này. Đây là một bước tiến vượt bậc về khoa học công nghệ của Việt Nam trong lĩnh vực nhân bản động vật, khẳng định và nâng cao vai trò, vị thế nền khoa học công nghệ của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Trước đó, được sự quan tâm đặc biệt và chỉ đạo sát sao của Bộ NN-PTNT, tháng 7/2020, Viện Chăn nuôi đã tổ chức triển khai Đề tài “Nghiên cứu tạo lợn Ỉ bằng kỹ thuật chuyển nhân tế bào soma” thuộc “Chương trình trọng điểm nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020”. TS Phạm Công Thiếu, Viện trưởng Viện Chăn nuôi cho biết: Công nghệ nhân bản động vật với quy trình tạo dòng “tế bào cho” từ mô tai lợn Ỉ sử dụng trong quá trình cấy chuyển nhân tế bào cho và tạo phôi lợn nhân bản. Quy trình tạo dòng “tế bào nhận” có màng sáng hoặc không có màng sáng được sử dụng cho quá trình cấy chuyển nhân tế bào và tạo phôi lợn nhân bản. Quy trình cấy chuyển nhân tế bào cho và tạo phôi lợn nhân bản với tỷ lệ tạo phôi nang lợn Ỉ nhân bản đạt cao. Quy trình cấy chuyển phôi lợn nhân bản Phương pháp nhân bản lợn Ỉ từ tế bào soma mô tai trưởng thành được Viện Chăn nuôi áp dụng thành công. Ảnh: Nguyễn Chương. Trong quá trình nghiên cứu các nhà khoa học của Viện đã không ngừng đầu tư trí tuệ, cập nhật tiến bộ khoa học trên thế giới để tổ chức, nghiên cứu, xây dựng, chuẩn hoá và đưa vào ứng dụng các công nghệ, phương pháp mới như tạo tế bào trứng nhận không có màng sáng (zona pellucida) trong điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị còn rất hạn chế. Ưu điểm của phương pháp này dễ thao tác khi cấy chuyển nhân “tế bào cho”, tạo được nhiều phôi trong thời gian ngắn. Mặt khác, việc cấy chuyển phôi lợn 5 – 6 ngày tuổi đã nâng cao tỷ lệ thụ thai từ 24% (ở mức trung bình trên thế giới) lên 61%. Chính vì vậy, ngày 10/03/2021 đã có 4 “lợn Ỉ nhân bản” ra đời, khỏe mạnh và phát triển tốt. Kết quả đạt được của Đề tài đã được công bố trên các tạp chí uy tín trong nước và quốc tế (Tạp chí công nghệ sinh học, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Tạp chí Theriogenology). Thành tựu nổi bật này đã mở ra các hướng nghiên cứu mới về: Ứng dụng Công nghệ nhân bản động vật trong chọn giống; Bảo tồn các loài động vật có giá trị cao, động vật quý hiếm; Kết hợp công nghệ nhân bản động vật với công nghệ chỉnh sửa gen để tạo ra các giống vật nuôi có năng suất cao, có khả năng kháng bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu; Tạo ra những con lợn nhân bản theo ý muốn, phục vụ cho việc cấy ghép nội tạng trong tương lai. 4 con lợn Ỉ được nhân bản vô tính thành công tại Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương, Viện Chăn nuôi. Ảnh: Nguyễn Chương. Nhân bản hay nhân bản vô tính ở động vật là các cá thể có thể được tạo ra từ một tế bào lấy từ nguyên bản gốc mà không phụ thuộc vào quá trình thụ tinh. Năm 1979, các nhà nghiên cứu đã tạo ra những con chuột giống hệt nhau về mặt di truyền đầu tiên bằng cách tách phôi chuột trong ống nghiệm. Ngay sau đó, các nhà nghiên cứu đã tạo ra những con bò, cừu và gà giống hệt nhau về mặt di truyền bằng cách chuyển nhân của một tế bào lấy từ phôi thai ban đầu vào một quả trứng đã được loại bỏ nhân của nó. Đến năm 1996, sau 276 lần thử nghiệm, các nhà khoa học Scotland đã thành công trong việc nhân bản vô tính trên động vật có vú đầu tiên (nhân bản từ một tế bào soma lấy từ một động vật trưởng thành bằng kỹ thuật cấy chuyển nhân tế bào soma) để tạo ra được con cừu Dolly. Hai năm sau, các nhà nghiên cứu ở Nhật Bản đã nhân bản 8 con bê từ một con bò duy nhất. Đến nay đã có trên 20 loài động vật khác nhau đã được nhân bản như: cừu, mèo, hươu, nai, chó, trâu, lợn, ngựa, la, bò, thỏ và chuột… với số lượng ngày càng nhiều. Nguyên …

Tin mớiadmin18/03/2021
ĐOÀN THANH NIÊN THAM GIA "TẾT TRỒNG CÂY ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN BÁC HỒ"
ĐOÀN THANH NIÊN THAM GIA “TẾT TRỒNG CÂY ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN BÁC HỒ”

Hưởng ứng lễ phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” năm 2021 của Đoàn thanh niên Bộ Nông nghiệp và PTNT, ngày 05 tháng 3 năm 2021 Chi đoàn Cục Chăn nuôi đã tham gia trồng hơn 300 cây tại khu di tích và các tuyến đường liên xã Tả Thanh Oai và các xã của huyện Thanh Trì để cùng thực hiện công trình “Hàng cây thanh niên”. Đây là hoạt động ý nghĩa, thiết thực nhằm thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân, đồng thời hưởng ứng Chương trình trồng 01 tỷ cây xanh trong giai đoạn 2021-2025 do Thủ tướng Chính phủ phát động với thông điệp “Vì một Việt Nam xanh” và hướng tới chào mừng 90 năm ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 – 26/3/2021) Cũng trong khuôn khổ hoạt động này, Đoàn viên thanh niên Cục Chăn nuôi đã tích cực tham gia dọn dẹp vệ sinh môi trường tại Khu di tích cách mạng “Bác Hồ về tát nước chống cạn” và một số tuyến đường của xã Tả Thanh Oai. Chuỗi các hoạt động này đã góp phần giáo dục ý thức trách nhiệm sống vì cộng đồng, xã hội, vì thế hệ tương lai của đoàn viên thanh niên, đồng thời nâng cao nhận thức của đoàn viên, thanh niên và người dân địa phương trong việc trồng cây xanh nhằm xây dựng môi trường sống xanh, sạch, đẹp, chung tay bảo vệ môi trường và giảm thiểu tác động của biến đổi khí …

Chi đoàn Cục Chăn nuôiadmin18/03/2021
Đoàn Thanh niên Cục Chăn nuôi tích cực tham gia phong trào “Ngày Thứ bảy tình nguyện, ngày Chủ nhật xanh”
Đoàn Thanh niên Cục Chăn nuôi tích cực tham gia phong trào “Ngày Thứ bảy tình nguyện, ngày Chủ nhật xanh”

Được sự đồng ý của Đảng ủy và Lãnh đạo Cục Chăn nuôi, ngày 05/3/2021 Chi đoàn Cục Chăn nuôi đã phối hợp với các chi đoàn tại khu liên cơ quan Bộ Nông nghiệp và PTNT, số 16 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội tổ chức các hoạt động dọn dẹp vệ sinh, trồng hoa và xây dựng môi trường làm việc xanh, sạch, đẹp hưởng ứng phong trào “Ngày Thứ bảy tình nguyện, ngày Chủ nhật xanh” do Đoàn Bộ Nông nghiệp và PTNT phát động. Đây là hoạt động nằm trong chuỗi các hoạt động của Đoàn thanh niên Bộ Nông nghiệp và PTNT nói chung, Chi đoàn Cục Chăn nuôi nói riêng chào mừng kỉ niệm 90 năm ngày thành lập Đoàn thanh niên (26/3/1931 – 26/3/2021) Phong trào “Ngày Thứ bảy tình nguyện, ngày Chủ nhật xanh” Trong ngày phát động, Đoàn viên thanh niên Cục chăn nuôi và các chi đoàn tại khu liên cơ quan, số 16 Thụy Khuê  đã ra quân, trồng 100 khóm hoa và đặt tại  hàng rào phía trước trụ sở cơ quan tạo mỹ quan cho nơi làm việc. Các chậu hoa được giao từng chi đoàn cụ thể phụ trách theo dõi, chăm sóc, thay thế định kỳ để bảo đảm duy trì cảnh quan của trụ sở làm việc. Đoàn thanh niên tham gia trồng hoa tạo hàng rào xanh Cũng trong buổi chiều cùng ngày, các đoàn viên đã có mặt cùng nhau tiến hành tổng vệ sinh khu vực khuôn viên và hướng dẫn mọi người phân loại rác đúng cách và bỏ rác đúng nơi quy định. Đoàn thanh niên tại khu liên cơ quan, số 16 Thụy Khuê đã bố trí 04 thùng phân loại rác hữu cơ và vô cơ, đặt tại 02 tòa nhà để toàn thể cán bộ, công chức, người lao động chung tay phân loại rác, bảo vệ môi trường. Đoàn thanh niên tham gia vệ sinh và hướng dẫn phân loại rác và bỏ rác đúng nơi quy định Những việc làm tuy nhỏ nhưng ý nghĩa lớn lao qua đó góp phần nâng cao nhận thức của Đoàn viên thanh niên về lối sống tích cực, có trách nhiệm giữ gìn vệ sinh chung để xây dựng nơi làm việc thân thiện với môi trường. Nguồn: Chi đoàn Cục Chăn …

Chi đoàn Cục Chăn nuôiadmin17/03/2021
Công văn số 141/CN-TĂCN ngày 21 tháng 01 năm 2021 về tình hình giá và sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi
Công văn số 141/CN-TĂCN ngày 21 tháng 01 năm 2021 về tình hình giá và sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi

Kính gửi: Các tổ chức, cá nhân sản xuất thức ăn chăn nuôi   1.Thời gian gần đây giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi (TACN) nhất là các loại ngũ cốc liên tục tăng cao và dự báo sẽ còn giữ ở mức cao này đến Quý II năm 2021 gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất chăn nuôi trong nước. Nhằm giảm thiểu tác động bất lợi này, Cục Chăn nuôi đề nghị các tổ chức, cá nhân sản xuất TACN thực hiện một số nội dung sau: – Sử dụng tiết kiệm triệt để, hiệu quả nguồn nguyên liệu để hạ giá thành sản xuất TACN; – Tăng cường các giải pháp tìm kiếm, tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước thay thế nguyên liệu nhập khẩu; – Thường xuyên cập nhật thông tin về diễn biến giá nguyên liệu TACN trên thế giới và trong nước để có giải pháp ứng phó kịp thời; – Điều chỉnh mức độ và lộ trình thay đổi giá bán TACN phù hợp không gây ảnh hưởng nhiều làm xáo trộn sản xuất và thị trường sản phẩm chăn nuôi trong nước. 2.Ngày 09/11/2020, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 12/2020/TT-BNNPTNT (có hiệu lực kể từ ngày 25/12/2020), trong đó có quy định về kê đơn thuốc thú y trong sản xuất TACN và danh mục các hoạt chất thuốc thú y thuộc nhóm kháng sinh đặc biệt quan trọng, rất quan trọng và quan trọng (tại các Phụ lục VIII, IX, X) được phép sử dụng để phòng bệnh cho vật nuôi ở giai đoạn con non theo lộ trình đã được quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP.  Đề nghị các tổ chức, cá nhân sản xuất TACN nghiên cứu kỹ các nội dung của Thông tư số 12/2020/TT-BNNPTNT để sử dụng kháng sinh trong TACN đảm bảo quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện nếu có có vướng mắc, đề nghị liên hệ tới Cục Chăn nuôi, Cục Thú y để được giải thích, hướng dẫn. Cục Chăn nuôi trân trọng cảm ơn sự hợp tác của các Quý đơn vị vì sự ổn định và phát triển của ngành chăn …

Tin mớiadmin22/01/2021
Mức hỗ trợ phòng, chống dịch tả lợn Châu Phi
Mức hỗ trợ phòng, chống dịch tả lợn Châu Phi

(Chinhphu.vn) – Thủ tướng chính phủ vừa ban hành Quyết định về cơ chế, chính sách, đối tượng hỗ trợ, mức hỗ trợ kinh phí trong phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi năm 2020. Theo Quyết định, Nhà nước hỗ trợ người chăn nuôi, hộ chăn nuôi nông hộ, chủ trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất, các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang kinh doanh trong lĩnh vực chăn nuôi (cơ sở chăn nuôi) có lợn buộc phải tiêu hủy do bệnh Dịch tả lợn Châu Phi với mức cụ thể như sau: 1- Đối với lợn con, lợn thịt các loại: Hỗ trợ 30.000 đồng/kg lợn hơi; 2- Đối với lợn nái, lợn đực đang khai thác: Hỗ trợ 35.000 đồng/kg lợn hơi. Hỗ trợ doanh nghiệp chăn nuôi nhỏ và vừa theo tiêu chí quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ngày 12 tháng 6 năm 2017 (không bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa là công ty con hoặc là công ty có vốn cổ phần chi phối của doanh nghiệp lớn) có lợn buộc phải tiêu hủy do bệnh Dịch tả lợn Châu Phi với mức hỗ trợ cụ thể như sau: a- Đối với lợn con, lợn thịt các loại: Hỗ trợ 10.000 đồng/kg lợn hơi; b- Đối với lợn nái, lợn đực đang khai thác: Hỗ trợ 12.000 đồng/kg lợn hơi. Mức hỗ trợ cho các doanh nghiệp tối đa không quá 30% số lỗ do dịch bệnh sau khi đã sử dụng các quỹ dự phòng và tiền bồi thường bảo hiểm (nếu có). Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo tiêu chí quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ngày 12 tháng 6 năm 2017 (không bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa là công ty con hoặc là công ty có vốn cổ phần chi phối của doanh nghiệp lớn) và chủ hộ nuôi giữ lợn giống cụ kỵ, ông bà với mức 500.000 đồng/con lợn đến ngày 31 tháng 12 năm 2020 nhằm nâng cao các biện pháp an toàn sinh học, sát trùng tiêu diệt các loại mầm bệnh đảm bảo duy trì đàn lợn giống phục vụ tái đàn khi kiểm soát được dịch bệnh. Các cơ sở chăn nuôi bị thiệt hại được xem xét hỗ trợ khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 4 Nghị định số 02/2017/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh; các quy định của Luật Chăn nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chăn nuôi. Cơ chế hỗ trợ từ ngân sách trung ương Theo quy định, đối với các tỉnh miền núi, Tây Nguyên, Ngân sách trung ương hỗ trợ 80% mức ngân sách nhà nước hỗ trợ thiệt hại. Còn các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương từ 50% trở lên thì chủ động sử dụng dự phòng ngân sách địa phương để thực hiện. Các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương dưới 50% thì Ngân sách trung ương hỗ trợ 50% phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. Các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách còn lại thì Ngân sách trung ương hỗ trợ 70% phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. Ngoài ra, các địa phương huy động thêm tối đa 70% Quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh để hỗ trợ thiệt hại do Dịch tả lợn Châu Phi. Trường hợp các địa phương có mức độ thiệt hại lớn, nếu phần ngân sách địa phương đảm bảo vượt quá nguồn lực của địa phương (gồm: 50% nguồn dự phòng ngân sách địa phương (bao gồm cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã) và 70% Quỹ dự trữ tài chính địa phương, ngân sách trung ương sẽ bổ sung thêm phần chênh lệch vượt quá nguồn lực của địa phương để các tỉnh, thành phố có đủ nguồn để thực hiện. Vũ Phương …

Tin mớiadmin07/01/2021
Năm đặc biệt với ngành chăn nuôi Việt Nam
Năm đặc biệt với ngành chăn nuôi Việt Nam

2020 là một năm đặc biệt với ngành chăn nuôi Việt Nam khi trải qua hàng loạt những sự kiện lớn chưa từng có trong lịch sử. Năm 2020 là một năm đặc biệt đối với lĩnh vực chăn nuôi lợn. Ảnh: Trần Minh. Nóng hổi với giá lợn Với ngành chăn nuôi Việt Nam, năm 2020 không thể không nhắc đến câu chuyện xoay quanh con lợn. Có những thời điểm giá lợn hơi và giá thịt lợn nóng từ nông thôn đến thành thị, từ nghị trường Quốc hội tới các cuộc họp thường kỳ, cuộc họp điều hành giá của Chính phủ. Chưa bao giờ trong lịch sử mà người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng phải thốt lên rằng, “giá lợn hơi tăng như vậy là quá đáng”. Quả thực, trong lịch sử ngành chăn nuôi Việt Nam, lần giá lợn tăng cao nhất cũng chỉ lên tới 62.000 đồng/kg, song năm 2020 giá lợn hơi đã có thời điểm chạm mốc 100.000 đồng/kg. Nguyên nhân giá lợn hơi biến động và tăng mạnh năm 2020 ai cũng biết là do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi, một dịch bệnh cực kỳ nguy hiểm với con lợn, xuất hiện từ năm 2021, nhưng đến nay chưa có vacxin, chưa có thuốc điều trị mà tỉ lệ gây chết lợn khi mắc phải lên tới 100%. Dù so với Trung Quốc, Việt Nam đã rút ngắn thời gian khống chế được dịch từ 17 tháng xuống 13 tháng, song bệnh dịch tả lợn Châu Phi cũng đã kịp gây thiệt hại khoảng 6 triệu đầu lợn, tổng đàn lợn nái sụt giảm mạnh từ gần 4 triệu con xuống mức đáy chỉ còn 2,7 triệu con. Tuy nhiên, trao đổi với chúng tôi, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi Nguyễn Văn Trọng thở phào cho biết, đến giờ này có thể khẳng định giá lợn hơi đã giảm theo đúng dự báo và lộ trình ngành nông nghiệp đề ra là cuối quý 3 đầu quý 4. Để có được thành công này, theo ông Nguyễn Văn Trọng là do có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là sự chỉ đạo kịp thời, chủ động, sát sao của Bộ NN-PTNT khi giữ được cơ bản đàn lợn cụ kỵ, ông bà 109.000 con, tư liệu quan trọng đầu tiên để việc tái đàn thành công. Theo ông Trọng, tính đến hết năm 2020, tổng đàn nái của Việt Nam đã tăng lên 3 triệu con, tổng đàn lợn cả nước đạt trên 26 triệu con, bằng 85% so với trước dịch. Đặc biệt, 16 doanh nghiệp chăn nuôi lớn cả nước tăng lên 5,55 triệu đầu lợn, chiếm 23% tổng đàn lợn của cả nước. So với lúc trước dịch, khối doanh nghiệp chăn nuôi lớn tăng trưởng tới 160% và so với ngày 1/1/2020 tăng 155%. Bên cạnh đó, nhờ có rất nhiều chính sách hỗ trợ tốt về con giống, đất đai, cơ chế, đến nay đã có tới 16 tỉnh, thành tái đàn vượt 100% so với trước dịch, điển hình như Bình Phước tăng trưởng tới 170%, tổng đàn lợn từ 800.000 con nay đã tăng lên mức 1,3 triệu con. Bên cạnh thành quả của việc tăng đàn, tái đành thành công trong thời gian ngắn kỷ lục, Bộ NN-PTNT cũng đã kịp thời tham mưu Chính phủ lần đầu tiên cho nhập khẩu thịt lợn từ Nga và lợn sống thương phẩm từ Thái Lan một cách an toàn, qua đó góp phần tạo hiệu ứng tâm lí hạ nhiệt giá lợn, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Tín hiệu rất mừng với ngành chăn nuôi năm 2020 là có rất nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực giết mổ và chế biến thay vì chỉ đầu tư nhà máy thức ăn chăn nuôi và con giống. Ảnh: MML. Thu hút dự án đầu tư kỷ lục Theo ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, 2019 – 2020 là giai đoạn cực kỳ khó khăn đối với ngành chăn nuôi nước ta, nhưng cũng chính là giai đoạn đặc biệt thăng hoa với ngành chăn nuôi ở lĩnh vực thu hút đầu tư. Dù chưa có con số thống kê chính thức, nhưng điểm qua một số dự án đang đầu tư và đã khánh thành, 2020 chính là năm có làn sóng các doanh nghiệp, tập đoàn lớn đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi sôi nổi nhất. Trong đó, các doanh nghiệp đã có tên tuổi trong ngành chăn nuôi gia cầm như: Minh Dư, Cao Khanh, Dabaco… tiếp tục nâng cấp, mở rộng nâng cấp nhà máy con giống hiện đại hàng đầu thế giới với quy mô hàng trăm triệu con giống mỗi năm. Các doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp ngoài ngành cũng liên tiếp có những dự án đầu tư quy mô vào chăn nuôi như: Cargill, Japfa, Hòa Phát, Thaco, Mavin, Hùng Nhơn, Tân Long… với tổng giá trị đầu tư lên tới cả tỉ USD. Điểm đáng mừng là hầu hết các dự án đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi của Việt Nam đều là những dự án quy mô lớn, công nghệ  cao, chăn nuôi quy trình khép kín, là nền tảng, tiền đề quan trọng để ngành chăn nuôi Việt Nam từng bước hiện đại hóa, phát triển bền vững. Gần đây nhất, ngày 23/12, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam chính thức khánh thành Nhà máy giết mổ gia cầm lớn nhất khu vực Đông Nam Á tại tỉnh Bình Phước với quy mô đầu tư 250 triệu USD. Giai đoạn 1 của dự án sẽ có quy mô giết mổ 50 triệu con gà/năm và giai đoạn 2 nâng công suất lên 100 triệu con gà/năm, trở thành tổ hợp nhà máy con giống, gia công, giết mổ, chế biến gà lớn nhất Đông Nam Á. Năm 2020 ngành chăn nuôi đón làn sóng đầu tư kỷ lục của các doanh nghiệp trong và ngoài ngành. Ảnh: Mavin. Trước đó, ngày 3/10, Công ty Cổ phần Masan MEATLife trực thuộc Tập đoàn Masan chính thức đưa Tổ hợp chế biến thịt MEAT Deli Sài Gòn tại tỉnh Long An trị giá 1.800 tỷ đi vào hoạt động với công suất thiết kế 1,4 triệu con heo/năm, tương đương với 155.000 tấn sản phẩm thịt mát và thịt chế biến từ thịt mát. Như vậy, cùng với Nhà máy MEAT Hà Nam khánh thành tháng 12/2018, Masan hoàn toàn đủ khả năng cung ứng được cơ bản nhu cầu tiêu thụ thịt mát cho hai thành phố lớn nhất của cả nước là TP.HCM và Hà Nội và tương lai là cho hàng chục triệu dân của Việt Nam. Bên cạnh việc đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi, chế biến, giết mổ lợn, Công ty Cổ phần Tập đoàn Masan còn công bố rót vốn sở hữu 51% Công ty Cổ phần 3F Việt, chính thức bước chân vào lĩnh vực giết mổ gia cầm. Việc có nhiều doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực chế biến, giết mổ vốn đòi hỏi suất đầu tư lớn, nhưng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro thay vì chỉ tập trung vào phần ngọn là sản xuất con giống, cho thấy khát vọng, bản lĩnh và tầm nhìn của các doanh nghiệp chăn nuôi, bởi nếu không có được một hệ thống giết mổ chế biến đủ lớn, đủ hiện đại, khép kín, ngành chăn nuôi Việt Nam khó có thể trưởng thành và vươn ra thế giới. Theo Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi Nguyễn Văn Trọng, mặc dù năm 2020 vẫn chưa hết khó khăn, nhưng chứng kiến các tỉnh miền Trung phải trải qua 9 cơn bão liên tiếp, trong đó có những cơn bão với lượng mưa lớn chưa từng có trong lịch sử gây thiệt hại nặng nề, hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường, các doanh nghiệp, đơn vị, trung tâm trong ngành chăn nuôi đã ngay lập tức ủng hộ 1,1 triệu con giống gia cầm, 300 tấn thức ăn chăn nuôi cùng rất nhiều vật tư, thuốc thú y, vacxin, thuốc sát trùng trị giá nhiều tỷ đồng và hiện đã bàn giao xong. 2020 cũng chính là mốc lịch sử quan trọng với ngành chăn nuôi Việt Nam khi từ ngày 1/1/2020, Luật Chăn nuôi chính thức có hiệu lực. Lần đầu tiên chăn nuôi trở thành ngành nghề có điều kiện với hệ thống thể chế, pháp lý đầy đủ, hiện đại quản lý xuyên suốt từ con giống tới chăn nuôi, giết mổ, tiêu thụ và môi trường. Ngày 16/10/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1520 phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2045. Lần đầu tiên trong lịch sử ngành chăn nuôi có được một chiến lược phát triển bài bản, dài hơi và xứng tầm với vai trò, vị thế của ngành chăn nuôi trong tổng thể nền kinh tế của đất nước. Năm 2020 cũng là năm bước ngoặt với ngành chăn nuôi khi rất nhiều giống vật nuôi có giá trị và tiềm năng được đưa vào quản lý, điển hình là nghề nuôi chim yến. Hiện Bộ NN-PTNT và các bộ, ngành liên quan đang thực hiện các bước đàm phán xúc tiến để chính thức đưa tổ yến trở thành mặt hàng xuất khẩu chính ngạch sang thị trường Trung Quốc. Qua đó, tạo tiền đề quan trọng để nâng sản lượng tổ yến của Việt Nam từ 150 tấn/năm lên 300 tấn/năm, trở thành ngành hàng nông nghiệp xuất khẩu tỷ USD tiếp theo. Nguyên …

Tin mớiadmin06/01/2021
Đảm bảo đủ thực phẩm phục vụ tết Tân Sửu 2021
Đảm bảo đủ thực phẩm phục vụ tết Tân Sửu 2021

Bộ NN-PTNT khẳng định, tết Tân Sửu 2021 nguồn cung thực phẩm cơ bản đảm bảo đầy đủ dù ngành chăn nuôi vừa trải qua một năm vô cùng khó khăn do dịch bệnh. Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến kiểm tra an toàn thực phẩm tại cơ sở chế biến của HTX Hoàng Long, Thanh Oai, Hà Nội. Ảnh: Nguyên Huân. Kiểm tra và làm việc với UBND TP. Hà Nội chiều 29/12 về công tác an toàn thực phẩm dịp tết Tân Sửu 2021, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến cho biết, dù sản lượng thịt lợn sụt giảm do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi nhưng nhờ sự tăng trưởng vượt bậc từ lĩnh vực chăn nuôi gia cầm, đại gia súc ăn cỏ và thủy sản đã bù đắp cơ bản thiếu hụt do thịt lợn để lại. Đặc biệt, năm 2020, nhờ Bộ NN-PTNT đẩy mạnh thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản an toàn sinh học, khép kín, công nghệ cao, giết mổ, chế hiện đại theo chuỗi nên chất lượng các mặt hàng nông, lâm thủy sản ngày càng được nâng cao, số vụ vi phạm và mức độ vi phạm năm nay giảm mạnh so với 2019 và các năm trước. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến chia sẻ thêm, ảnh hưởng từ các cơn bão lịch sử vừa qua khiến chăn nuôi các tỉnh miền Trung chịu thiệt hại nặng nề, Bộ NN-PTNT ngay lập tức huy động được 1,1 triệu con giống gia cầm, trên 300.000 nghìn tấn thức ăn chăn nuôi cùng các vật tư khác hỗ trợ bà con nhân dân vào đàn, tái đàn để kịp thời có sản phẩm xuất bán đúng dịp tết này, góp phần hạn chế việc khan hiếm thực phẩm cục bộ tại một số địa phương. Thời gian gần đây giá lợn hơi trên thị trường có xu hướng nhích lên do nhu cầu tăng dịp tết cộng dịch bệnh tả Châu Phi bùng phát xôi đỗ tại một số địa phương nhưng nhờ tổng đàn lợn của cả nước đến nay đã phục hồi trên 85% so với trước dịch, đạt trên 26 triệu con, đàn nái đã phục hồi đạt 3 triệu con nên quý 1/2021 sản lượng thịt lợn sẽ tiếp tục tăng, vì vậy áp lực với mặt hàng thịt lợn tuy vẫn còn nhưng không quá lớn như đầu năm 2020. Ông Nguyễn Trọng Long, Giám đốc HTX Hoàng Long giới thiệu với Thứ trưởng Phùng Đức Tiến và đoàn công tác mô hình giết mổ lợn mini đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Ảnh: Nguyên Huân. Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Hà Nội Tạ Văn Tường cho biết, sản phẩm nông nghiệp phục vụ dịp tết năm nay của Hà Nội đa dạng, phong phú, chất lượng cao. Theo tính toán, nhu cầu thực phẩm trước, trong và sau tết Nguyên đán Tân Sửu 2021 của Hà Nội ước khoảng 292.000 tấn gạo, 56.000 tấn thịt lợn, 19.000 tấn thịt gà, 18.000 tấn thịt bò, 396 triệu quả trứng gia cầm, 315.000 tấn rau củ, 15.000 tấn thủy hải sản, 18.000 tấn thực phẩm chế biến, 156.000 tấn trái cây. Theo ông Tường, hiện sản lượng gia cầm, thủy sản đã đáp ứng 100% nhu cầu người dân, sản lượng gạo, rau, quả, thịt lợn, thịt gà… đáp ứng 60 – 90%. Ngoài ra, Hà Nội còn liên kết với các tỉnh, thành phố đưa nông sản, thực phẩm an toàn về thị trường Thủ đô tiêu thụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Ông Tường cho biết, Sở NN-PTNT Hà Nội chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, các đơn vị trực thuộc tiếp tục tăng cường công tác quản lý an toàn thực phẩm nông sản theo chức năng, nhiệm vụ được giao, nhất là tại các chuỗi, các chợ dân sinh, chợ đầu mối để khôn chỉ đảm bảo về số lượng mà phải đảm bảo cả chất lượng thực phẩm cho bà con nhân đân Thủ đô đón tết. Hiện đã có 25 đơn vị sản xuất, kinh doanh của TP. Hà Nội và các tỉnh, thành, 2 tổ chức tín dụng đăng ký tham gia chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhân dân thông qua 12.443 điểm bán, trong đó có 142 siêu thị; 1.351 cửa hàng tiện lợi, 7.680 cửa hàng tạp phẩm, 1.438 điểm bán tại các chợ, 495 bếp ăn tập thể, 5.000 điểm bán hàng ở các tỉnh, thành phố ngoài Hà Nội. Thông tin từ Sở Công thương Hà Nội, các đơn vị của Hà Nội đã xây dựng kế hoạch khai thác tăng lượng hàng hóa thiết yếu phục vụ tết tăng trung bình từ 7% đến 22% so với tết 2020, nguồn cung các mặt hàng dồi dào, cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân dịp tết. Ước tính tổng giá trị hàng hóa phục vụ tết trên địa bàn Hà Nội năm nay đạt khoảng 39.400 tỷ đồng, tăng 5% so với Tết năm 2020. Từ nay đến tết Nguyên đán Tân Sửu 2021, TP. Hà Nội cho biết, sẽ tổ chức hàng loạt Hội chợ hàng hóa nông sản thực phẩm Tết Tân Sửu 2021 trong tháng 1/2021 với quy mô dự kiến 200 gian hàng; Dự kiến tổ chức Hội chợ Xuân Tân Sửu năm 2021 thuộc dự án Tuần hàng Việt với quy mô 100 gian hàng trong tháng 2/2021; tổ chức 88 chợ Hoa Xuân phục vụ tết, các chuyến bán hàng lưu động về khu vực ngoại thành Hà Nội, các khu công nghiệp, khu chế xuất để đáp ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân; hỗ trợ các tỉnh, thành phố tổ chức 3 – 5 tuần hàng tại Hà Nội. Nguyên …

Tin mớiadmin04/01/2021
Đoàn Thanh niên Cục Chăn nuôi: ra quân cải tạo tường rào bao quanh và xây dựng “Hàng rào xanh”
Đoàn Thanh niên Cục Chăn nuôi: ra quân cải tạo tường rào bao quanh và xây dựng “Hàng rào xanh”

Hưởng ứng phong trào “Ngày Thứ bảy tình nguyện, ngày Chủ nhật xanh” do Đoàn Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phát động và kỷ niệm tháng thanh niên, được sự đồng ý của Đảng ủy Cục Chăn nuôi, Ban Giám đốc Trung tâm Khảo, kiểm nghiệm và kiểm định Chăn nuôi, Chi đoàn Cục Chăn nuôi đã tổ chức cải tạo tường rào bao quanh và xây dựng “Hàng rào xanh” trong khuôn viên Trung tâm Khảo, kiểm nghiệm và kiểm định Chăn nuôi tại Thụy Phương, Bắc Từ Liêm Hà Nội.   Phong trào “Ngày Thứ bảy tình nguyện, ngày Chủ nhật xanh” Trong ngày phát động, toàn thể đoàn thanh niên đã ra quân và trồng 400 cây Trúc quân tử, 20 cây Trắc nhật tạo nên 80 mét hàng rào bao quanh Trung tâm. Từ sáng sớm, các đoàn viên đã có mặt cùng nhau tiến hành vệ sinh khu vực khuôn viên và chuẩn bị cây trồng, toàn bộ số cây xanh đã được trồng tạo nên “Hàng rào xanh” góp phần xây dựng cảnh quan Trung tâm vừa đảm bảo môi môi trường đô thị xanh, sạch, đẹp. Đoàn thanh niên Cục Chăn nuôi tham gia trồng cây Cũng trong tháng thanh niên, Chi đoàn đã tổ chức cải tạo lại phần tường bao quanh. Toàn bộ mặt tường bao quanh trung tâm đã được sơn lại. Hàng rào bao quanh Trung tâm Công trình xanh thể hiện tinh thần xung kích, trách nhiệm của đoàn thanh niên trong nhiệm vụ xây dựng Trung tâm, giúp thanh niên nâng cao nhận thức về lợi ích của việc trồng cây gây rừng, góp phần xây dựng thành phố phát triển toàn diện, bền vững. Đoàn thanh niên Cục Chăn nuôi tích cực tham gia phong trào Công trình xanh thể hiện tinh thần xung kích, trách nhiệm của đoàn thanh niên trong nhiệm vụ xây dựng Trung tâm, giúp thanh niên nâng cao nhận thức về lợi ích của việc trồng cây gây rừng, góp phần xây dựng thành phố phát triển toàn diện, bền vững. Đây là một hoạt động có ý nghĩa thiết thực và nhận được sự hưởng úng nhiệt tình từ các đoàn viên, thanh niên, có ý nghĩa lớn trong việc tuyên truyền, nâng cao ý thức giữ gìn và bảo vệ cảnh quan, đồng thời góp phần truyền cảm hứng tới cộng đồng trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường sống.                                                         Đoàn thanh niên Cục Chăn nuôi …

Chi đoàn Cục Chăn nuôiadmin31/12/2020
Phòng chống đói rét cho đàn vật nuôi khu vực phía bắc
Phòng chống đói rét cho đàn vật nuôi khu vực phía bắc

Ngày 30-12, UBND tỉnh Hòa Bình phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) tổ chức Hội nghị triển khai công tác phòng chống đói rét cho đàn vật nuôi khu vực phía bắc.   Đồng chí Đinh Công Sứ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình phát biểu tại hội nghị. Tại hội nghị, Bộ NN và PTNT chỉ đạo, để giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại của thiên tai gây ra trước tình hình rét đậm, rét hại trên diện rộng, các địa phương cần tập trung chỉ đạo quyết liệt, áp dụng các biện pháp phòng, chống đói, rét cho đàn vật nuôi. Tuyên truyền, vận động nhân dân không chăn thả gia súc và cho gia súc làm việc ngoài trời khi nhiệt độ xuống 12 độ C. Đồng thời, đề nghị các địa phương thực hiện tốt các yếu tố như: bảo đảm toàn bộ vật nuôi được tiêm vaccine đầy đủ; sử dụng đúng định lượng hóa chất để khử khuẩn cho chuồng trại và trong quá trình tiêu hủy; xây dựng vùng an toàn dịch bệnh và an toàn sinh học tại địa phương; phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố, ổ dịch khi xảy ra. Bên cạnh đó, các địa phương cần tăng cường công tác phối hợp và huy động nguồn nhân lực tại chỗ để hỗ trợ kịp thời cho người dân triển khai các biện pháp phòng, chống đói rét cho đàn vật nuôi. Thực hiện công tác kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn người chăn nuôi áp dụng các biện pháp dự trữ thức ăn, che chăn chuồng trại. Thống kê đầy đủ, chính xác số lượng vật nuôi bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình Đinh Công Sứ cho biết, toàn tỉnh hiện có gần 116 nghìn con trâu, gần 85 nghìn con bò, hơn 446 nghìn con lợn, gần tám triệu con gia cầm và hơn 51 con dê. Năm 2020, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm theo giá so sánh đạt khoảng 3,4 nghìn tỷ đồng, vượt 4,5% so với cùng kỳ năm 2019. Nhiều mô hình chăn nuôi tập trung công nghiệp và hợp tác xã chăn nuôi hình thành và ngày càng mở rộng. Việc xây dựng chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể cho sản xuất vật nuôi có lợi thế của địa phương đã được cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể sản phẩm “Gà Lạc Sơn”, “Gà Lạc Thủy”, “Lợn bản địa huyện Đà Bắc”… Trên địa bàn tỉnh có năm nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi với tổng công suất khoảng 655 nghìn tấn/năm, có 225 cơ sở kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Người dân đã chủ động chuyển đổi tối đa diện tích đất sản xuất cây lương thực, hoa màu kém hiệu quả sang trồng cây thức ăn chăn nuôi, dự trữ chế biến thức ăn từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp cho trâu, bò và vụ đông. Trong năm vừa qua, tỉnh đã làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, tuyên truyền, vận động người dân thực hiện các biện pháp ứng phó với tình hình rét đậm, rét hại; hướng dẫn người chăn nuôi dự trữ thức ăn cho đàn vật nuôi. TRẦN HẢO     …

Tin mớiadmin30/12/2020
Ngành Chăn nuôi làm được điều mà thế giới chưa làm được
Ngành Chăn nuôi làm được điều mà thế giới chưa làm được

Năm 2020 mặc dù gặp khó khăn thách thức đủ bề, nhưng ngành Chăn nuôi đã làm được những điều mà thế giới chưa làm được. Phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác chỉ đạo ngành Chăn nuôi năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021 ngày 26/11 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến cho rằng, dù vẫn còn nhiều lĩnh vực, nhiều nhiệm vụ chưa hoàn thành như kỳ vọng nhưng trên tổng thể nền kinh tế, trong năm 2020 ngành Chăn nuôi đã đạt được những thành tựu to lớn chưa từng có trong lịch sử, đóng góp to lớn cho ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế chung của đất nước. Thành tựu nổi bật trong năm 2020 theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến là Việt Nam đã khống chế thành công bệnh dịch tả lợn Châu Phi nguy hiểm sớm hơn gần nửa năm so với Trung Quốc. Đặc biệt, chỉ trong vòng 1 năm, ngành Chăn nuôi đã bằng nhiều giải pháp từ nhập khẩu thịt lợn, nhập khẩu lợn sống, đẩy mạnh hỗ trợ chăn nuôi an toàn sinh học đã tái đàn với tốc độ nhanh kỷ lục, qua đó góp phận hạ nhiệt giá lợn từ cuối quý 3, đầu quý 4 năm 2020 theo đúng chỉ đạo của Chính phủ. Đến nay, tổng đàn lợn nái đã hồi phục về xấp xỉ 3 triệu con, tổng đàn lợn cả nước đạt trên 26 triệu con, bằng 85% tổng đầu lợn so với lức trước khi xảy ra dịch tả lợn Châu Phi. Với chăn nuôi gia cầm, năm 2020 tiếp tục tăng trưởng trên 10%, tổng đàn gia cầm cả nước lần đầu tiên đạt 500 triệu con. Vui hơn nữa là những ngày cuối năm 2020 ngành Chăn nuôi đón hàng loạt dự án đầu tư lớn vào lĩnh vực giết mổ chế biến gia súc, gia cầm và chuẩn bị có sản phẩm vacxin dịch tả lợn Châu Phi. Qua sự kiện này, Việt Nam đã chứng minh, những gì thế giới chưa làm được không đồng nghĩa với việc Việt Nam cũng không làm được. Một điểm nhấn với ngành Chăn nuôi năm 2020 theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến là lần đầu tiên ngành chăn nuôi có được một hành lang pháp lý hoàn thiện khi Luật Chăn nuôi cùng các Nghị định hướng dẫn chính thức có hiệu lực. Do đó, trong năm 2021, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến giao ngành chăn nuôi coi việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực chăn nuôi là một nhiệm vụ trọng tâm cần được ưu tiên. Một nhiệm vụ quan trọng khác trong năm 2021 với ngành chăn nuôi theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến là phải hoàn thiện xây dựng 5 đề án chiến lược cho ngành chăn nuôi Việt Nam theo Đề án Chiến lược Phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt. Để hoàn thiện 5 đề án này, Thứ trưởng giao năm 2021 Cục Chăn nuôi cần phải tổ chức được ít nhất 4 hội nghị, hội thảo chuyên đề về chăn nuôi lợn, chăn nuôi gia cầm, chăn nuôi đại gia súc ăn cỏ và một hội nghị về thức ăn chăn nuôi. Bên cạnh đó, năm 2021 ngành chăn nuôi cần vận dụng tối đa các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, vốn ODA và đặc biệt là nguồn vốn xã hội hóa tập trung cho lĩnh vực nghiên cứu khoa học và chương trình giống, bởi nói gì thì nói con giống vẫn là yếu tố quan trọng đầu tiên, căn bản với ngành chăn nuôi. Song song với việc tiếp tục xây dựng các cơ sở, vùng chăn nuôi an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến đề nghị trong năm 2021 ngành chăn nuôi cần đẩy mạnh xây dựng, thu hút các mô hình chăn nuôi công nghệ cao, chăn nuôi hiện địa, khép kín, tự động để tối ưu hóa sản xuất, tạo ra sản phẩm chăn nuôi có giá thành cạnh tranh, chất lượng cao để hướng tới xuất khẩu, tiếp tục duy trì chăn nuôi trở thành mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch tỷ USD của cả nước. Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi, tổng kết năm 2020 tổng đàn lợn cả nước đạt 26,17 triệu con (tăng khoảng 5%); tổng số bò 5,87 triệu con (tăng 4,2%); tổng số gia cầm xấp xỉ 500 triệu con (tăng 6,2%); sản lượng trứng đạt 14,5 tỷ quả, tăng khoảng 9,5% so với năm 2019. Sản lượng thịt bò hơi đạt khoảng 372,5 ngàn tấn, tăng khoảng 4,8%, so với năm 2019; tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi năm 2020 ước đạt 20 triệu tấn, tăng 5,6% so với năm 2019. Tổng giá trị chăn nuôi ước cả năm 2020 tăng khoảng 5,5% so với năm 2019. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, năm 2020, cả nước nhập khẩu 41.500 con lợn giống (kim ngạch 24,7 triệu USD), 301.000 con lợn thịt (kim ngạch 84,6 triệu USD); hơn 3,4 triệu con gia cầm giống (kim ngạch 17,9 triệu USD) và lượng trâu bò sống giết thịt là 518.000 con (kim ngạch 556 triệu USD). Tổng lượng thịt nhập khẩu các loại (thịt lợn, gà, gia súc, dê, cừu) là trên 321.000 tấn (bằng 6% so với tổng sản lượng thịt hơi sản xuất trong nước). Năm 2020 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi ước đạt khoảng 1,2 tỷ USD. Trong đó, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh khoảng 28,5 triệu USD; Thịt và phụ phẩm gia cầm sau giết mổ khoảng 25,1 triệu USD; Trứng gia cầm đã bảo quản hoặc làm chín khoảng 1,4 triệu USD; Mật ong tự nhiên khoảng 71,3 triệu USD; Xúc xích và các sản phẩm tương tự, phụ phẩm dạng thịt khoảng 0,3 triệu USD; Thịt và phụ phẩm dạng thịt đã chế biến khoảng 28,1 triệu USD. Thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu khoảng 789 triệu USD. Năm 2021, Cục chăn nuôi đặt mục tiêu tăng trưởng giá trị sản xuất chăn nuôi bình quân năm 2021 đạt khoảng 5-6%. Sản lượng thịt các loại đạt khoảng 5,7 triệu tấn, trong đó, thịt lợn đạt khoảng 3,67 triệu tấn (tăng 6,1%), thịt gia cầm đạt khoảng 1,5 triệu tấn (tăng 5,8%), thịt bò đạt khoảng 395 ngàn tấn (tăng 6%). Sản lượng trứng đạt khoảng 15,6 tỷ quả (tăng 7,5%) và sản lượng sữa đạt khoảng 1,21 triệu tấn (tăng 11,5%). Nguyên …

Tin mớiadmin28/12/2020
Việt Nam có nhà máy chế biến thịt gà xuất khẩu lớn nhất Đông Nam Á
Việt Nam có nhà máy chế biến thịt gà xuất khẩu lớn nhất Đông Nam Á

TTO – Với tổng công suất 100 triệu con gà thịt/năm, tổ hợp nhà máy CPV Food tại khu công nghiệp Becamex Bình Phước kỳ vọng đem về nguồn ngoại tệ 200 triệu USD/năm, tạo ra bước đột phá mạnh mẽ cho nghành chăn nuôi Việt Nam. Trứng gà được phân loại, ấp nở bằng công nghệ tự động, hiện đại tại nhà máy CPV Food Bình Phước – ẢNH: N.TRÍ Ngày 23-12, Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Bình Phước với sự tham dự của Phó thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình và hàng trăm doanh nghiệp đã diễn ra. Khuôn khổ chương trình có lễ khánh thành tổ hợp nhà máy CPV Food – dự án trọng điểm trong thu hút đầu tư tỉnh Bình Phước. Phát biểu tại hội nghị, bà Trần Tuệ Hiền – chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước – cho biết nhờ cam kết tạo môi trường đầu tư thuận lợi nên số lượng doanh nghiệp đầu tư vào Bình Phước ngày càng tăng, nhiều dự án đi vào hoạt động hiệu quả. Riêng dự án CPV Food sau hai năm xúc tiến đến nay đã khánh thành. Theo ông Nguyễn Xuân Cường – bộ trưởng Bộ NN&PTNT – với công suất thiết kế 100 triệu con gà thịt/năm (sau năm 2023), chiếm khoảng 20% tổng lượng gà cả nước, CPV Food Bình Phước đi vào vận hành sẽ đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia sản xuất thực phẩm từ gia cầm lớn trên thế giới, giúp thúc đẩy mạnh sự phát triển ngành chăn nuôi trong nước. Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó thủ tướng Trương Hòa Bình đánh giá cao sự chủ động của tỉnh Bình Phước, Bình Dương và của các nhà đầu tư đã có những cách làm sáng tạo trong bối cảnh bị ảnh hưởng của dịch COVID-19 nhưng vẫn hoàn thành nhà máy, xuất khẩu những lô hàng đầu tiên đi nước ngoài, tạo ra sự tăng trưởng. Phó thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tham gia hội nghị – ẢNH: NGUYỄN TRÍ Phó thủ tướng yêu cầu cơ quan chức năng của địa phương và các doanh nghiệp cần tích cực chuẩn bị, hoàn thiện cơ sở hạ tầng và mở rộng các khu công nghiệp để đón nhận các nhà đầu tư, trong đó chú trọng ưu tiên các nhà máy đầu tư thông minh, mang lại giá trị gia tăng cao. “Các nhà đầu tư cần triển khai dự án đúng tiến độ, tránh việc đăng ký “dự án ảo” và trong sự phát triển dự án phải gắn với bảo vệ môi trường, đảm bảo an sinh xã hội tại địa phương”, Phó thủ tướng nhấn mạnh. UBND tỉnh Bình Phước trao chứng nhận cho các nhà đầu tư tại hội nghị – ẢNH: NGUYỄN TRÍ Tại hội nghị xúc tiến đầu tư, UBND tỉnh Bình Phước đã trao quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 35 nhà đầu tư, thực hiện 46 dự án đầu tư (trong KCN Minh Hưng – Sikico 11 dự án; KCN Becamex – Bình Phước 15 dự án; 20 dự án hạ tầng cụm công nghiệp và ngoài KCN) với tổng vốn đăng ký đầu tư 46.276 tỉ đồng, tương đương gần 2 tỉ USD; tăng gần gấp đôi so với Hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2018. Riêng dự án CPV Food với số vốn đầu tư ban đầu 250 triệu USD – là nhà máy chế biến thịt gà có qui mô lớn nhất Đông Nam Á – kỳ vọng sẽ cung cấp sản phẩm thịt gà chất lượng cao, an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu: Nhật Bản (45%), châu Âu (35%), châu Á (10%) và Trung Đông (10%). Thực hiện trên vùng an toàn dịch bệnh đầu tiên của Việt Nam Tổ hợp nhà máy CPV Food Bình Phước (nằm tại KCN Becamex Bình Phước) chia thành 2 giai đoạn. Trong đó, giai đoạn 1 (từ năm 2019-2023) được thực hiện trên 6 địa phương thuộc tỉnh Bình Phước gồm: TP.Đồng Xoài, thị xã Bình Long, huyện Đồng Phú, huyện Chơn Thành, huyện Hớn Quản, huyện Bù Đăng. Hiện nay, 6 địa phương trên đã được Tổ chức thú y thế giới OIE công nhận là vùng an toàn dịch bệnh đầu tiên tại Việt Nam. Sau lễ khánh thành, CPV Food Bình Phước đã xuất khẩu lô thịt gà đầu tiên sang Hong Kong. Thu hút đầu tư trong nước vào Bình Phước tăng mạnh Theo UBND tỉnh Bình Phước, năm 2020 tỉnh thu hút đầu tư trong nước 120 dự án, với số vốn đăng ký 120.000 tỷ đồng, tăng 17%; thu hút đầu tư nước ngoài 36 dự án, vốn đăng ký 432 triệu USD; lũy kế đến nay Bình Phước có 272 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký là 2 tỉ 718 triệu …

Tin mớiadmin24/12/2020
Video hướng dẫn khai báo hệ thống một cửa gia tại Cục Chăn nuôi

  Thủ tục Đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu. Thủ tục Miễn giảm kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập …

Thông báoadmin23/12/2020
Môi trường đầu tư nông nghiệp cải thiện vượt bậc sau 10 năm cải cách
Môi trường đầu tư nông nghiệp cải thiện vượt bậc sau 10 năm cải cách

Bộ NN-PTNT có sự cải thiện vị trí một cách mạnh mẽ trên bảng xếp hạng Cải cách hành chính khi tăng mạnh từ vị trí thứ 13 lên vị trí thứ 4. Thứ trưởng Thường trực Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn cho biết, định hướng cải cách hành chính giai đoạn 2021-2030 của ngành NN-PTNT là tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm xây dựng nền hành chính phát triển, xây dựng nhà nước kiến tạo, hành động, chuyên nghiệp, kỷ cương, công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình. Ảnh: Nguyên Huân. Tại hội nghị tổng kết 10 năm Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 và triển khai định hướng cải cách hành chính giai đoạn 2021-2030 diễn ra chiều 21/12 tại tỉnh Ninh Bình, Thứ trưởng Thường trực Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn khẳng định, cải cách hành chính luôn là nội dung trọng tâm thường xuyên được quan tâm, đây là động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển lĩnh vực NN-PTNT thời gian tới. Kết quả cải cách hành chính thực hiện trong 10 năm qua của ngành NN-PTNT đựợc thể hiện toàn diện trên cả 7 nội dung về cải cách thể chế trong lĩnh vực NN-PTNT như: Cải cách thủ tục hành chính; cải cách bộ máy; Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức; Cải cách tài chính công; Hiện đại hóa hành chính… Qua đó tạo sự chuyển biến trong quản lý, điều hành của Bộ, góp phần thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Chỉ số cải cách hành chính của Bộ NN-PTNT, từ xếp hạng thứ 13 năm 2016 lên vị trí thứ 7 năm 2017 và giữ vị trí thứ 4 trong 2 năm liên tiếp được đánh giá gần đây là năm 2018 và 2019. Với phương châm quyết liệt thực hiện đảm bảo đơn giản, công khai, minh bạch và cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết nhưng vẫn phải đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước do Bộ quản lý, đến tháng 12 năm nay, lĩnh vực NN-PTNT đã có 390 thủ tục hành chính được công khai trên Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng thông tin điện tử của Bộ và Cổng thông tin điện tử của các đơn vị theo đúng quy định. So với thời điểm tháng 1/2016, Bộ đã cắt giảm được 118 thủ tục hành chính. Về rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính kiểm tra chuyên ngành đã đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa 32 trong tổng số 63 thủ tục hành chính, đạt 50,7% kế hoạch đề ra, đã đạt yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ… Thứ trưởng Thường trực Hà Công Tuấn nhấn mạnh, cải cách hành chính muốn hiệu quả phải luôn bám sát chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ. Theo đó, phải cập nhật kịp thời xu hướng quản lý tiên tiến của thời đại, đó là vận hành nền hành chính nhưng phải đảm bảo vận hành theo cơ chế thị trường. Bộ NN-PTNT coi cải cách hành chính là nhiệm vụ trọng tâm và là nguồn lực khai thác để phát triển lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Công cuộc cải cách hành chính gắn liền với sự phát triển của Nhà nước, thời gian tới việc cải cách hành chính của Bộ tiếp tục phải làm một cách đồng bộ. Trong đó trọng tâm là cắt giảm tối thiểu những thủ tục hành chính rườm rà trên quan điểm chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở đánh giá rủi ro. “Để làm được điều này đột phá tới đây là phải ứng dụng công nghệ thông tin, làm tốt chương trình Chính phủ điện tử mà Chính phủ đã có Đề án và kế hoạch, chỉ có điều chúng ta làm cho tốt hơn để công dân có thể tiếp xúc với Chính phủ, tham gia với Chính phủ một cách công khai, minh bạch”, Thứ trưởng Thường trực Hà Công Tuấn chia sẻ. Thứ trưởng Thường trực Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn tặng Bằng khen của Bộ trưởng cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác cải cách hành chính 10 năm qua. Ảnh: Nguyên Huân. Ông Nguyễn Trọng Thừa, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Phó trưởng ban Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ đánh giá cao những nỗ lực của Bộ NN-PTNT về cải cách thủ tục hành chính trong giai đoạn vừa qua. Theo ông Nguyễn Trọng Thừa, là một đơn vị siêu bộ và quản lý lĩnh vực vô cùng rộng lớn, nhưng đến nay có thể khẳng định Bộ NN-PTNT đã làm rất tốt, rất sáng tạo và rất quyết liệt công tác cải cách hành chính, cải cách thể chế và bộ máy. Nỗ lực của Bộ NN-PTNT được các bộ, ngành, doanh nghiệp, người dân, Chính phủ và Quốc hội ghi nhận và được thể hiện rõ nét nhất quả việc giữ vững vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng cải cách hành chính trong hai năm qua. Trong thời gian tới, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Trọng Thừa đề nghị Bộ NN-PTNT tiếp tục phát huy những kết quả đạt được. Trong cải cách về thể chế cần tập trung xây dựng những văn bản quy phạm pháp luật chất lượng và lượng hóa để tránh chồng chéo về 1 việc mà nhiều đơn vị cùng làm như trong lĩnh vực đất đai, lâm nghiệp. Định hướng cải cách hành chính giai đoạn 2021-2030 của ngành NN-PTNT là tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm xây dựng nền hành chính phát triển, xây dựng nhà nước kiến tạo, hành động, chuyên nghiệp, kỷ cương, công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình; xây dựng đội ngũ công chức, viên chức có phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ; hệ thống cơ quan hành chính tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, có năng lực kiến tạo phát triển, liêm chính, phục vụ nhân dân. Nguyên …

Tin mớiadmin22/12/2020
KDI Holdings chi 2.000 tỷ đồng xây dựng trang trại nuôi lợn công nghệ cao
KDI Holdings chi 2.000 tỷ đồng xây dựng trang trại nuôi lợn công nghệ cao

Bên cạnh 100ha chuối công nghệ cao, Tập đoàn KDI Holdings còn đầu tư hơn 2.000 tỷ đồng vào dự án nuôi lợn, trồng ngô ở vùng Tây Nguyên sỏi đá khô cằn Trong những năm qua, tình hình dịch bệnh bùng phát, đặc biệt là dịch tả châu Phi đã gây ra những tác động tiêu cực đến ngành chăn nuôi trong nước nói chung và thế giới nói riêng. Chính phủ đã và đang ra sức chỉ đạo tái tạo, khôi phục tổng đàn lợn cũng như ổn định nguồn cung thực phẩm thiếu hụt, bình ổn thị trường kinh tế. Chung tay đóng góp cho sự phát triển nền chăn nuôi nước nhà, Tập đoàn KDI Holdings đầu tư dự án liên hợp nông nghiệp công nghệ cao Phước An ở huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Krông Pắc là huyện cao nguyên có địa hình tương đối bằng phẳng nằm ở phía Đông tỉnh Đắk Lắk, nơi có các tuyến quốc lộ chạy dọc huyện nối liền với thành phố du lịch Nha Trang đồng thời kết nối ra quốc lộ 14 chạy về TP.HCM. Khí hậu Krông Pắc tương đối mát mẻ, phù hợp với ngành trồng trọt và chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn. Bên cạnh đó, bản thân địa phương cũng định hướng phát triển chăn nuôi lợn. Từ đó, chủ trương phát triển của Công ty TNHH HTV Lâm nghiệp Phước An (Tập đoàn KDI Holdings đầu tư vốn) trong những năm tới là tập trung nghiên cứu, triển khai hệ thống quy mô trang trại chăn nuôi khép kín ứng dụng công nghệ cao. Xã Vụ Bổn, huyện Krông Pắc được chọn làm trang trại chăn nuôi lợn nái.  Quy mô dự án gồm trại lợn giống bố mẹ với 10.000 con, trại lợn giống ông bà cụ kị 2.000 con, trại lợn thịt thương phẩm 144.000 con, khu sản xuất ngô nguyên liệu thức ăn chăn nuôi 30.000 tấn mỗi năm, nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ từ phế thải trang trại. Tháng 9-2020, dự án được Tập đoàn KDI Holdings bắt đầu triển khai và dự kiến hoàn thành xây dựng cơ bản trong 18 tháng với tổng diện tích đất cho trang trại khoảng 750ha. Theo quy hoạch mô hình trang trại sinh thái khép kín ứng dụng công nghệ cao với tổng giá trị dự trù đầu tư hơn 2.000 tỷ đồng. Mô hình khép kín từ khu quy hoạch, trồng ngô, xây dựng nhà máy và cung cấp thức ăn trong khu. Hệ thống cấp thức ăn cho lợn hoàn toàn tự động. Từ vùng trồng ngô sẽ tiến vào nhà máy sản xuất thức ăn, xe bồn vận chuyển tới silo chứa cám trung tâm trang trại, phân phối tới các silo đầu chuồng và từ đó tự động cấp tới máng ăn từng con theo tiêu chuẩn. Ông Kiều Hữu Long – Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH HTV Lâm nghiệp Phước An cho biết, công ty đã tính toán kỹ lưỡng từng giai đoạn đầu tư xây dựng cụ thể. Ở giai đoạn đầu, chủ đầu tư sẽ làm đường giao thông nội bộ khu vực xây dựng trang trại, khoan giếng lắp hệ thống nước sạch, xây hàng rào, cổng, bốt bảo vệ, khu ăn ở sinh hoạt cho cán bộ, công nhân. Tiếp đó, việc lắp trạm biến thế điện, nhà làm việc của ban quản lý xây dựng trại, xây dựng bể biogas, đào ao xử lý chất thải cân bằng môi trường sinh thái, san lấp mặt bằng, làm mương máng thoát chất thải, xây dựng chuồng nuôi lợn của các khu vực, lợn bố mẹ, đực giống, dự bị, lợn sữa, lợn cai sữa, lợn thịt, khu cách ly, khu xuất bán, xây dựng xưởng cơ điện, trạm khử trùng, xây dựng trạm cân điện tử, cân ô tô… sẽ được hoàn thành. Việc xây dựng chuồng trại cũng được chia theo từng phân khu. Trong đó, quy mô trại nái đủ nuôi 12.000 con nái, 200 con đực giống được lập thành 4 phân khu riêng tương đương 40ha khuôn viên xây dựng chuồng trại. Giai đoạn 1 năm 2020, công ty đầu tư chuồng trại nuôi 3000 lợn nái và 50 lợn đực giống, năm 2021 thả nuôi 9000 lợn nái và 150 lợn đực. Quy mô trại heo thương phẩm 144.000 con cũng được đầu tư trong hai giai đoạn 2020 và 2021. Dự kiến, cuối năm 2021 dự án hoàn thành toàn bộ đầu tư và đưa vào hoạt động 100% công suất chuồng trại. Theo lãnh đạo Tập đoàn KDI Holdings, mục tiêu của dự án không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng đất, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất thực phẩm sạch, chất lượng bằng phương pháp khoa học kỹ thuật, công nghệ cao mà còn tạo việc làm nâng cao thu nhập trực tiếp cho khoảng 200 lao động trong năm đầu tiên, và tăng dần khi sản xuất kinh doanh đi vào ổn định. Với quy mô của trang trại có 12.200 con lợn nái, đực sinh sản và 144.000 con thương phẩm, vấn đề vệ sinh môi trường, phòng tránh dịch bệnh được công ty đưa lên hàng đầu. Theo giải pháp dự án đưa ra, chất thải phát sinh trong quá trình chăn nuôi là phân được máy cào gom về khu chế biến phân vi sinh. Nước sau khi ép lọc chảy vào bể biogas tạo khí gas làm chất đốt dùng cho trang trại như nấu nướng, sưởi ấm cho trang trại về mùa lạnh. Nước sau khi qua hố biogas được xử lý nuôi cấy men vi sinh phân hủy hoàn toàn chất hữu cơ tồn đọng và khử mùi. Sau đó, nước tiếp tục chảy vào các hồ thủy sinh lắng đọng có thời gian và nuôi cá. Từ đây nước sạch đảm bảo không có mùi hôi thối, đạt tiêu chí, tiêu chuẩn cos B về vệ sinh môi trường của Sở Tài nguyên – Môi trường quy định. Nước sạch được dùng để tưới cho hệ thống trang trại trồng ngô khép kín của công ty… Tổng Giám đốc Tập đoàn KDI Holdings Đỗ Tuấn Anh cho biết, có rất nhiều cột mốc quan trọng trong lộ trình phát triển các dự án tiếp theo của KDI, từ bất động sản, giáo dục, nội thất, nông nghiệp… Và ở địa hạt đầu tư nào, KDI cũng hướng đến những cơ hội, ngành nghề đóng góp cho xã hội, nền kinh tế. Từ việc đầu tư vào trồng chuối công nghệ cao, đến giờ là hoạch định chiến lược nuôi lợn công nghệ cao ở vùng Tây Nguyên, KDI muốn đổi thay đời sống của người dân khu vực, “khai phá” cho người dân nơi đây hướng đi mới làm thế nào để tạo ra cuộc sống tốt đẹp hơn trên mảnh đất họ sinh sống bao đời với chính nông sản họ làm ra. P.V (Báo Tiền …

Tin mớiadmin14/12/2020
Nghệ An: Kiểm tra việc khắc phục tồn tại của Công ty Đại Thành Lộc
Nghệ An: Kiểm tra việc khắc phục tồn tại của Công ty Đại Thành Lộc

(Chinhphu.vn) – Qua Cổng TTĐT Chính phủ, ông Bùi Xuân Định đề nghị cơ quan chức năng có biện pháp xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường tại xã Nam Hưng, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An do hoạt động chăn nuôi lợn của Công ty TNHH Đại Thành Lộc gây ra. Theo phản ánh của ông Định, Công ty TNHH Đại Thành Lộc thành lập năm 2007, có địa chỉ tại xóm 10, xã Nam Hưng, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Công ty có trại chăn nuôi lợn siêu nạc, quy mô 4.000 con. Trại lợn nằm ở thượng nguồn hồ Tràng Đen. Toàn bộ chất thải, chất tẩy rửa từ trại đều xả thẳng xuống hồ. Hồ Tràng Đen là nguồn nước chính của hàng ngàn hộ dân xã Nam Hưng. Hàng chục năm qua, hoạt động của trại lợn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Gần đây, khi Sở Tài nguyên và Môi trường lấy mẫu nước giếng để kiểm tra thì các chỉ số đều vượt mức an toàn. Ông Định đề nghị cơ quan chức năng có biện pháp giải quyết để bảo đảm an toàn cho người dân trên địa bàn. Về kiến nghị của ông Bùi Xuân Định, UBND tỉnh Nghệ An có ý kiến như sau: Ngày 11/8/2020, UBND tỉnh Nghệ An đã có Văn bản số 451/TB-UBND thông báo ý kiến kết luận của Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Hồng Vinh tại cuộc họp giải quyết vấn đề về môi trường tại trang trại lợn của Công ty TNHH Đại Thành Lộc (xã Nam Hưng, huyện Nam Đàn). Thực hiện ý kiến chỉ đạo nêu trên, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An và các sở, ngành, UBND các cấp đã tiếp tục triển khai các nội dung công việc được giao. Ngày 16/9/2020, Sở Tài nguyên và Môi trường có Văn bản số 4735/BC-STNMT báo cáo về việc giải quyết vấn đề môi trường trại lợn Công ty TNHH Đại Thành Lộc và hồ Tràng Đen. Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường, Công ty TNHH Đại Thành Lộc đã triển khai các nội dung để khắc phục tình trạng ô nhiễm như sau: Tiến hành xử lý xác lợn chết, phun khử trùng, tiêu độc, thực hiện phòng chống dịch bệnh, hoàn thành ngày 4/8/2020. Lắp thêm hệ thống xử lý mùi tại chuồng trại, hoàn thành ngày 14/8/2020. Thay thế, sửa chữa bạt chống thấm tại hồ lắng nước thải, hoàn thành ngày 16/8/2020. Thay thế mương dẫn nước thải bằng đường ống nhựa PVC, hoàn thành ngày 17/8/2020. Đã tiến hành đào đắp đê quai ngăn nước mưa từ khu vực xung quanh không cho chảy vào hệ thống xử lý nước thải, hoàn thành ngày 14/9/2020. Đồng thời, Công ty đang triển khai xử lý nước mặt ô nhiễm tại hồ gom nước mặt của trang trại, cải tạo thành hồ xử lý nước thải không cho nước mưa chảy vào hồ. Nghiên cứu thay đổi công nghệ hệ thống xử lý nước thải bảo đảm tuần hoàn tái sử dụng 100% nước thải phục vụ chăn nuôi không thải ra ngoài môi trường, lập hồ sơ xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường. Trong thời gian khắc phục các tồn tại, hạn chế về bảo vệ môi trường, Sở đã yêu cầu Công ty TNHH Đại Thành Lộc thực hiện giảm tổng đàn phù hợp với quy mô, công suất và đáp ứng hệ thống xử lý nước thải hiện có, đồng thời có giải pháp không cho nước thải xả ra ngoài môi trường. Hiện nay Công ty giảm tổng đàn xuống 6.600 con/6.830 con và đang thực hiện tuần hoàn tái sử dụng nước thải, không thải ra ngoài môi trường. Để tiếp tục giải quyết các kiến nghị của người dân, cũng như giải quyết các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường của Công ty TNHH Đại Thành Lộc, Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp tục đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các nội dung sau: – Yêu cầu Công ty TNHH Đại Thành Lộc thực hiện nghiêm chỉnh quyết định xử phạt vi phạm hành chính và các văn bản chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền. – Giao Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp tục phối hợp với UBND huyện Nam Đàn, UBND xã Nam Hưng và các cơ quan có liên quan đôn đốc, kiểm tra, giám sát quá trình khắc phục các tồn tại của Công ty TNHH Đại Thành Lộc và quyết định xử phạt vi phạm hành chính của UBND tỉnh. – Giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu, đề xuất và báo cáo UBND tỉnh các nội dung: Chỉ đạo sản xuất nước khu vực nông thôn các xóm Tràng Đen, Bắc Sơn, Cao Hùng, Đình Long, Phòng Sơn thuộc xã Nam Hưng bảo đảm theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành; Chỉ đạo Công ty TNHH MTV Thủy lợi Nam Nghệ An triển khai nạo vét lòng hồ Tràng Đen để làm sạch hồ, cải thiện chất lượng nước hồ. – Giao UBND huyện Nam Đàn, UBND xã Nam Hưng tiếp tục tuyên truyền, giải thích, vận động người dân bình tĩnh, ổn định đời sống, bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn. Giám sát quá trình khắc phục các tồn tại của Công ty TNHH Đại Thành Lộc. Kiểm tra, xử lý nghiêm các nguồn thải của cơ sở/hộ gia đình sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh, dịch vụ có xả chất thải chưa xử lý vào hồ Tràng Đen. Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong sản xuất nước cho các xóm bảo đảm đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành, cũng như nạo vét làm sạch hồ Tràng Đen để cải thiện chất lượng nước hồ. Trên cơ sở đề nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Công văn số 4735/BC-STNMT nêu trên, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Hồng Vinh có ý kiến như sau: Giao các Sở: Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND huyện Nam Đàn tiếp tục rà soát để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao và các nội dung theo đề nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp, tham mưu. Giao Sở Tài nguyên và Môi trường đôn đốc, kiểm tra, giám sát quá trình khắc phục các tồn tại của Công ty TNHH Đại Thành Lộc; trên cơ sở kết quả khắc phục các tồn tại của Công ty và báo cáo kết quả thực hiện của các Sở, UBND huyện Nam Đàn để chủ động tham mưu UBND tỉnh, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định các vấn đề có liên quan theo quy định của pháp luật. …

Tin mớiadmin10/12/2020
Thực hành quản lý tốt và an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm
Thực hành quản lý tốt và an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm

Đó là chủ đề hội thảo do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở NN-PTNT Hải Phòng vừa tổ chức. Khái lược kết quả đạt được trong công tác truyền thông tài liệu thời gian qua, TS. Hạ Thúy Hạnh – Phó Giám đốc Trung tâm Khuyên nông Quốc gia cho biết: Được sự hỗ trợ của FAO (Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc) từ năm 2015 đến nay, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã xây dựng và tuyên truyền được 5 bộ tài liệu về an toàn sinh học (ATSH) trong chăn nuôi gia cầm, các bộ tài liệu này đang đăng tải trên Website www.khuyennongvn.gov.vn. Đồng thời còn tổ chức được 02 Hội thảo tuyên truyền các bộ tài liệu nói trên tại miền Bắc và miền Nam; 01 Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm về Mô hình cải thiện điều kiện ATSH trong chăn nuôi gia cầm; 02 diễn đàn nâng cao nhận thức quản lý vịt chạy đồng xuyên biên giới giữa Việt Nam và Campuchia; 01 Diễn đàn Sản xuất Giống và ATSH  trong chăn nuôi gia cầm; Tổ chức được 48 lớp tập huấn thực hành tốt và ATSH trong cơ sở chăn nuôi gia cầm cho cán bộ khuyến nông, cán bộ chuyên môn, giảng viên nguồn và nông dân các tỉnh thành, các trường đại học, cao đẳng nông nghiệp về chăn nuôi, thú y; Xây dựng 01 cuốn phim kỹ thuật về thực hành tốt và ATSH để giảm thiểu kháng sinh, cùng một số công cụ truyền thông về giảm thiểu nguy cơ đối với bệnh cúm gia cầm,… Theo đó, hiện có 29 hệ thống khuyến nông của tỉnh và 10 trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, tổ chức hội đang sử dụng tài liệu của FAO để tập huấn/ tư vấn cho nông dân thông qua cán bộ được cử đi tham gia các lớp tập huấn. Qua khảo sát các học viên nguồn (trong số cán bộ khuyến nông được đào tạo từ các lớp TOT), cho thấy: Tỷ lệ sử dụng toàn bộ hoặc một phần tài liệu của FAO để tập huấn cho nông dân hoặc khuyến nông viên cơ sở là 100%. Các học viên đều đánh giá rất cao các tài liệu này, vì nội dung súc tích, dễ hiểu, nhiều sinh viên cho rằng tài liệu của FAO dễ tiếp thu hơn so với các giáo trình hiện hành trong trường đại học. Các sự kiện tuyên truyền và tập huấn về kháng kháng sinh của khuyến nông, bước đầu đã tạo dựng được nhận thức của người chăn nuôi, cán bộ khuyến nông, cán bộ thú y các địa phương, về một hậu quả to lớn nếu lạm dụng hoặc sử dụng kháng sinh không đúng cách, bên cạnh đó ATSH còn là chìa khoá giúp giảm thiểu sử dụng kháng sinh trong các trang trại chăn nuôi, tạo ra các sản phẩm an toàn, sạch phục vụ sức khoẻ cộng đồng. …

Tin mớiadmin10/12/2020
Tài liệu Hướng dẫn sử dụng phần mềm một cửa quốc gia tại BNN&PTNT năm 2020

Thông báoadmin06/11/2020
Công văn số 7562/BNN-PC ngày 30/10/2020 về việc hưởng ứng Cuộc thi Tìm hiểu pháp luật trực tuyến“Pháp luật với mọi người”

Thiết thực hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam, ngày 05/10/2020, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch số 3695/KH-BTP về việc tổ chức Cuộc thi tìm hiểu pháp luật trực tuyến năm 2020 (sau đây gọi tắt là Cuộc thi) và thành lập Ban Tổ chức Cuộc thi. Ngày 15/10/2020,Ban Tổ chức Cuộc thi đã ban hành Thể lệ số 3819/TL-BTC. Căn cứ nội dung nêu trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ quan tâm thực hiện các nội dung sau đây: 1. Vận động, khuyến khích, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc phạm vi quản lý tích cực hưởng ứng, tham gia Cuộc thi. 2. Đẩy mạnh công tác truyền thông về Cuộc thi trên Cổng/Trang Thông tin điện tử hoặc hình thức phù hợp khác; có thể đăng tải đường link của Cuộc thi trên Cổng/Trang Thông tin điện tử của các cơ quan, đơn vị; chủ động cập nhật tin, bài truyền thông về Cuộc thi và gửi về Ban Tổ chức (email: anhm@moj.gov.vn) để theo dõi, đăng tải trên trang chủ của Cuộc thi. 3. Cuộc thi sẽ diễn ra đến hết ngày 20/11/2020. Để tham gia Cuộc thi, người thi truy cập vào Chuyên mục Cuộc thi trực tuyến “Pháp luật với mọi người” trên Cổng Thông tin điện tử BộTư pháp; Trang tin Phổ biến, giáo dục pháp luật -Bộ Tư pháp và Báo Pháp luật Việt Nam điện tử hoặc website của Cuộc thi theo đường dẫn:https://pbgdpl.moj.gov.vn/qt/cuocthi/Pages/home.aspx./. Trân trọng cảm ơn sự phối hợp của Quý cơ quan, đơn …

Công văn, Thông báoadmin05/11/2020
THÔNG BÁO MỜI THAM GIA NUÔI GIỮ GIỐNG GỐC VÀ CUNG ỨNG SẢN PHẨM GIỐNG GỐC VẬT NUÔI NĂM 2020 ĐỢT 3
THÔNG BÁO MỜI THAM GIA NUÔI GIỮ GIỐNG GỐC VÀ CUNG ỨNG SẢN PHẨM GIỐNG GỐC VẬT NUÔI NĂM 2020 ĐỢT 3

Cục chăn nuôi được Bộ Nông nghiệp và PTNT giao đầu mối triển khai Chương trình giống gốc vật nuôi năm 2020, xin thông báo mời đợt 3 tham gia Chương trình giống gốc vật nuôi gồm 18 chủng loại, số lượng và địa điểm nuôi giữ cụ thể như sau: TT Loại giống gốc ĐVT Số lượng Khu vực thực hiện 1 Lợn VCN nái GGP SS con 350 Miền Bắc 2 Lợn đực VCN KTNS phục vụ sản xuất con 50 Miền Bắc 3 Lợn YS, LR và DR hoặc Pi nái GGP SS con 150 Miền Bắc 4 Lợn đực KTNS phục vụ sản xuất con 150 Miền Bắc 5 Lợn Móng Cái nái thuần SS con 100 Miền Bắc 6 Lợn Móng Cái nái thuần SS con 140 Miền Bắc 7 Gà H’Mông mái thuần SS con 1.700 Miền Bắc 8 Vịt biển mái thuần SS con 1.500 Miền Nam 9 Vịt biển mái thuần SS con 1.000 Miền Bắc 10 Vịt biển mái thuần SS con 600 Miền Bắc 11 Vịt SM2 mái dòng thuần SS con 3.000 Miền Bắc 12 Trâu đầm lầy cái thuần SS con 60 Miền Bắc 13 Bò đực giống nhập khẩu sản xuất tinh con 30 Miền Bắc 14 Bò đực giống nhập khẩu sản xuất tinh con 22 Miền Bắc 15 Dê Boer cái thuần SS con 60 Miền Nam 16 Dê Boer cái thuần SS con 150 M/Bắc và M/Trung 15 Dê bách thảo cái thuần SS con 200 M/Bắc và M/Trung 18 Dê bách thảo cái thuần SS con 140 Miền Nam Xin mời các cơ sở chăn nuôi có đủ điều kiện năng lực về con người, cơ sở vật chất và đàn giống gốc vật nuôi đáp ứng Quyết định số 2317/QĐ-BNN-CN ngày 07/6/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt tiêu chí đối với cơ sở nuôi giữ giống gốc, sản xuất và cung ứng sản phẩm giống gốc vật nuôi và giống gốc thủy sản, Quyết định số 675/QĐ-BNN-CN ngày 4/4/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTN đăng ký tham gia thực hiện việc nuôi giữ đàn giống gốc và cung ứng sản phẩm giống gốc từ 1/1 đến 31/12/2020. Đăng ký tham gia bằng văn bản có chữ ký và đóng dấu gửi về Cục Chăn nuôi – Bộ nông nghiệp và PTNT, số 16, Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội từ 09 giờ ngày 29/10 đến 09 giờ ngày 05/11/2020. (Liên hệ chi tiết với bà Trần Thị Ngọc Lan, Phòng giống vật nuôi – Cục Chăn nuôi, Điện Thoại: 0961186668, E.mail: ngoclanmanh@yahoo.com)     Hà Nội, Ngày 28 tháng 10 năm 2020 CỤC CHĂN …

Thông báo, Tin mớiadmin29/10/2020
THÔNG BÁO  MỜI THAM GIA NUÔI GIỮ GIỐNG GỐC VÀ CUNG ỨNG SẢN PHẨM GIỐNG GỐC VẬT NUÔI NĂM 2020 ĐỢT 2
THÔNG BÁO MỜI THAM GIA NUÔI GIỮ GIỐNG GỐC VÀ CUNG ỨNG SẢN PHẨM GIỐNG GỐC VẬT NUÔI NĂM 2020 ĐỢT 2

Cục chăn nuôi được Bộ Nông nghiệp và PTNT giao đầu mối triển khai Chương trình giống gốc vật nuôi năm 2020 đợt 2 gồm 8 chủng loại và số lượng cụ thể như sau: TT Loại giống gốc ĐVT Số lượng Khu vực thực hiện 1 Lợn YS, LR và DR nái GGP SS con 300 Miền Nam 2 Lợn đực KTNS phục vụ sản xuất con 200 Miền Nam 3 Lợn YS, LR và DR nái GGP SS con 350 Miền Bắc 4 Lợn đực KTNS phục vụ sản xuất con 350 Miền Bắc 5 Gà Ninh Hòa mái dòng thuần SS con 1.200 Miền Trung 6 Bò Red Angus cái thuần SS con 20 Miền Nam 7 Bò Droughmaster cái thuần SS con 20 Miền Nam 8 Bò Brahman cái thuần SS con 60 Miền Nam Xin mời các cơ sở chăn nuôi có đủ điều kiện năng lực về con người, cơ sở vật chất và đàn giống gốc vật nuôi đáp ứng Quyết định số 2317/QĐ-BNN-CN ngày 07/6/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt tiêu chí đối với cơ sở nuôi giữ giống gốc, sản xuất và cung ứng sản phẩm giống gốc vật nuôi và giống gốc thủy sản, Quyết định số 675/QĐ-BNN-CN ngày 4/4/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTN đăng ký tham gia thực hiện việc nuôi giữ đàn giống gốc và cung ứng sản phẩm giống gốc từ 1/1 đến 31/12/2020. Đăng ký tham gia bằng văn bản có chữ ký và đóng dấu gửi về Cục Chăn nuôi – Bộ nông nghiệp và PTNT, số 16, Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội từ 13 giờ ngày 15/10 đến 13 giờ ngày 29/10/2020. (Liên hệ chi tiết với bà Trần Thị Ngọc Lan, Phòng giống vật nuôi – Cục Chăn nuôi, Điện Thoại: 0961186668, E.mail: ngoclanmanh@yahoo.com)   Hà Nội, Ngày 15 tháng 10 năm 2020 CỤC CHĂN …

Thông báo, Tin mớiadmin15/10/2020
THÔNG BÁO triển khai chương trình giống gốc vật nuôi năm 2020
THÔNG BÁO triển khai chương trình giống gốc vật nuôi năm 2020

THÔNG BÁO Cục chăn nuôi được Bộ Nông nghiệp và PTNT giao đầu mối triển khai Chương trình giống gốc vật nuôi năm 2020 gồm 46 chủng loại và số lượng cụ thể như sau: TT Loại giống gốc ĐVT Số lượng Khu vực thực hiện 1 Lợn YS, LR và DR nái GGP SS con 400 Miền Nam 2 Lợn đực KTNS phục vụ sản xuất con 400 Miền Nam 3 Lợn YS, LR và DR nái GGP SS con 500 Miền Bắc 4 Lợn đực KTNS phục vụ sản xuất con 500 Miền Bắc 5 Lợn VCN nái GGP SS con 550 Miền Bắc 6 Lợn đực VCN KTNS phục vụ sản xuất con 50 Miền Bắc 7 Lợn Móng cái thuần SS con 240 Miền Bắc 8 Lợn hương cái thuần SS con 240 Miền Bắc 9 Gà màu VLV1, VLV2 mái dòng thuần SS con 2.500 Miền Nam 10 Gà Ai Cập mái thuần SS con 1.600 Miền Bắc 11 Gà H’Mông mái thuần SS con 1.800 Miền Bắc 12 Gà mía mái thuần SS con 600 Miền Bắc 13 Gà Đông Tảo mái thuần SS con 600 Miền Bắc 14 Gà LV mái dòng thuần SS con 2.800 Miền Bắc 15 Gà LMT1, LMT2 mái dòng thuần SS con 1.200 Miền Trung 16 Gà ri mái thuần SS con 1.200 Miền Bắc 17 Gà Móng mái thuần SS con 1.500 Miền Bắc 18 Gà Tiên Yên mái thuần SS con 2.000 Miền Bắc 19 Gà Ninh Hòa mái dòng thuần SS con 2.500 Miền Trung 20 Gà chọi mái thuần SS con 500 Miền Trung 21 Vịt TC mái dòng thuần SS con 2.000 Miền Nam 22 Vịt biển mái thuần SS con 3.100 Cả nước 23 Vịt V2, V7, V12, V17 mái dòng thuần SS con 3.500 Miền Nam 24 Vịt SM2 mái dòng thuần SS con 3.500 Miền Bắc 25 Vịt SM3 mái dòng thuần SS con 2.200 Miền Bắc 25 Ngan R51, R71 mái dòng thuần SS con 3.600 Miền Bắc 27 Ngan RT7, RT8 mái dòng thuần SS con 1.000 Miền Bắc 28 Trâu đầm lầy cái thuần SS con 80 Miền Bắc 29 Trâu Muhra, đầm lầy cái thuần SS con 90 Miền Nam 30 Bò đực giống nhập ngoại sản xuất tinh con 57 Miền Bắc 31 Bò Senepol cái thuần SS con 30 Miền Bắc 32 Bò Red Angus cái thuần SS con 30 Miền Nam 33 Bò Droughmaster cái thuần SS con 50 Miền Nam 34 Bò Brahman cái thuần SS con 80 Miền Nam 35 Ngựa nội cái thuần SS con 20 Miền Bắc 36 Dê Boer cái thuần SS con 210 Cả nước 37 Dê Saanen cái thuần SS con 150 Cả nước 38 Dê bách thảo cái thuần SS con 150 Cả nước 39 Cừu Phan Rang cái thuần SS con 600 Cả nước 40 Ong ngoại (Apis mellifera) thuần đàn 2.200 Cả nước 41 Ong mật nội thuần đàn 2.000 Cả nước 42 Ong Apis Cerana indica thuần đàn 600 Cả nước 43 Ong mật HN, ĐN, LĐ, TG thuần đàn 600 Cả nước 44 Tằm thầu dầu lá sắn thuần ổ 6.500 Tây Nguyên 45 Tằm lưỡng hệ thuần ổ 4.000 Miền Bắc 46 Tằm đa hệ thuần ổ 5.500 Miền Bắc Xin mời các cơ sở chăn nuôi có đủ điều kiện năng lực về con người, cơ sở vật chất và đàn giống gốc vật nuôi đáp ứng Quyết định số 2317/QĐ-BNN-CN ngày 07/6/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt tiêu chí đối với cơ sở nuôi giữ giống gốc, sản xuất và cung ứng sản phẩm giống gốc vật nuôi và giống gốc thủy sản, Quyết định số 675/QĐ-BNN-CN ngày 4/4/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTN đăng ký tham gia thực hiện việc nuôi giữ đàn giống gốc và cung ứng sản phẩm giống gốc từ 1/1 đến 31/12/2020. Đăng ký tham gia bằng văn bản có chữ ký và đóng dấu gửi về Cục Chăn nuôi – Bộ nông nghiệp và PTNT, số 16, Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội từ 8 giờ ngày 29/9 đến 14 giờ 30 ngày 10/10/2020. (Liên hệ chi tiết với bà Trần Thị Ngọc Lan, Phòng giống vật nuôi – Cục Chăn nuôi, Điện Thoại: 0961186668, E.mail: ngoclanmanh@yahoo.com)   Hà Nội, Ngày 28 tháng 9 năm 2020 CỤC CHĂN NUÔI   ĐÍNH CHÍNH THÔNG BÁO MỜI THAM GIA NUÔI GIỮ VÀ CUNG ỨNG GIỐNG GỐC VẬT NUÔI NĂM 2020 Cục chăn nuôi xin đính chính lại Thông báo ngày 28/9/2020 thay đổi số lượng một số đối tượng giống gốc vật nuôi triển khai Chương trình giống gốc vật nuôi năm 2020 cụ thể như sau: TT Loại giống gốc ĐVT Số lượng đã TB 28/9/2020 Số lượng đính chính lại Khu vực thực hiện 1 Lợn hương cái thuần SS con 240 100 Miền Bắc 2 Gà ri mái thuần SS con 1.200 1.500 Miền Bắc 3 Gà Móng mái thuần SS con 1.500 1.800 Miền Bắc 4 Dê bách thảo cái thuần SS con 150 340 Cả nước 5             Các nội dung khác không thay đổi./.   Hà Nội, Ngày 01 tháng 10 năm 2020 CỤC CHĂN …

Thông báo, Tin mớiadmin29/09/2020
Chiến lược chăn nuôi đến năm 2030: Duy trì đàn lợn 29-30 triệu con
Chiến lược chăn nuôi đến năm 2030: Duy trì đàn lợn 29-30 triệu con

TPO – Theo dự thảo Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2020-2030, tầm nhìn 2040 của Bộ NN&PTNT, đến năm 2030, tổng đàn lợn có mặt thường xuyên ở quy mô khoảng 29-30 triệu con, trong đó đàn lợn nái khoảng 2,5-2,8 triệu con, đàn lợn nuôi trang trại, công nghiệp chiếm trên 70%. Bộ NN&PTNT vừa chức hội nghị “Đánh giá kết quả chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2008-2018 định hướng phát triển chăn nuôi giai đoạn 2020-2030, tầm nhìn 2040”. Ông Nguyễn Xuân Dương, Quyền Cục trưởng Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT) cho biết, sau 10 năm triển khai Chiến lược, ngành chăn nuôi đã đạt được sự tăng trưởng khá cao và ổn định với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 5-6%/năm, trong đó giai đoạn 2011-2015 đạt 4,5-5%, giai đoạn 2016-2018 đạt trung bình 6%/năm. Kết quả này đã góp phần duy trì mức tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp, đáp ứng cơ bản nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước, thay thế nhập khẩu và bước đầu cho xuất khẩu một số sản phẩm. Chăn nuôi chuyển dịch nhanh theo hướng trang trại, công nghiệp chiếm trên 45% về quy mô và trên 60% về sản lượng. Đến năm 2018, sản lượng thịt các loại trên 5,3 triệu tấn (trong đó thịt lợn đạt trên 3,8 triệu tấn, thịt gia cầm 1,2 triệu tấn) tương đương 220.000-230.000 tỷ đồng, riêng giá trị ngành hàng thịt lợn đã ngang bằng với ngành lúa gạo. Trên 11,5 tỷ quả trứng (tương đương khoảng 23.000 tỷ đồng) và trên 960.000 tấn sữa tươi nguyên liệu (tương đương với trên 12.000 tỷ đồng). Doanh số ngành TACN công nghiệp hằng năm đạt gần 20 triệu tấn (tương đương với trên 200.000 tỷ đồng)… Có thể nói trong nông nghiệp hiện nay, chăn nuôi là lĩnh vực thu hút đầu tư xã hội lớn nhất mà phần lớn đều do tư nhân đầu tư, nhất là lĩnh vực sản xuất TACN với trên 99% vốn đầu tư là của tư nhân. Cùng với toàn ngành nông nghiệp, lĩnh vực chăn nuôi đã tạo sinh kế cho 6 – 6,5 triệu hộ trong 8,6 triệu hộ sản xuất nông nghiệp, góp phần thay đổi bộ mặt của khu vực nông thôn… Tuy nhiên, theo Cục Chăn nuôi, tốc độ tăng trưởng của ngành chăn nuôi trong giai đoạn 2011-2015 vẫn thấp hơn khá nhiều so với mục tiêu của Chiến lược đề ra là 6-7%, giai đoạn 2016-2018 cơ bản đạt so với mục tiêu 5-6%. Đáng lưu ý, đến năm 2018, đàn lợn còn 28,1 triệu con. Nhưng đầu năm 2019, Việt Nam đã xuất hiện bệnh dịch tả lợn châu Phi, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi, đàn lợn bị tiêu hủy khoảng 6 triệu con, giảm khoảng trên 20% số đầu con và chưa có dấu hiệu dừng lại… Như vậy, thực tế tăng trưởng về quy mô đàn lợn giai đoạn 2008 – 2018 là thấp hơn khá nhiều so với định hướng của Chiến lược, lý do chính là ảnh hưởng của dịch bệnh, sử dụng chất cấm và thị trường… Để đáp ứng tình hình mới, Bộ NN&PTNT đang dự thảo về chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2020-2030, tầm nhìn 2040. Theo đó, đặt mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững và nâng cao sức cạnh tranh của ngành chăn nuôi. Đến năm 2030 sản xuất chăn nuôi nước ta thuộc nhóm các quốc gia tiên tiến trong khu vực. Đến năm 2030, sẽ phát triển chăn nuôi lợn với các giống cao sản theo hướng trang trại công nghiệp, đồng thời mở rộng quy mô đàn lợn chăn nuôi theo hướng hữu cơ, truyền thống với các giống lợn bản địa, lợn lai giữa giống cao sản và giống bản địa. Tổng đàn lợn có mặt thường xuyên ở quy mô khoảng 29-30 triệu con, trong đó đàn lợn nái khoảng 2,5-2,8 triệu con; đàn lợn nuôi trang trại, công nghiệp chiếm trên 70%. Đối với gia cầm, phát triển theo phương thức công nghiệp. Tổng đàn gà có mặt thường xuyên khoảng 400-450 triệu con, trong đó ít nhất 60% nuôi theo phương thức công nghiệp… Sẽ ổn định quy mô công suất thiết kế các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp đến năm 2030 khoảng 40-45 triệu tấn, sản lượng thực tế khoảng 30-32 triệu tấn, chiếm khoảng 70% thức ăn tinh tổng số… Về tầm nhìn đến năm 2040, chăn nuôi Việt Nam là ngành kinh tế kỹ thuật hiện đại và được công nghiệp ở hầu hết các khâu từ sản xuất, chế biến đến kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trình độ và năng lực sản xuất ngành chăn nuôi Việt Nam thuộc nhóm đầu của các nước trong khu vực ASEAN. Khống chế và kiểm soát tốt một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Tới 100% sản phẩm chăn nuôi hàng hóa được giết mổ tập trung, công nghiệp và trên 70 % khối lượng sản phẩm chăn nuôi chính được qua chế biến, trong đó có 30% được chế biến sâu… Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến cho rằng, quy mô ngành chăn nuôi còn nhỏ lẻ, triển khai Luật Chăn nuôi cũng như Chiến lược chăn nuôi giai đoạn mới phải có bước đi từng giai đoạn. Tuy nhiên, có những vướng mắc phải quyết liệt trong tháo gỡ để đảm bảo cơ cấu và tổng sản lượng thực phẩm phù hợp với từng năm và từng giai đoạn. Dự thảo chiến lược đề ra 4 đề án liên quan đến các lĩnh vực cần tập trung nguồn lực để thực hiện thời gian tới: Công nghiệp sản xuất giống vật nuôi và công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi; công nghiệp giết mổ, chế biến sản phẩm chăn nuôi theo chuỗi; nâng cao năng lực kiểm soát soát dịch bệnh và xử lý chất thải trong chăn nuôi; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản lý Nhà nước, đẩy mạnh hoạt động khoa học công nghệ và xúc tiến thương mại ngành chăn nuôi thú y. Tổng số kinh phí dự kiến cho việc thực hiện các đề án mà Chiến lược đề ra trong giai đoạn 2020-2030 khoảng 66.000 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách nhà nước khoảng 14.600 tỷ đồng chiếm 22% còn lại huy động các nguồn lực xã hội để triển khai thực …

Tin mớiadmin21/09/2020
Hội nghị tuyên truyển, phổ biến Luật Chăn nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành
Hội nghị tuyên truyển, phổ biến Luật Chăn nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành

Luật Chăn nuôi được Quốc hội thông qua ngày 19/11/2018 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành và trình Chính phủ ban hành 04 thông tư, 01 Nghị định hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi. Nhằm tuyên truyền, phổ biến hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, gắn kết quy định của Luật Chăn nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành với các nội dung giảng dạy, điều hành sản xuất, kinh doanh trong chăn nuôi, ngày 18/7/2020, được sự đồng ý của Đảng ủy, Lãnh đạo Cục Chăn nuôi, Chi đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Cục Chăn nuôi đã phối hợp với Đoàn thanh niên Khoa Chăn nuôi – Học viện nông nghiệp Việt Nam, Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị “Tuyên truyền Luật Chăn nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành”. Đây là hoạt động nằm trong chuỗi hoạt động Chiến dịch thanh niên tình nguyện năm 2020 của Đoàn thanh niên Cục Chăn nuôi. Tham dự Hội nghị có TS. Phạm Thị Kim Dung, Phó Bí thư Đảng ủy Cục Chăn nuôi; PGS. TS Phạm Kim Đăng, Trưởng Khoa Chăn nuôi; PGS.TS Bùi Trần Anh Đào, Trưởng Khoa Thú y; Thạc sĩ Đỗ Thị Kim Hương, Bí thư Đoàn thanh niên Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Đ/c Nguyễn Hồng Sơn, Phó Bí thư Đoàn thanh niên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Anh Nguyễn Văn Chiến, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam và hơn 300 đoàn viên thanh niên đến từ Chi đoàn Cục Chăn nuôi, Vụ Pháp chế, Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam, Khoa Chăn nuôi, Khoa Thú y, Khoa Môi trường – Học viện nông nghiệp Việt Nam. Phát biểu khai mạc Hội nghị, Đồng chí Nguyễn Văn Tình, Bí thư Chi đoàn Cục Chăn nuôi đã khái quát lại những thành tựu mà ngành chăn nuôi nước ta đã đạt được hơn 10 năm qua và cho rằng Luật Chăn nuôi và các văn bản hướng dẫn là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo động lực mới để phát triển chăn nuôi Việt Nam hiện đại và bền vững hơn, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi Việt Nam. Đồng thời, Đồng chí cũng nhấn mạnh rằng việc tham dự Hội nghị hôm nay là cơ hội quý báu đối với tổ chức, cá nhân hoạt động chăn nuôi, đặc biệt là những đoàn viên thanh niên là sinh viên năm cuối để tìm hiểu, trao đổi và áp dụng những quy định của pháp luật về chăn nuôi trong thực tiễn sản xuất. Hội nghị đã nghe các báo cáo viên là đoàn viên thanh niên Cục Chăn nuôi giới thiệu quy định của pháp luật về hoạt động chăn nuôi, sản xuất thức ăn chăn nuôi. Đồng thời, giải đáp những câu hỏi, làm rõ những nội dung về quy định của pháp luật về chăn nuôi mà các bạn đoàn viên thanh niên quan tâm. Phát biểu kết thúc Hội nghị, PGS. TS Phạm Kim Đăng, Trưởng khoa Chăn nuôi – Học viện nông nghiệp Việt Nam cảm ơn Đoàn thanh niên Cục Chăn nuôi, Công ty Cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam đã phối hợp tổ chức thành công Hội nghị và coi đây là cơ hội quý báu để học tập, tìm hiểu quy định pháp luật cho các bạn sinh viên năm cuối trước khi bước vào ngành. Thầy Đăng cũng yêu cầu về hiểu biết đối với Luật Chăn nuôi và các văn bản hướng dẫn là nội dung bắt buộc trong xem xét kết quả thực tập giáo trình của sinh viên. Anh Nguyễn Văn Chiến, Phó Giám đốc Công ty chăn nuôi C.P Việt Nam cho rằng Hội nghị đã cung cấp hết sức toàn diện, đầy đủ và sâu sắc về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chăn nuôi. Đây là cơ hội giúp doanh nghiệp hiểu đúng để thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong sản xuất kinh doanh. Hội nghị cũng đã kiến tạo môi trường học tập, chia sẻ kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước, giảng dạy, quản trị sản xuất. Đồng thời, tạo cầu nối giữa sinh viên, nhà tuyển dụng và cơ quan quản lý nhà nước. Anh Chiến mong muốn Đoàn thanh niên Cục Chăn nuôi, Khoa Chăn nuôi – Học viên nông nghiệp tiếp tục quan tâm, phối hợp để tổ chức nhiều hội nghị, diễn đàn chuyên sâu hơn nữa trong thời gian tới. Nguyễn Văn Tình – Cục Chăn …

Chi đoàn Cục Chăn nuôi, Tin mớiadmin23/08/2020
QCVN01-39:2011/BNNPTNT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vệ sinh nước dùng trong chăn nuôi

Môi trường chăn nuôiadmin20/07/2020
Tổng đàn lợn nái cả nước còn trên 2,8 triệu con
Tổng đàn lợn nái cả nước còn trên 2,8 triệu con

Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi, tính đến hết tháng 4/2020, tổng đàn lợn nái cả nước đạt trên 2,86 triệu con, tăng hơn 100.000 con so với cuối năm 2019. Theo số liệu thống kê, đàn lợn nái năm 2015 là 4 triệu con, cao nhất năm 2016 là trên 4,2 triệu con, các năm 2017 và 2018 ổn định xung quanh 4 triệu con. Đến năm 2019, do dịch tả lợn Châu Phi đàn nái giảm mạnh còn trên 2,72 triệu con (theo báo cáo từ các địa phương). Trong đó, đàn nái cụ kỵ và ông bà tương đối ổn định qua nhiều năm, mặc dù năm 2019 dịch tả lợn Châu Phi nhưng đàn nái cụ kỵ và ông bà vẫn giữ được khoảng 109.000 con (chỉ giảm 9% tương đương 11.000 con). Đây là đàn nái quyết định việc sản xuất giống bố mẹ và sản xuất con giống cho sản xuất, dự kiến tăng trưởng đàn nái năm 2020 là 0,5%/tháng (6%/năm). Tính đến hết tháng 4/2020, theo báo cáo của các địa phương, tổng đàn nái của cả nước là gần 2,86 triệu con, tăng 5% so với cuối 2019, đạt trên 90% so với kế hoạch của Quý II/2020 (trong đó có 115.000 con cụ kỵ, ông bà). Cùng với đàn nái, đến tháng 4/2020, cả nước có trên 64.000 con lợn đực giống, đủ để sản xuất tinh và phối giống cho tổng đàn nái. Với đàn lợn cụ kỵ, ông bà hiện tại, Cục Chăn nuôi tính toán và dự báo đến cuối năm 2020 tổng đàn nái của Việt Nam sẽ tăng lên 3 triệu con, tổng đàn lợn khoảng 29 – 30 triệu, qua đó từng bước hạ nhiệt và ổn định cung, cầu thịt lợn. Nguyên …

Tin mới, Uncategorizedadmin08/05/2020
SỬ DỤNG PHẦN MỀM PC DAIRY VN 2019 ĐỂ PHỐI HỢP KHẨU PHẦN CHO BÒ SỮA

Chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam có trên  60 năm lịch sử phát triển nhưng chỉ thực sự phát triển nhanh chóng, toàn diện từ sau khi có Quyết định 167/2001/QĐ-TTg ban hành ngày 26/10/2001 của Thủ tướng chính phủ về “Một số biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam thời kỳ 2001- 2010”.  Sau 20 năm, ngành chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa ở nước ta đã có năng lực sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa cao, hiện đại hóa và đạt được nhiều thành tựu to lớn về tổng đàn, năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm, năng lực đầu tư công nghệ cao, năng lực chế biến, đa dạng hóa sản phẩm, xây dựng lên các thương hiệu quốc gia nổi tiếng của các doanh nghiệp chế biến sữa lớn. Những thành tựu này của ngành sữa Việt đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là dẫn đầu vùng Đông Nam Á về quy mô chăn nuôi, công nghệ áp dụng và thương mại hóa sản phẩm. Trong giai đoạn từ 2001-2018, tổng đàn bò sữa tăng trưởng 12,18%/năm, sản lượng sữa tăng 17,02%/năm, cao nhất trong tất cả các lĩnh vực của ngành chăn nuôi. Cùng với những thành tựu trên, chăn nuôi nuôi bò sữa đã, đang và sẽ là một hướng ưu tiên phát triển nhanh trong quá trình tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng nâng cao chất lượng và phát triển bền vững ở cả quy mô quốc gia và địa phương có điều kiện chăn nuôi bò sữa. Nhằm nắm bắt được những cơ hội phát triển to lớn hơn khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình sữa học đường cải thiện tình trạng dinh dưỡng góp phần nâng cao tầm vóc trẻ em mẫu giáo và tiểu học đến năm 2020” tại Quyết định số 1340/QĐ-TTg ngày 8/7/2016 và sau đó là Nghị định thư về yêu cầu thú y và sức khỏe cộng đồng đối với sản phẩm sữa xuất khẩu từ Việt Nam sang Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã được hai nước Việt Nam và Trung Quốc ký kết Ngày 26/4/2019, một số tỉnh tiên phong đã tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp lớn về chăn nuôi và chế biến sữa đầu tư thành công những dự án chăn nuôi bò sữa, chế biến sữa quy mô lớn, hiện đại tại địa phương. Những cơ hội  này sẽ tạo động lực quan trọng cho chăn nuôi bò sữa trong nước phát triển lên một tầm cao mới, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, giảm nhập khẩu, tăng cường xuất khẩu đối với sữa, sản phẩm sữa và góp phần to lớn cho việc hiện thực hóa vấn đề tái cơ cấu trong chăn nuôi. Với những cơ hội nêu trên cùng với vai trò đầu tầu của các doanh nghiệp chăn nuôi bò sữa, chế biến sữa trong chuỗi giá trị, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn như Vinamilk, TH Milk, Mộc Châu, chăn nuôi bò sữa Việt Nam có tiềm năng phát triển cao trong những năm tới và đóng góp quan trọng cho việc cải thiện sinh kế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân, doanh nghiệp. Song hành cùng với cải tiến chất lượng giống bò sữa và quy trình quản lý đàn, việc nâng cao chất lượng khẩu phần thức ăn cho bò sữa là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu để giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất chăn nuôi và tăng hiệu quả kinh tế, bởi chi phí thức ăn thường chiếm tới 70% tổng chi phí sản xuất chăn nuôi. Do đó, việc nghiên cứu để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng thức ăn sẽ tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi nói chung và trong chăn nuôi bò sữa nói riêng. Trên cơ sở tiếp cận này, với sự hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ và Trường Đại học California Davis (UC Davis), Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT) đã phối hợp với Học viện Nông nghiệp, Viện Chăn nuôi xây dựng cơ sở dữ liệu và chuyển giao phần mềm thiết lập khẩu phần ăn cho bò sữa “PC Dairy VN 2019” trong khuôn khổ dự án “Hoàn thiện cơ sở dữ liệu sử dụng cho thiết lập khẩu phần thức ăn và quản lý chăn nuôi bền vững”. Dự án đã thiết lập được cơ sở dữ liệu về thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn cho bò sữa, những hướng dẫn kỹ thuật và công cụ cần thiết để phối hợp khẩu phần thức ăn cho bò sữa. Các thông tin này có trong Chương trình phần mềm “PC Dairy VN 2019” và trên website của Cục Chăn nuôi (www.cucchannuoi.gov.vn). Phần mềm phối hợp khẩu phần thức ăn cho bò sữa PC Dairy do các nhà khoa học của Trường Đại học California Davis Hoa Kỳ phát triển để thiết lập và đánh giá khẩu phần thức ăn cho bò sữa. Phần mềm này đã được sử dụng hơn 30 năm qua tại Hoa KỳHoHoaHoa kyH. Từ 2013 đến nay, phần mềm này đã được phát triển, sửa đổi, Việt hóa để phù hợp hơn với điều kiện chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam. Mục tiêu chính của PC Dairy VN là giúp nông dân chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam xây dựng khẩu phần cân bằng dinh dưỡng dựa trên nguồn thức ăn sẵn có ở nước ta để đạt năng suất sữa cao hơn nhưng lại giảm thiểu lượng phát  thải  khí nhà kính, đặc biệt là khí Mê-tan (CH4) được tạo ra trong dạ cỏ gắn với quá trình nhai lại của bò sữa. Cân bằng khẩu phần cũng sẽ ổn định chất lượng sữa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn thu mua của các công ty chế biến sữa. “PC Dairy VN 2019” là phiên bản cập nhật mới nhất của phần mềm PC Dairy tại Việt Nam để thiết lập khẩu phần cho bò sữa ở các giai đoạn khác nhau (bò tơ, tiết sữa, cạn sữa) với giá thành thấp nhất của khẩu phần dựa trên các thông số: khối lượng bò, giai đoạn sinh trưởng, sản xuất, sản lượng sữa, tỷ lệ mỡ sữa, sự thay đổi khối lượng, giá thức ăn và giá sữa… Đồng thời, phần mềm có thể ước tính giá trị dinh dưỡng của khẩu phần so với khẩu phần tiêu chuẩn, ước tính sản lượng sữa có thể đạt được với lượng thức ăn cung cấp tối thiểu và ước tính được lượng khí Mê-tan phát thải. Phần mềm “PC Dairy VN 2019”, hướng dẫn cài đặt, sử dụng phần mềm và hướng dẫn phối hợp khẩu phần cho bò sữa có thể truy cập tại website của Cục Chăn nuôi: www.cucchannuoi.gov.vn (Chi tiết liên hệ: hoangthienhuongvn@gmail.com hoặc 0913307019)/.  Hướng dẫn sử dụng PC DAIRY VN 2019 tải về tại đây. TS. Tống Xuân Chinh, Phó Cục …

Tin mới, Uncategorizedadmin07/05/2020
Tái đàn nhanh nhưng phải thật an toàn
Tái đàn nhanh nhưng phải thật an toàn

Đó là chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường tại Hội nghị thúc đẩy phát triển chăn nuôi lợn diễn ra sáng 6/5 tại Hà Nội. Theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, vấn đề an ninh lương thực, thực phẩm với loài người ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt qua đại dịch Covid-19 vừa qua càng cho thấy vấn đề an ninh lương thực có vai trò sống còn với mỗi quốc gia. Bộ trưởng NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh, đẩy mạnh tái đàn chăn nuôi nhưng phải an toàn. Ảnh: Tùng Đinh.   Với dân số xấp xỉ 100 triệu người, diện tích đất canh tác hạn chế, để đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, những năm gần đây mới có khẩu hiệu đưa chăn nuôi lên thành ngành chính, không chỉ bao hàm ý nghĩa về kinh tế mà còn an ninh dinh dưỡng. Theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, cao điểm trước khi xảy ra dịch tả lợn Châu Phi, chăn nuôi lợn chiếm 65 – 70% rổ thực phẩm do thói quen tiêu dùng của đại bộ phận người dân. Tháng 2/2019, Việt Nam ghi nhận ổ dịch dịch tả lợn Châu Phi đầu tiên tại Hưng Yên, sau 4 tháng lan ra toàn quốc, đỉnh điểm tháng 5 năm 2019 hầu hết các xã, huyện, tỉnh đều bị nhiễm dịch tả lợn Châu Phi. Trong khi đó, tổng đàn lợn của thế giới cũng giảm 13%, đặc biệt Trung Quốc số liệu cuối năm 2019 chỉ còn 50% tổng đàn so với trước dịch. Theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, đến nay Việt Nam đã làm tốt nhất có thể để giảm thiệt hại khi phải đối phó, đối mặt với dịch tả lợn Châu Phi, loại dịch bệnh nguy hiểm chưa từng có trong lịch sử, chưa có vắc xin, chưa thuốc đặc trị, dịch đi đến đâu tàn phá ngành chăn nuôi lợn của thế giới đến đó. Đến nay, Việt Nam đã cơ bản giữ được an toàn đàn lợn cụ kỵ, ông bà xấp xỉ 100.000 con, toàn là những tổ hợp gen tốt hàng đầu thế giới. Nhưng với số lượng lợn tiêu hủy do dịch tả lợn Châu Phi khoảng 6 triệu con cộng việc giảm tổng đàn theo tự nhiên ngoài dịch, đến nay Việt Nam đã phục hồi được khoảng 80% tổng đàn so với trước lúc xảy ra dịch tả lợn Châu Phi. Bộ trưởng nhấn mạnh, bài học rút ra trong quá trình phòng, chống dịch tả lợn Châu Phi đến nay là phải chăn nuôi an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh. Nếu làm tốt công tác an toàn sinh học dịch bệnh rất khó để xâm nhập vào chuồng trại hoặc nếu có xâm nhập vẫn đủ thời gian và biện pháp để xử lý, khắc phục để giảm thiệt hại xuống mức thấp nhất. Do đó, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường lưu ý, hiện nay các địa phương đang được khuyến khích tăng đàn, tái đàn, song quan điểm của Bộ NN-PTNT phải đảm bảo đáp ứng an toàn sinh học mới được phép tái đàn, bởi thực tế mầm bệnh dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn rất nhiều ngoài môi trường, nếu không làm tốt công tác an toàn sinh học, dịch bệnh ngay lập tức sẽ xâm nhập vào trang trại gây thiệt hại rất lớn. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường (giữa), Thứ trưởng Phùng Đức Tiến (phải) và Thứ trưởng Trần Thanh Nam chủ trì Hội nghị thúc đẩy phát triển chăn nuôi lợn sáng 6/5. Ảnh: Tùng Đinh. “Nếu không thực hiện nhanh, hiệu quả việc tái đàn, chúng ta sẽ mất một góc thị phần của ngành chăn nuôi lợn. Chắc chắn không thể để giá lợn cao mãi như này được, sẽ phải có nhiều giải pháp để điều hành, trong đó có những giải pháp khi áp dụng rồi sau này không bao giờ rút lại được. Do đó, ngoài 15 doanh nghiệp nòng cốt chiếm khoảng 35% thị phần rất cần sự vào cuộc, chung tay của các trang trại, gia trại, chăn nuôi lợn nông hộ”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường ghi nhận và đánh giá cao một số địa phương trong thời gian qua đã tiên phong có chính sách hỗ trợ tái đàn, tăng đàn rất hiệu quả, điển hình như Hà Nội, hiện hỗ trợ tới 5 triệu đồng/đầu lợn nái. Bên cạnh đó, Hà Nội cũng là địa phương chi trả hỗ trợ tiêu hủy do dịch tả lợn Châu Phi sớm nhất trong cả nước. Bên cạnh đó, theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, chưa bao giờ ngành gia cầm phát triển mạnh như thời điểm này với tổng đàn gần 500 triệu con, trong đó chủ yếu là gà ta, gà lông màu bản địa chất lượng cao, thịt thơm ngon nên cần tiếp tục vận động, tuyên truyền người dân thay đổi dần thói quen theo hướng giảm cơ cấu thịt lợn, tăng thịt gia cầm và thủy sản. Nguyên Huân – Tùng …

Tin mớiadmin06/05/2020
Tăng cường kiểm soát vi phạm đầu cơ, định giá với mặt hàng thịt lợn
Tăng cường kiểm soát vi phạm đầu cơ, định giá với mặt hàng thịt lợn

Tổng cục Quản lý thị trường yêu cầu các Cục Quản lý thị trường tăng cường quản lý địa bàn, triển khai các biện pháp nghiệp vụ để nắm bắt tình hình thị trường, diễn biến cung-cầu, giá bán của mặt hàng. Người chăn nuôi ở thị trấn Hòa Thuận, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng tái đàn sau dịch tả lợn châu Phi. (Ảnh: TTXVN) Nhằm thực hiện quyết liệt sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương về giải pháp bình ổn giá thịt lợn, Tổng cục Quản lý thị trường đã có công văn số 785/TCQLTT-CNV về việc tăng cường kiểm ra, xử lý vi phạm về đầu cơ, găm hàng, định giá bất hợp lý đối với mặt hàng thịt lợn. Theo đó, Tổng cục Quản lý thị trường yêu cầu các Cục Quản lý thị trường tăng cường quản lý địa bàn, triển khai các biện pháp nghiệp vụ để nắm bắt tình hình thị trường, diễn biến cung-cầu, giá bán của mặt hàng thịt lợn và các sản phẩm từ lợn để xây dựng phương án kiểm tra và đề xuất các giải pháp góp phần nhằm ổn định thị trường. Ngoài ra, Tổng cục Quản lý thị trường yêu cầu các Cục Quản lý thị trường địa phương cần chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn kiểm tra, kiểm soát các cơ sở chăn nuôi, giết mổ, cơ sở kinh doanh, đầu mối bán buôn, bán lẻ, các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, các kho lạnh nhằm kiểm soát nguồn cung, giá bán, ngăn chặn các hành vi vi phạm về niêm yết giá, đầu cơ, găm hàng, định giá mua, giá bán bất hợp lý đối với mặt hàng thịt lợn. Mặt khác, tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc vận chuyển, kinh doanh lợn thịt và thịt lợn không rõ nguồn gốc hoặc chưa qua kiểm dịch lưu thông trên thị trường; xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm. Đặc biệt, Cục Quản lý thị trường tại các tỉnh biên giới phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trên địa bàn kiểm tra, kiểm soát trên khâu lưu thông, các tuyến đường lên khu vực biên giới, khu vực giáp cửa khẩu, đường mòn, lối mở nhằm ngăn chặn việc vận chuyển, thu mua, buôn bán lợn sống và thịt lợn trái phép qua khu vực Thời gian qua, người tiêu dùng đang phải mua thịt lợn với mức giá cao gần như kỷ lục của một năm đại dịch nghiêm trọng, mặc dù đây là mặt hàng thực phẩm thiết yếu. Hàng loạt các giải pháp như tăng nhập khẩu, kêu gọi doanh nghiệp giảm giá… dường như chưa mang lại kết quả như ý khi giá thịt lợn vẫn ở mức rất cao, có sản phẩm lên đến 240.000 đồng/kg tùy loại./. Uyên Hương …

Tin mớiadmin27/04/2020
GIÁ SẢN PHẨM CHĂN NUÔI (TẠI TRẠI) CẢ NƯỚC NGÀY 21/04/2020

Thitruong chan nuoi ca nuoc …

Giá SP chăn nuôiadmin27/04/2020
2. Cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi thương mại, thức ăn chăn nuôi theo đặt hàng

2.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: + Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra thành phần hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đầy đủ thành phần; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thành phần thì trả lại tổ chức, cá nhân để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét tính đầy đủ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định thì Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông báo cho tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. + Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi theo Mẫu số 06.TACN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 2.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua dịch vụ bưu chính. – Qua môi trường mạng. 2.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi (theo Mẫu số 01.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Tài liệu chứng minh nội dung thay đổi đối với trường hợp thay đổi thông tin có liên quan đến tổ chức, cá nhân (tên cơ sở, tên địa chỉ cơ sở sản xuất, địa chỉ trụ sở) trong Giấy chứng nhận. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 2.4. Thời hạn giải quyết: – Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ. + Thẩm định hồ sơ và cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. – Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. + Thẩm định hồ sơ và cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 2.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 2.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 2.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Không. 2.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 2.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Mẫu Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi (Mẫu số 01.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). 2.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): 2.10.1. Tổ chức, cá nhân sản xuất thức ăn chăn nuôi thương mại, thức ăn chăn nuôi theo đặt hàng phải đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Địa điểm cơ sở sản xuất không nằm trong khu vực bị ô nhiễm bởi chất thải nguy hại, hóa chất độc hại; b) Thiết kế khu sản xuất, bố trí thiết bị theo quy tắc một chiều từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm đầu ra, bảo đảm tách biệt giữa các khu sản xuất để tránh nhiễm chéo; c) Có dây chuyền, trang thiết bị phù hợp để sản xuất thức ăn chăn nuôi: Dây chuyền sản xuất, trang thiết bị tiếp xúc với thức ăn chăn nuôi phải được làm bằng vật liệu dễ vệ sinh, không gây nhiễm chéo, không thôi nhiễm chất độc hại từ thiết bị sang thức ăn chăn nuôi; khu vực chứa thức ăn chăn nuôi bảo đảm thông thoáng, có đủ ánh sáng để quan sát bằng mắt thường, có giải pháp chống ẩm để không làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm; cơ sở sản xuất sinh khối vi sinh vật phải có thiết bị tạo môi trường, lưu giữ và nuôi cấy vi sinh vật; d) Có biện pháp bảo quản nguyên liệu thức ăn chăn nuôi theo khuyến cáo của tổ chức, cá nhân cung cấp; đ) Có biện pháp kiểm soát sinh vật gây hại, tạp chất, chất thải gây nhiễm bẩn để không ảnh hưởng đến an toàn, chất lượng thức ăn chăn nuôi: Cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi phải có biện pháp để kiểm soát tạp chất (cát sạn, kim loại, bụi) gây nhiễm bẩn vào sản phẩm; có biện pháp kiểm soát, phòng, chống động vật xâm nhập vào khu vực sản xuất, khu lưu trữ sản phẩm; có biện pháp phòng, chống mối mọt; có biện pháp thu gom và xử lý chất thải để tránh nhiễm bẩn cho sản phẩm và bảo đảm vệ sinh môi trường; có biện pháp bảo hộ, vệ sinh cho người lao động và khách tham quan khu vực sản xuất; e) Có trang thiết bị, dụng cụ đo lường được kiểm định, hiệu chỉnh theo quy định; g) Có hoặc thuê phòng thử nghiệm để phân tích chất lượng thức ăn chăn nuôi trong quá trình sản xuất; h) Người phụ trách kỹ thuật có trình độ từ đại học trở lên về một trong các chuyên ngành chăn nuôi, thú y, sinh học, công nghệ thực phẩm, công nghệ sau thu hoạch; i) Cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh phải có biện pháp kiểm soát bảo đảm không phát tán, gây nhiễm chéo giữa các loại kháng sinh khác nhau, giữa thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh và thức ăn chăn nuôi không chứa kháng sinh; k) Có biện pháp bảo vệ môi trường đáp ứng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. 2.10.2. Tổ chức, cá nhân sản xuất thức ăn chăn nuôi tiêu thụ nội bộ phải đáp ứng các điều kiện quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, i và k khoản 1 Điều này. (Điều 38 Luật Chăn nuôi; Điều 9 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi) 2.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn …

Thủ tục hành chính cấp Tỉnhadmin23/04/2020
1. Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi thương mại, thức ăn chăn nuôi theo đặt hàng

1.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (kể cả trường hợp cơ sở đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi mà thay đổi địa điểm cơ sở sản xuất). – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: + Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra thành phần hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đầy đủ thành phần; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thành phần thì trả lại tổ chức, cá nhân để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét tính đầy đủ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định thì Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông báo cho tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. + Đối với cơ sở sản xuất thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, cơ quan có thẩm quyền thẩm định nội dung hồ sơ. Trường hợp hồ sơ chưa đạt yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trường hợp hồ sơ đạt yêu cầu, trong thời hạn 20 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền thành lập đoàn đánh giá điều kiện thực tế của cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi theo nội dung quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi và lập Biên bản theo Mẫu số 05.TACN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi. Trường hợp cơ sở không đáp ứng điều kiện, trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày lập biên bản đánh giá, tổ chức, cá nhân khắc phục và gửi báo cáo kết quả khắc phục bằng văn bản đến cơ quan có thẩm quyền để được thẩm định và đánh giá lại điều kiện thực tế (nếu cần thiết). Trường hợp cơ sở đáp ứng điều kiện, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc đánh giá điều kiện thực tế, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi theo Mẫu số 06.TACN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. + Đối với cơ sở sản xuất (sản xuất, sơ chế, chế biến) thức ăn chăn nuôi truyền thống nhằm mục đích thương mại, theo đặt hàng: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, cơ quan có thẩm quyền thẩm định nội dung hồ sơ; trường hợp hồ sơ đạt yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi theo Mẫu số 06.TACN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do; + Trường hợp nước nhập khẩu yêu cầu phải đánh giá điều kiện thực tế để cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi thì cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 10 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi. 1.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua dịch vụ bưu chính. – Qua môi trường mạng. 1.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi (theo Mẫu số 01.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Bản thuyết minh điều kiện sản xuất (theo Mẫu số 02.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Quy trình kiểm soát chất lượng của cơ sở sản xuất (theo Mẫu số 03.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Bản tóm tắt quy trình sản xuất thức ăn chăn nuôi đối với cơ sở sản xuất thức ăn truyền thống và nguyên liệu đơn. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 1.4. Thời hạn giải quyết: a) Đối với cơ sở sản xuất thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc: – Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ. + Thẩm định hồ sơ và thành lập đoàn đánh giá điều kiện thực tế của cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. + Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc đánh giá điều kiện thực tế. – Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. + Thẩm định hồ sơ và thành lập đoàn đánh giá điều kiện thực tế của cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. + Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc đánh giá điều kiện thực tế. b) Đối với cơ sở sản xuất (sản xuất, sơ chế, chế biến) thức ăn chăn nuôi truyền thống nhằm mục đích thương mại, theo đặt hàng: – Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ. + Thẩm định hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. – Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. + Thẩm định hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 1.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 1.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 1.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Không. 1.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 1.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): – Mẫu Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi (Mẫu số 01.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Mẫu Thuyết minh điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi (Mẫu số 02.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Mẫu Quy trình kiểm soát chất lượng của cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi (Mẫu số 03.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). 1.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): 1.10.1. Tổ chức, cá nhân sản xuất thức ăn chăn nuôi thương mại, thức ăn chăn nuôi theo đặt hàng phải đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Địa điểm cơ sở sản xuất không nằm trong khu vực bị ô nhiễm bởi chất thải nguy hại, hóa chất độc hại; b) Thiết kế khu sản xuất, bố trí thiết bị theo quy tắc một chiều từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm đầu ra, bảo đảm tách biệt giữa các khu sản xuất để tránh nhiễm chéo; c) Có dây chuyền, trang thiết bị phù hợp để sản xuất thức ăn chăn nuôi: Dây chuyền sản xuất, trang thiết bị tiếp xúc với thức ăn chăn nuôi phải được làm bằng vật liệu dễ vệ sinh, không gây nhiễm chéo, không thôi nhiễm chất độc hại từ thiết bị sang thức ăn chăn nuôi; khu vực chứa thức ăn chăn nuôi bảo đảm thông thoáng, có đủ ánh sáng để quan sát bằng mắt thường, có giải pháp chống ẩm để không làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm; cơ sở sản xuất sinh khối vi sinh vật phải có thiết bị tạo môi trường, lưu giữ và nuôi cấy vi sinh vật; d) Có biện pháp bảo quản nguyên liệu thức ăn chăn nuôi theo khuyến cáo của tổ chức, cá nhân cung cấp; đ) Có biện pháp kiểm soát sinh vật gây hại, tạp chất, chất thải gây nhiễm bẩn để không ảnh hưởng đến an toàn, chất lượng thức ăn chăn nuôi: Cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi phải có biện pháp để kiểm soát tạp chất (cát sạn, kim loại, bụi) gây nhiễm bẩn vào sản phẩm; có biện pháp kiểm soát, phòng, chống động vật xâm nhập vào khu vực sản xuất, khu lưu trữ sản phẩm; có biện pháp phòng, chống mối mọt; có biện pháp thu gom và xử lý chất thải để tránh nhiễm bẩn cho sản phẩm và bảo đảm vệ sinh môi trường; có biện pháp bảo hộ, vệ sinh cho người lao động và khách tham quan khu vực sản xuất; e) Có trang thiết bị, dụng cụ đo lường được kiểm định, hiệu chỉnh theo quy định; g) Có hoặc thuê phòng thử nghiệm để phân tích chất lượng thức ăn chăn nuôi trong quá trình sản xuất; h) Người phụ trách kỹ thuật có trình độ từ đại học trở lên về một trong các chuyên ngành chăn nuôi, thú y, sinh học, công nghệ thực phẩm, công nghệ sau thu hoạch; i) Cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh phải có biện pháp kiểm soát bảo đảm không phát tán, gây nhiễm chéo giữa các loại kháng sinh khác nhau, giữa thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh và thức ăn chăn nuôi không chứa kháng sinh; k) Có biện pháp bảo vệ môi trường đáp ứng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. 1.10.2. Tổ chức, cá nhân sản xuất thức ăn chăn nuôi tiêu thụ nội bộ phải đáp ứng các điều kiện quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, i và k khoản 1 Điều này. (Điều 38 Luật Chăn nuôi; Điều 9 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi) 1.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chỉ tiết Luật Chăn …

Thủ tục hành chính cấp Tỉnhadmin23/04/2020
3. Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi đối với chăn nuôi trang trại quy mô lớn

3.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: + Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra thành phần hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đầy đủ thành phần; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thành phần thì trả lại tổ chức, cá nhân để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét tính đầy đủ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định thì Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông báo cho tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. + Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, cơ quan có thẩm quyền thẩm định nội dung hồ sơ. Trường hợp hồ sơ chưa đạt yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trường hợp hồ sơ đạt yêu cầu, trong thời hạn 20 ngày làm việc cơ quan có thẩm quyền thành lập đoàn đánh giá điều kiện thực tế của cơ sở chăn nuôi. Trường hợp cơ sở không đáp ứng điều kiện, trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày lập biên bản đánh giá, tổ chức, cá nhân khắc phục và gửi báo cáo kết quả khắc phục bằng văn bản đến cơ quan có thẩm quyền để được thẩm định và đánh giá lại điều kiện thực tế (nếu cần thiết). Trường hợp cơ sở đáp ứng điều kiện, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc đánh giá điều kiện thực tế, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi theo Mẫu số 05.ĐKCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 3.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua dịch vụ bưu chính. – Qua môi trường mạng. 3.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi đối với chăn nuôi trang trại quy mô lớn (theo Mẫu số 01.ĐKCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Bản thuyết minh về điều kiện chăn nuôi (theo Mẫu số 02.ĐKCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 3.4. Thời hạn giải quyết: – Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ. + Thẩm định hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi: Trong thời hạn 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. – Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. + Thẩm định hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi: Trong thời hạn 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 3.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 3.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 3.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi: Không. 3.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 3.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): – Mẫu Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi (Mẫu số 01.ĐKCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Mẫu Bản thuyết minh về điều kiện chăn nuôi (Mẫu số 02.ĐKCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). 3.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): – Chăn nuôi trang trại phải đáp ứng các điều kiện sau đây: + Vị trí xây dựng trang trại phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, vùng, chiến lược phát triển ngành chăn nuôi; đáp ứng yêu cầu về mật độ chăn nuôi quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 53 của Luật Chăn nuôi. + Có đủ nguồn nước bảo đảm chất lượng cho hoạt động chăn nuôi và xử lý chất thải chăn nuôi. + Có biện pháp bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. + Có chuồng trại, trang thiết bị chăn nuôi phù hợp với từng loại vật nuôi. + Có hồ sơ ghi chép quá trình hoạt động chăn nuôi, sử dụng thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, vắc-xin và thông tin khác để bảo đảm truy xuất nguồn gốc; lưu giữ hồ sơ trong thời gian tối thiểu là 01 năm sau khi kết thúc chu kỳ chăn nuôi. + Có khoảng cách an toàn từ khu vực chăn nuôi trang trại đến đối tượng chịu ảnh hưởng của hoạt động chăn nuôi và từ nguồn gây ô nhiễm đến khu vực chăn nuôi trang trại. – Chăn nuôi trang trại quy mô lớn: Từ 300 đơn vị vật nuôi trở lên. (Điều 55 Luật Chăn nuôi; điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi) 3.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn …

Thủ tục hành chính cấp Tỉnhadmin23/04/2020
4. Cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi đối với chăn nuôi trang trại quy mô lớn

4.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: + Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra thành phần hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đầy đủ thành phần; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thành phần thì trả lại tổ chức, cá nhân để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét tính đầy đủ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định thì Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông báo cho tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. + Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi đối với chăn nuôi trang trại quy mô lớn theo Mẫu số 05.ĐKCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 4.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua dịch vụ bưu chính. – Qua môi trường mạng. 4.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi đối với chăn nuôi trang trại quy mô lớn (theo Mẫu số 01.ĐKCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Tài liệu chứng minh nội dung thay đổi đối với trường hợp thay đổi thông tin có liên quan đến tổ chức, cá nhân trong Giấy chứng nhận. – Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi đã được cấp, trừ trường hợp Giấy chứng nhận bị mất. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 4.4. Thời hạn giải quyết: – Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ. + Thẩm định hồ sơ và cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. – Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. + Thẩm định hồ sơ và cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 4.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 4.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 4.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi: Không. 4.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 4.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Mẫu Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi (Mẫu số 01.ĐKCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). 4.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): – Chăn nuôi trang trại phải đáp ứng các điều kiện sau đây: + Vị trí xây dựng trang trại phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, vùng, chiến lược phát triển ngành chăn nuôi; đáp ứng yêu cầu về mật độ chăn nuôi quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 53 của Luật Chăn nuôi. + Có đủ nguồn nước bảo đảm chất lượng cho hoạt động chăn nuôi và xử lý chất thải chăn nuôi. + Có biện pháp bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. + Có chuồng trại, trang thiết bị chăn nuôi phù hợp với từng loại vật nuôi. + Có hồ sơ ghi chép quá trình hoạt động chăn nuôi, sử dụng thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, vắc-xin và thông tin khác để bảo đảm truy xuất nguồn gốc; lưu giữ hồ sơ trong thời gian tối thiểu là 01 năm sau khi kết thúc chu kỳ chăn nuôi. + Có khoảng cách an toàn từ khu vực chăn nuôi trang trại đến đối tượng chịu ảnh hưởng của hoạt động chăn nuôi và từ nguồn gây ô nhiễm đến khu vực chăn nuôi trang trại. – Chăn nuôi trang trại quy mô lớn: Từ 300 đơn vị vật nuôi trở lên. (Điều 55 Luật Chăn nuôi; điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi) 3.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn …

Thủ tục hành chính cấp Tỉnhadmin23/04/2020
1. Chỉ định đơn vị đủ điều kiện đào tạo, tập huấn về kỹ thuật phối giống nhân tạo gia súc

1.1. Trình tự thực hiện: + Bước 1: Tổ chức gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi. + Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ. Đối với hồ sơ đạt yêu cầu, Cục Chăn nuôi ban hành Quyết định chỉ định. 1.2. Cách thức thực hiện: + Trực tiếp. + Qua đường bưu điện. 1.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: Đơn (theo mẫu tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 09/2015/TT-BNNPTNT ngày 03/3/2015) có chữ ký, tên của người đại diện theo pháp luật và đóng dấu. Bản sao chứng thực hoặc bản sao (kèm bản chính để đối chiếu) chức năng hoạt động hoặc được phép đào tạo, tập huấn (hoặc huấn luyện) trong lĩnh vực chăn nuôi. Chương trình và tài liệu đào tạo, tập huấn. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 1.4. Thời hạn giải quyết: Trong thời gian không quá 10 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Cục Chăn nuôi tổ chức thẩm định hồ sơ và kiểm tra thực tế tại cơ sở. Trong thời gian không quá 05 ngày làm việc sau khi có kết quả đánh giá đủ điều kiện, Cục Chăn nuôi ban hành quyết định chỉ định. 1.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức. 1.6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 1.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định chỉ định. Thời hạn hiệu lực của Quyết định chỉ định: Không. 1.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 1.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Mẫu đơn đăng ký tổ chức đào tạo, tập huấn về kỹ thuật phối giống nhân tạo gia súc (Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 09/2015/TT-BNNPTNT ngày 03 tháng 3 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện điểm a khoản 1 Điều 6 Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 04 tháng 9 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020). 1.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính: Các đơn vị được chỉ định phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: – Có chức năng hoạt động hoặc được phép đào tạo, tập huấn (hoặc huấn luyện) trong lĩnh vực chăn nuôi. – Có chương trình và tài liệu đào tạo, tập huấn phù hợp: Thời gian đào tạo, tập huấn tối thiểu là 21 ngày, trong đó thời gian học lý thuyết tối thiểu là 7 ngày và thời gian thực hành tối thiểu 14 ngày. Tài liệu về lý thuyết gồm các nội dung: Giống và công tác giống gia súc trong chăn nuôi; Đặc điểm sinh lý sinh sản của gia súc; Giải phẫu cơ quan sinh sản gia súc; Phát hiện động dục và thời điểm phối giống thích hợp; Lý thuyết về phối giống nhân tạo gia súc và một số vấn đề cần chú ý trong phối giống nhân tạo gia súc; Phương pháp phát hiện phối giống có chửa; Phương pháp ghi chép quản lý phối giống nhân tạo gia súc; ngoài ra, nếu có thời gian có thể bổ sung các nội dung về quy trình chăn nuôi và các nội dung khác nhằm nâng cao năng suất sinh sản cho gia súc. Thực hành gồm các nội dung: Kỹ năng sử dụng thiết bị, vật tư phối giống nhân tạo cho gia súc; Kỹ năng thực hành phối giống nhân tạo cho gia súc; ngoài ra, nếu có thời gian có thể bổ sung các nội dung phát hiện gia súc có chửa, khám thai và các nội dung khác có liên quan trong thực tế sinh sản gia súc tại các địa phương. (Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 09/2015/TT-BNNPTNT ngày 03 tháng 3 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện điểm a khoản 1 Điều 6 Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 04 tháng 9 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020). 1.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: + Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 04 tháng 9 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020. + Thông tư số 09/2015/TT-BNNPTNT ngày 03 tháng 3 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện điểm a khoản 1 Điều 6 Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 04 tháng 9 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
2. Cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa (lĩnh vực chăn nuôi)

2.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trường hợp hồ sơ không đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi thông báo bằng văn bản yêu cầu tổ chức chứng nhận sửa đổi, bổ sung. Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức chứng nhận theo Mẫu số 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. 2.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua đường bưu điện. 2.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đăng ký hoạt động chứng nhận theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. – Bản sao Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. – Danh sách chuyên gia đánh giá theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp và các chứng chỉ, tài liệu liên quan đối với mỗi chuyên gia gồm: Bản sao Quyết định tuyển dụng hoặc Hợp đồng lao động; bản sao các bằng cấp, chứng chỉ theo quy định tại khoản 3 Điều 17 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp; tóm tắt quá trình công tác, kinh nghiệm hoạt động đánh giá theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp và tài liệu chứng minh kinh nghiệm hoạt động đánh giá của chuyên gia đánh giá. – Tài liệu chứng minh năng lực hoạt động chứng nhận đáp ứng các yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp, cụ thể như sau: + Trường hợp tổ chức chứng nhận đã được tổ chức công nhận quy định tại Điều 21 Nghị định này hoặc tổ chức công nhận quy định tại Điều 25 Nghị định này công nhận hoạt động chứng nhận, tổ chức chứng nhận nộp bản sao Chứng chỉ công nhận kèm theo phạm vi được công nhận. + Trường hợp tổ chức chứng nhận chưa được công nhận, tổ chức chứng nhận nộp các tài liệu, quy trình đánh giá và các tài liệu liên quan khác để chứng minh năng lực hoạt động phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn tương ứng quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. – Mẫu Giấy chứng nhận và Dấu chứng nhận. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 2.4. Thời hạn giải quyết: Trường hợp hồ sơ không đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi thông báo bằng văn bản yêu cầu tổ chức chứng nhận sửa đổi, bổ sung. Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức chứng nhận theo Mẫu số 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. 2.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức. 2.6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 2.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận: 05 năm. 2.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 2.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): – Mẫu Đơn đăng ký hoạt động chứng nhận (theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp). – Mẫu Danh sách chuyên gia đánh giá (theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp). – Mẫu Tóm tắt quá trình công tác, kinh nghiệm hoạt động đánh giá (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp). 2.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Điều kiện kinh doanh dịch vụ chứng nhận sản phẩm: – Là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật. – Có hệ thống quản lý và năng lực hoạt động đáp ứng các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế và hướng dẫn quốc tế cho mỗi loại hình tương ứng sau đây: Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17065:2013 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17065:2012 hoặc tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với chứng nhận chuyên ngành và các hướng dẫn liên quan của Diễn đàn Công nhận Quốc tế (IAF) hoặc tiêu chuẩn tương ứng với yêu cầu của chương trình chứng nhận đặc thù đối với hoạt động chứng nhận sản phẩm, hàng hóa; – Có ít nhất 04 chuyên gia đánh giá chính thức của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn), đáp ứng các điều kiện sau: + Có trình độ tốt nghiệp đại học trở lên và chuyên môn phù hợp đối với chương trình chứng nhận. + Được đào tạo và cấp chứng chỉ hoàn thành khóa đào tạo về kỹ năng đánh giá chứng nhận tương ứng tại cơ sở đào tạo do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố hoặc thừa nhận theo quy định của pháp luật. Được đào tạo và cấp chứng chỉ hoàn thành khóa đào tạo về kỹ thuật chứng nhận sản phẩm chuyên ngành theo quy định của pháp luật chuyên ngành trong trường hợp có quy định. + Có kinh nghiệm làm việc 03 năm trở lên (kể từ thời điểm tốt nghiệp đại học) và kinh nghiệm làm việc phù hợp với yêu cầu quy định của chương trình chứng nhận tương ứng. + Có kinh nghiệm đánh giá 04 cuộc trở lên, với ít nhất 20 ngày công đánh giá đối với chương trình chứng nhận tương ứng. Trường hợp bổ sung lĩnh vực hoạt động chứng nhận, phải có ít nhất 02 chuyên gia chính thức của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn) tương ứng với mỗi lĩnh vực chứng nhận đăng ký bổ sung, đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản này. (Điều 17 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp) 2.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
3. Cấp bổ sung, sửa đổi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa (lĩnh vực chăn nuôi)

3.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trường hợp hồ sơ không đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi thông báo bằng văn bản yêu cầu tổ chức chứng nhận sửa đổi, bổ sung. Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức chứng nhận theo Mẫu số 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. 3.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua đường bưu điện. 3.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đăng ký bổ sung, sửa đổi hoạt động chứng nhận theo Mẫu số 05 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. – Danh sách bổ sung, sửa đổi chuyên gia đánh giá theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp và các chứng chỉ, tài liệu liên quan đối với mỗi chuyên gia gồm: Bản sao Quyết định tuyển dụng hoặc Hợp đồng lao động; bản sao các bằng cấp, chứng chỉ theo quy định tại khoản 3 Điều 17 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp; tóm tắt quá trình công tác, kinh nghiệm hoạt động đánh giá theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp và tài liệu chứng minh kinh nghiệm hoạt động đánh giá của chuyên gia đánh giá. – Tài liệu chứng minh năng lực hoạt động chứng nhận bổ sung, sửa đổi đáp ứng các yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp, cụ thể như sau: + Trường hợp tổ chức chứng nhận đã được tổ chức công nhận quy định tại Điều 21 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp hoặc tổ chức công nhận quy định tại Điều 25 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp công nhận hoạt động chứng nhận, tổ chức chứng nhận nộp bản sao Chứng chỉ công nhận kèm theo phạm vi được công nhận. + Trường hợp tổ chức chứng nhận chưa được công nhận, tổ chức chứng nhận nộp các tài liệu, quy trình đánh giá và các tài liệu khác liên quan để chứng minh năng lực hoạt động phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn tương ứng quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 3.4. Thời hạn giải quyết: Trường hợp hồ sơ không đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi thông báo bằng văn bản yêu cầu tổ chức chứng nhận sửa đổi, bổ sung. Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức chứng nhận theo Mẫu số 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. 3.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức. 3.6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 3.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận: Theo thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chứng nhận đã được cấp. 3.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 3.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): – Mẫu Đơn đăng ký bổ sung, sửa đổi hoạt động chứng nhận (theo Mẫu số 05 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp). – Mẫu Danh sách bổ sung, sửa đổi chuyên gia đánh giá (theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp). 3.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Điều kiện kinh doanh dịch vụ chứng nhận sản phẩm: – Là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật. – Có hệ thống quản lý và năng lực hoạt động đáp ứng các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế và hướng dẫn quốc tế cho mỗi loại hình tương ứng sau đây: Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17065:2013 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17065:2012 hoặc tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với chứng nhận chuyên ngành và các hướng dẫn liên quan của Diễn đàn Công nhận Quốc tế (IAF) hoặc tiêu chuẩn tương ứng với yêu cầu của chương trình chứng nhận đặc thù đối với hoạt động chứng nhận sản phẩm, hàng hóa; – Có ít nhất 04 chuyên gia đánh giá chính thức của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn), đáp ứng các điều kiện sau: + Có trình độ tốt nghiệp đại học trở lên và chuyên môn phù hợp đối với chương trình chứng nhận. + Được đào tạo và cấp chứng chỉ hoàn thành khóa đào tạo về kỹ năng đánh giá chứng nhận tương ứng tại cơ sở đào tạo do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố hoặc thừa nhận theo quy định của pháp luật. Được đào tạo và cấp chứng chỉ hoàn thành khóa đào tạo về kỹ thuật chứng nhận sản phẩm chuyên ngành theo quy định của pháp luật chuyên ngành trong trường hợp có quy định. + Có kinh nghiệm làm việc 03 năm trở lên (kể từ thời điểm tốt nghiệp đại học) và kinh nghiệm làm việc phù hợp với yêu cầu quy định của chương trình chứng nhận tương ứng. + Có kinh nghiệm đánh giá 04 cuộc trở lên, với ít nhất 20 ngày công đánh giá đối với chương trình chứng nhận tương ứng. Trường hợp bổ sung lĩnh vực hoạt động chứng nhận, phải có ít nhất 02 chuyên gia chính thức của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn) tương ứng với mỗi lĩnh vực chứng nhận đăng ký bổ sung, đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản này. (Điều 17 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp) 3.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
4. Cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa (lĩnh vực chăn nuôi)

4.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Cục Chăn nuôi cấp lại Giấy chứng nhận cho tổ chức chứng nhận. Trường hợp không đáp ứng yêu cầu, Cục Chăn nuôi thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. 4.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua đường bưu điện. 4.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận theo Mẫu số 06 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. – Bản chính Giấy chứng nhận bị hư hỏng (nếu có) đối với trường hợp Giấy chứng nhận bị hư hỏng. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 4.4. Thời hạn giải quyết: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Cục Chăn nuôi cấp lại Giấy chứng nhận cho tổ chức chứng nhận. Trường hợp không đáp ứng yêu cầu, Cục Chăn nuôi thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. 4.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức. 4.6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 4.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận: Theo thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chứng nhận đã được cấp. 4.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 4.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): – Mẫu Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận (theo Mẫu số 06 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp). 4.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Giấy chứng nhận được cấp lại áp dụng đối với trường hợp tổ chức chứng nhận có Giấy chứng nhận còn hiệu lực nhưng bị mất, hư hỏng hoặc thay đổi tên, địa chỉ của tổ chức. (Điểm a khoản 3 Điều 30 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp) 4.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
5. Cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa (lĩnh vực chăn nuôi)

5.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trường hợp hồ sơ không đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi thông báo bằng văn bản yêu cầu tổ chức chứng nhận sửa đổi, bổ sung. Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức thử nghiệm theo Mẫu số 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. 5.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua đường bưu điện. 5.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đăng ký hoạt động thử nghiệm theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. – Bản sao Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. – Danh sách thử nghiệm viên theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp và các chứng chỉ, tài liệu liên quan đối với mỗi thử nghiệm viên gồm: Bản sao Quyết định tuyển dụng hoặc Hợp đồng lao động; bản sao chứng chỉ đào tạo tương ứng quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. – Danh sách máy móc, thiết bị, dụng cụ thử nghiệm, đo lường phục vụ hoạt động thử nghiệm đối với lĩnh vực thử nghiệm đăng ký theo Mẫu số 04 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp; – Tài liệu chứng minh năng lực hoạt động thử nghiệm đáp ứng các yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp, cụ thể như sau: + Trường hợp tổ chức thử nghiệm đã được tổ chức công nhận quy định tại Điều 21 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp hoặc tổ chức công nhận nước ngoài quy định tại Điều 25 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp công nhận hoạt động thử nghiệm, tổ chức thử nghiệm nộp bản sao Chứng chỉ công nhận kèm theo phạm vi được công nhận. + Trường hợp tổ chức thử nghiệm chưa được công nhận, tổ chức thử nghiệm nộp các tài liệu, quy trình thử nghiệm và các tài liệu khác liên quan để chứng minh năng lực hoạt động phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn tương ứng quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. – Mẫu Phiếu kết quả thử nghiệm. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 5.4. Thời hạn giải quyết: Trường hợp hồ sơ không đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi thông báo bằng văn bản yêu cầu tổ chức chứng nhận sửa đổi, bổ sung. Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức thử nghiệm theo Mẫu số 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. 5.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức. 5.6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 5.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận: 05 năm. 5.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 5.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): – Mẫu Đơn đăng ký hoạt động thử nghiệm (theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp). – Mẫu Danh sách thử nghiệm viên (theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp). – Mẫu Danh sách máy móc, thiết bị, dụng cụ thử nghiệm, đo lường phục vụ hoạt động thử nghiệm đối với lĩnh vực thử nghiệm đăng ký (theo Mẫu số 04 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp). 5.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Điều kiện kinh doanh dịch vụ thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa: – Là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật. – Có hệ thống quản lý và năng lực hoạt động đáp ứng các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025:2007 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2005 hoặc tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với thử nghiệm chuyên ngành. – Có ít nhất 04 thử nghiệm viên chính thức của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn), được đào tạo về tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025:2007 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2005 hoặc tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với thử nghiệm chuyên ngành. Trường hợp bổ sung lĩnh vực hoạt động thử nghiệm, phải có ít nhất 02 thử nghiệm viên chính thức của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn) tương ứng với lĩnh vực thử nghiệm đăng ký bổ sung, được đào tạo về tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025:2007 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2005 hoặc tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với thử nghiệm chuyên ngành. – Có máy móc, thiết bị, dụng cụ thử nghiệm, đo lường phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp, với lĩnh vực hoạt động thử nghiệm tương ứng. (Điều 5 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp) 5.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
6. Cấp bổ sung, sửa đổi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa (lĩnh vực chăn nuôi)

6.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trường hợp hồ sơ không đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi thông báo bằng văn bản yêu cầu tổ chức chứng nhận sửa đổi, bổ sung. Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức thử nghiệm theo Mẫu số 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. 6.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua đường bưu điện. 6.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đăng ký bổ sung, sửa đổi hoạt động thử nghiệm theo Mẫu số 05 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp; – Danh sách bổ sung, sửa đổi thử nghiệm viên theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp và các chứng chỉ, tài liệu liên quan đối với mỗi thử nghiệm viên gồm: Bản sao Quyết định tuyển dụng hoặc Hợp đồng lao động; bản sao chứng chỉ đào tạo tương ứng quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp; – Danh sách bổ sung, sửa đổi máy móc, thiết bị, dụng cụ thử nghiệm, đo lường phục vụ hoạt động thử nghiệm đối với lĩnh vực đăng ký theo Mẫu số 04 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp; – Các tài liệu chứng minh năng lực hoạt động thử nghiệm bổ sung, sửa đổi đáp ứng các yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp, cụ thể như sau: + Trường hợp tổ chức thử nghiệm đã được tổ chức công nhận quy định tại Điều 21 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp hoặc tổ chức công nhận nước ngoài quy định tại Điều 25 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp công nhận hoạt động thử nghiệm, tổ chức thử nghiệm nộp bản sao Chứng chỉ công nhận kèm theo phạm vi được công nhận. + Trường hợp tổ chức thử nghiệm chưa được công nhận, tổ chức thử nghiệm nộp các tài liệu, quy trình thử nghiệm và các tài liệu khác liên quan để chứng minh năng lực hoạt động phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn tương ứng quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 6.4. Thời hạn giải quyết: Trường hợp hồ sơ không đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi thông báo bằng văn bản yêu cầu tổ chức chứng nhận sửa đổi, bổ sung. Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức thử nghiệm theo Mẫu số 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp. 6.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức. 6.6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 6.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận: Theo thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm đã được cấp. 6.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 6.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): – Mẫu Đơn đăng ký bổ sung, sửa đổi hoạt động thử nghiệm (theo Mẫu số 05 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp). – Mẫu Danh sách bổ sung, sửa đổi thử nghiệm viên (theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp). – Mẫu Danh sách bổ sung, sửa đổi máy móc, thiết bị, dụng cụ thử nghiệm, đo lường phục vụ hoạt động thử nghiệm đối với lĩnh vực đăng ký (theo Mẫu số 04 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp). 6.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Điều kiện kinh doanh dịch vụ thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa: – Là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật. – Có hệ thống quản lý và năng lực hoạt động đáp ứng các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025:2007 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2005 hoặc tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với thử nghiệm chuyên ngành. – Có ít nhất 04 thử nghiệm viên chính thức của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn), được đào tạo về tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025:2007 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2005 hoặc tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với thử nghiệm chuyên ngành. Trường hợp bổ sung lĩnh vực hoạt động thử nghiệm, phải có ít nhất 02 thử nghiệm viên chính thức của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn) tương ứng với lĩnh vực thử nghiệm đăng ký bổ sung, được đào tạo về tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025:2007 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2005 hoặc tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với thử nghiệm chuyên ngành. – Có máy móc, thiết bị, dụng cụ thử nghiệm, đo lường phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp, với lĩnh vực hoạt động thử nghiệm tương ứng. (Điều 5 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp) 6.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
7. Cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa (lĩnh vực chăn nuôi)

7.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Cục Chăn nuôi cấp lại Giấy chứng nhận cho tổ chức thử nghiệm. Trường hợp không đáp ứng yêu cầu, Cục Chăn nuôi thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. 7.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua đường bưu điện. 7.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận theo Mẫu số 06 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp; – Bản chính Giấy chứng nhận bị hư hỏng (nếu có) đối với trường hợp Giấy chứng nhận bị hư hỏng. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 7.4. Thời hạn giải quyết: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Cục Chăn nuôi cấp lại Giấy chứng nhận cho tổ chức thử nghiệm. Trường hợp không đáp ứng yêu cầu, Cục Chăn nuôi thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. 7.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức. 7.6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 7.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận: Theo thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm đã được cấp. 7.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 7.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): – Mẫu Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận (theo Mẫu số 06 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp). 7.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Giấy chứng nhận được cấp lại áp dụng đối với trường hợp tổ chức thử nghiệm có Giấy chứng nhận còn hiệu lực nhưng bị mất, hư hỏng hoặc thay đổi tên, địa chỉ của tổ chức. (Điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp) 7.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
8. Cấp Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) đối với hàng hóa xuất khẩu (lĩnh vực chăn nuôi)

8.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, đúng quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, Cục Chăn nuôi thông báo để thương nhân hoàn thiện hồ sơ. Thời hạn cấp CFS không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày thương nhân nộp hồ sơ đầy đủ, đúng quy định. Trường hợp không cấp CFS, Cục Chăn nuôi có văn bản trả lời nêu rõ lý do. 8.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua đường bưu điện. 8.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Văn bản đề nghị cấp CFS nêu rõ tên hàng, mã HS của hàng hóa, số chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm hoặc số đăng ký, số hiệu tiêu chuẩn (nếu có), thành phần hàm lượng hợp chất (nếu có), nước nhập khẩu hàng hóa: 1 bản chính, thể hiện bằng tiếng Việt và tiếng Anh. – Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp: 1 bản sao có đóng dấu của thương nhân. – Danh Mục các cơ sở sản xuất (nếu có), bao gồm tên, địa chỉ của cơ sở, các mặt hàng sản xuất để xuất khẩu: 1 bản chính. – Bản tiêu chuẩn công bố áp dụng đối với sản phẩm, hàng hóa kèm theo cách thể hiện (trên nhãn hàng hóa hoặc trên bao bì hàng hóa hoặc tài liệu kèm theo sản phẩm, hàng hóa): 1 bản sao có đóng dấu của thương nhân. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 8.4. Thời hạn giải quyết: Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, đúng quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, Cục Chăn nuôi thông báo để thương nhân hoàn thiện hồ sơ. Thời hạn cấp CFS không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày thương nhân nộp hồ sơ đầy đủ, đúng quy định. Trường hợp không cấp CFS, Cục Chăn nuôi có văn bản trả lời nêu rõ lý do. 8.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Thương nhân. 8.6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 8.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận: Không. 8.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 8.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Không. 8.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Cục Chăn nuôi cấp CFS đối với hàng hóa xuất khẩu theo các quy định sau: – Có yêu cầu của thương nhân xuất khẩu về việc cấp CFS cho hàng hóa. – Hàng hóa có tiêu chuẩn công bố áp dụng phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. (Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương) 8.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
9. Điều chỉnh, cấp lại Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) đối với hàng hóa xuất khẩu (lĩnh vực chăn nuôi)

9.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, đúng quy định, Cục Chăn nuôi xem xét điều chỉnh, cấp lại CFS cho thương nhân. 9.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua đường bưu điện. 9.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: Văn bản đề nghị và các giấy tờ liên quan. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 9.4. Thời hạn giải quyết: Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, đúng quy định, Cục Chăn nuôi xem xét điều chỉnh, cấp lại CFS cho thương nhân. 9.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Thương nhân. 9.6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 9.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận: Không. 9.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 9.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Không. 9.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Cục Chăn nuôi cấp CFS đối với hàng hóa xuất khẩu theo các quy định sau: – Có yêu cầu của thương nhân xuất khẩu về việc cấp CFS cho hàng hóa. – Hàng hóa có tiêu chuẩn công bố áp dụng phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. (Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương) 9.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
10. Trao đổi nguồn gen giống vật nuôi quý, hiếm

10.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra, trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì phải có văn bản yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ; Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét, thẩm định và quyết định trên cơ sở chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, trường hợp từ chối phải nêu rõ lý do. 10.2. Cách thức thực hiện: Chưa quy định. 10.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đăng ký trao đổi nguồn gen giống vật nuôi quý, hiếm theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật nuôi; – Lý lịch nguồn gen giống vật nuôi quý, hiếm cần trao đổi theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật nuôi; – Các văn bản có liên quan đến trao đổi nguồn gen giống vật nuôi quý, hiếm. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 10.4. Thời hạn giải quyết: – Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. – Thẩm định hồ sơ và quyết định trên cơ sở chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ: Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 10.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 10.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 10.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Văn bản chấp thuận. Thời hạn hiệu lực của Văn bản chấp thuận: Không. 10.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 10.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): – Mẫu Đơn đăng ký trao đổi nguồn gen giống vật nuôi quý, hiếm (theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật nuôi). – Mẫu Lý lịch nguồn gen giống vật nuôi quý, hiếm đăng ký trao đổi (theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật nuôi). 10.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Không. 10.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
11. Nhập khẩu lần đầu đực giống, tinh, phôi, giống gia súc

11.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi). – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi) kiểm tra, trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì phải có văn bản yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi) trả lời bằng văn bản, trường hợp từ chối phải phải nêu rõ lý do. 11.2. Cách thức thực hiện: Chưa quy định. 11.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Thành phần hồ sơ: – Đơn đăng ký nhập khẩu đực giống, tinh, phôi giống gia súc (theo mẫu quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật nuôi). – Lý lịch đực giống, tinh, phôi giống gia súc nhập khẩu (theo mẫu quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật nuôi). – Văn bản của cơ quan có thẩm quyền hoặc tổ chức được cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu ủy quyền xác nhận về nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng giống, mục đích sử dụng (văn bản là bản chính hoặc bản sao chứng thực kèm theo bản dịch tiếng Việt có xác nhận của đơn vị nhập khẩu). b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 11.4. Thời hạn giải quyết: Trong thời hạn 18 ngày làm việc. – Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. – Thẩm định hồ sơ: Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 11.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 11.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi). 11.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Văn bản chấp thuận. Thời hạn hiệu lực của Văn bản chấp thuận: Không. 11.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 11.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): – Mẫu Đơn đăng ký nhập khẩu lần đầu đực giống, tinh, phôi giống gia súc (theo mẫu quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật nuôi). – Lý lịch đực giống, tinh, phôi giống gia súc nhập khẩu (theo mẫu quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật nuôi). 11.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): – Yêu cầu đối với giống vật nuôi, sản phẩm giống vật nuôi lưu thông trên thị trường: + Đã công bố tiêu chuẩn áp dụng. + Có chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng. + Đáp ứng yêu cầu kiểm dịch theo quy định của pháp luật về thú y. (Điều 18 Luật Chăn nuôi) – Giống vật nuôi, sản phẩm giống vật nuôi nhập khẩu phải được cơ quan có thẩm quyền hoặc tổ chức được cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu ủy quyền xác nhận bằng văn bản về nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng giống, mục đích sử dụng để nhân giống, tạo giống (khoản 1 Điều 20 Luật Chăn nuôi). 11.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
12. Xuất khẩu giống vật nuôi, sản phẩm giống vật nuôi trong Danh mục giống vật nuôi cấm xuất khẩu phục vụ nghiên cứu khoa học, triển lãm, quảng cáo

12.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra, trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì phải có văn bản yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định trên cơ sở chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, trường hợp từ chối phải nêu rõ lý do. 12.2. Cách thức thực hiện: Chưa quy định. 12.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Thành phần hồ sơ: – Đơn đăng ký xuất khẩu giống vật nuôi, sản phẩm giống vật nuôi trong Danh mục giống vật nuôi cấm xuất khẩu phục vụ nghiên cứu khoa học, triển lãm, quảng cáo (theo mẫu quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật nuôi). – Lý lịch giống vật nuôi, sản phẩm giống vật nuôi xuất khẩu trong Danh mục giống vật nuôi cấm xuất khẩu phục vụ nghiên cứu khoa học, triển lãm, quảng cáo (theo mẫu quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật nuôi). – Bản chính hoặc bản sao chứng thực thỏa thuận hợp tác nghiên cứu khoa học, triển lãm, quảng cáo về giống vật nuôi, sản phẩm giống vật nuôi trong Danh mục giống vật nuôi cấm xuất khẩu phục vụ nghiên cứu khoa học, triển lãm, quảng cáo. – Các văn bản khác có liên quan đến xuất khẩu giống vật nuôi, sản phẩm giống vật nuôi (nếu có). b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 12.4. Thời hạn giải quyết: Trong thời hạn 33 ngày làm việc. – Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. – Thẩm định hồ sơ: Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 12.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 12.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 12.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Văn bản chấp thuận. Thời hạn hiệu lực của Văn bản chấp thuận: Không. 12.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 12.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): – Mẫu Đơn đăng ký xuất khẩu giống vật nuôi, sản phẩm giống vật nuôi trong Danh mục giống vật nuôi cấm xuất khẩu phục vụ nghiên cứu khoa học, triển lãm, quảng cáo (theo mẫu quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật nuôi). – Lý lịch giống vật nuôi, sản phẩm giống vật nuôi xuất khẩu trong Danh mục giống vật nuôi cấm xuất khẩu phục vụ nghiên cứu khoa học, triển lãm, quảng cáo (theo mẫu quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật nuôi). 12.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Không. 12.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Thông tư số 22/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về quản lý giống và sản phẩm giống vật …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
13. Công nhận dòng, giống vật nuôi mới

13.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi). – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi) kiểm tra, trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì phải có văn bản yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ; Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ đầy đủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi) tổ chức thẩm định, đánh giá hồ sơ. Trường hợp kết quả thẩm định, đánh giá đạt yêu cầu thì Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục trưởng Cục Chăn nuôi) quyết định công nhận dòng, giống vật nuôi mới; trường hợp không đạt yêu cầu phải nêu rõ lý do. 13.2. Cách thức thực hiện: Chưa quy định. 13.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị công nhận dòng, giống vật nuôi mới, ghi rõ tên dòng, giống vật nuôi, nguồn gốc, xuất xứ; – Kết quả khảo nghiệm hoặc kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp bộ, cấp quốc gia đã được công nhận hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 13.4. Thời hạn giải quyết: – Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. – Thẩm định hồ sơ: Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 13.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 13.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi). 13.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định hành chính. Thời hạn hiệu lực của Quyết định hành chính: Không. 13.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 13.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Không. 13.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): – Mỗi dòng, giống vật nuôi mới chỉ được đặt một tên phù hợp bằng tiếng Việt. – Việc đặt tên dòng, giống vật nuôi mới phải bảo đảm không thuộc các trường hợp sau đây: + Trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên dòng, giống vật nuôi đã được công nhận; + Chỉ bao gồm chữ số; + Vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc. + Trùng với cách đọc hoặc cách viết tên của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân; + Sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó. (Điều 29 Luật Chăn nuôi) 13.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
14. Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi thương mại, thức ăn chăn nuôi theo đặt hàng

14.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi (kể cả trường hợp cơ sở đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi mà thay đổi địa điểm cơ sở sản xuất). – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: + Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ, Cục Chăn nuôi kiểm tra thành phần hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đầy đủ thành phần; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thành phần thì trả lại tổ chức, cá nhân để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi xem xét tính đầy đủ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định thì Cục Chăn nuôi thông báo cho tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. + Đối với cơ sở sản xuất thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ sung: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, cơ quan có thẩm quyền thẩm định nội dung hồ sơ. Trường hợp hồ sơ chưa đạt yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trường hợp hồ sơ đạt yêu cầu, trong thời hạn 20 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền thành lập đoàn đánh giá điều kiện thực tế của cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi theo nội dung quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi và lập Biên bản theo Mẫu số 05.TACN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi. Trường hợp cơ sở không đáp ứng điều kiện, trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày lập biên bản đánh giá, tổ chức, cá nhân khắc phục và gửi báo cáo kết quả khắc phục bằng văn bản đến cơ quan có thẩm quyền để được thẩm định và đánh giá lại điều kiện thực tế (nếu cần thiết). Trường hợp cơ sở đáp ứng điều kiện, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc đánh giá điều kiện thực tế, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi theo Mẫu số 06.TACN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. + Đối với cơ sở sản xuất (sản xuất, sơ chế, chế biến) thức ăn chăn nuôi truyền thống nhằm mục đích thương mại, theo đặt hàng: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, cơ quan có thẩm quyền thẩm định nội dung hồ sơ; trường hợp hồ sơ đạt yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi theo Mẫu số 06.TACN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do; + Trường hợp nước nhập khẩu yêu cầu phải đánh giá điều kiện thực tế để cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi thì cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 10 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi. 14.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua dịch vụ bưu chính. – Qua môi trường mạng. 14.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi (theo Mẫu số 01.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chỉ tiết Luật Chăn nuôi). – Bản thuyết minh điều kiện sản xuất (theo Mẫu số 02.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chỉ tiết Luật Chăn nuôi). – Quy trình kiểm soát chất lượng của cơ sở sản xuất (theo Mẫu số 03.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chỉ tiết Luật Chăn nuôi). – Bản tóm tắt quy trình sản xuất thức ăn chăn nuôi đối với cơ sở sản xuất thức ăn truyền thống và nguyên liệu đơn. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 14.4. Thời hạn giải quyết: a) Đối với cơ sở sản xuất thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ sung: – Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ. + Thẩm định hồ sơ và thành lập đoàn đánh giá điều kiện thực tế của cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. + Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc đánh giá điều kiện thực tế. – Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. + Thẩm định hồ sơ và thành lập đoàn đánh giá điều kiện thực tế của cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. + Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc đánh giá điều kiện thực tế. b) Đối với cơ sở sản xuất (sản xuất, sơ chế, chế biến) thức ăn chăn nuôi truyền thống nhằm mục đích thương mại, theo đặt hàng: – Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ. + Thẩm định hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. – Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. + Thẩm định hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 14.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 14.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 14.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Không. 14.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 14.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): – Mẫu Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi (Mẫu số 01.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Mẫu Thuyết minh điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi (Mẫu số 02.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Mẫu Quy trình kiểm soát chất lượng của cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi (Mẫu số 03.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). 14.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): 14.10.1. Tổ chức, cá nhân sản xuất thức ăn chăn nuôi thương mại, thức ăn chăn nuôi theo đặt hàng phải đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Địa điểm cơ sở sản xuất không nằm trong khu vực bị ô nhiễm bởi chất thải nguy hại, hóa chất độc hại; b) Thiết kế khu sản xuất, bố trí thiết bị theo quy tắc một chiều từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm đầu ra, bảo đảm tách biệt giữa các khu sản xuất để tránh nhiễm chéo; c) Có dây chuyền, trang thiết bị phù hợp để sản xuất thức ăn chăn nuôi: Dây chuyền sản xuất, trang thiết bị tiếp xúc với thức ăn chăn nuôi phải được làm bằng vật liệu dễ vệ sinh, không gây nhiễm chéo, không thôi nhiễm chất độc hại từ thiết bị sang thức ăn chăn nuôi; khu vực chứa thức ăn chăn nuôi bảo đảm thông thoáng, có đủ ánh sáng để quan sát bằng mắt thường, có giải pháp chống ẩm để không làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm; cơ sở sản xuất sinh khối vi sinh vật phải có thiết bị tạo môi trường, lưu giữ và nuôi cấy vi sinh vật; d) Có biện pháp bảo quản nguyên liệu thức ăn chăn nuôi theo khuyến cáo của tổ chức, cá nhân cung cấp; đ) Có biện pháp kiểm soát sinh vật gây hại, tạp chất, chất thải gây nhiễm bẩn để không ảnh hưởng đến an toàn, chất lượng thức ăn chăn nuôi: Cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi phải có biện pháp để kiểm soát tạp chất (cát sạn, kim loại, bụi) gây nhiễm bẩn vào sản phẩm; có biện pháp kiểm soát, phòng, chống động vật xâm nhập vào khu vực sản xuất, khu lưu trữ sản phẩm; có biện pháp phòng, chống mối mọt; có biện pháp thu gom và xử lý chất thải để tránh nhiễm bẩn cho sản phẩm và bảo đảm vệ sinh môi trường; có biện pháp bảo hộ, vệ sinh cho người lao động và khách tham quan khu vực sản xuất; e) Có trang thiết bị, dụng cụ đo lường được kiểm định, hiệu chỉnh theo quy định; g) Có hoặc thuê phòng thử nghiệm để phân tích chất lượng thức ăn chăn nuôi trong quá trình sản xuất; h) Người phụ trách kỹ thuật có trình độ từ đại học trở lên về một trong các chuyên ngành chăn nuôi, thú y, sinh học, công nghệ thực phẩm, công nghệ sau thu hoạch; i) Cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh phải có biện pháp kiểm soát bảo đảm không phát tán, gây nhiễm chéo giữa các loại kháng sinh khác nhau, giữa thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh và thức ăn chăn nuôi không chứa kháng sinh; k) Có biện pháp bảo vệ môi trường đáp ứng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. 14.10.2. Tổ chức, cá nhân sản xuất thức ăn chăn nuôi tiêu thụ nội bộ phải đáp ứng các điều kiện quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, i và k khoản 1 Điều này. (Điều 38 Luật Chăn nuôi; Điều 9 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi) 14.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
15. Cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi thương mại, thức ăn chăn nuôi theo đặt hàng

15.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: + Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ, Cục Chăn nuôi kiểm tra thành phần hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đầy đủ thành phần; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thành phần thì trả lại tổ chức, cá nhân để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi xem xét tính đầy đủ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định thì Cục Chăn nuôi thông báo cho tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. + Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi theo Mẫu số 06.TACN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 15.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua dịch vụ bưu chính. – Qua môi trường mạng. 15.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi (theo Mẫu số 01.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Tài liệu chứng minh nội dung thay đổi đối với trường hợp thay đổi thông tin có liên quan đến tổ chức, cá nhân (tên cơ sở, tên địa chỉ cơ sở sản xuất, địa chỉ trụ sở) trong Giấy chứng nhận. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 15.4. Thời hạn giải quyết: – Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ. + Thẩm định hồ sơ và cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. – Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. + Thẩm định hồ sơ và cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 15.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 15.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 15.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Không. 15.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 15.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Mẫu Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi (Mẫu số 01.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). 15.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): 15.10.1. Tổ chức, cá nhân sản xuất thức ăn chăn nuôi thương mại, thức ăn chăn nuôi theo đặt hàng phải đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Địa điểm cơ sở sản xuất không nằm trong khu vực bị ô nhiễm bởi chất thải nguy hại, hóa chất độc hại; b) Thiết kế khu sản xuất, bố trí thiết bị theo quy tắc một chiều từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm đầu ra, bảo đảm tách biệt giữa các khu sản xuất để tránh nhiễm chéo; c) Có dây chuyền, trang thiết bị phù hợp để sản xuất thức ăn chăn nuôi: Dây chuyền sản xuất, trang thiết bị tiếp xúc với thức ăn chăn nuôi phải được làm bằng vật liệu dễ vệ sinh, không gây nhiễm chéo, không thôi nhiễm chất độc hại từ thiết bị sang thức ăn chăn nuôi; khu vực chứa thức ăn chăn nuôi bảo đảm thông thoáng, có đủ ánh sáng để quan sát bằng mắt thường, có giải pháp chống ẩm để không làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm; cơ sở sản xuất sinh khối vi sinh vật phải có thiết bị tạo môi trường, lưu giữ và nuôi cấy vi sinh vật; d) Có biện pháp bảo quản nguyên liệu thức ăn chăn nuôi theo khuyến cáo của tổ chức, cá nhân cung cấp; đ) Có biện pháp kiểm soát sinh vật gây hại, tạp chất, chất thải gây nhiễm bẩn để không ảnh hưởng đến an toàn, chất lượng thức ăn chăn nuôi: Cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi phải có biện pháp để kiểm soát tạp chất (cát sạn, kim loại, bụi) gây nhiễm bẩn vào sản phẩm; có biện pháp kiểm soát, phòng, chống động vật xâm nhập vào khu vực sản xuất, khu lưu trữ sản phẩm; có biện pháp phòng, chống mối mọt; có biện pháp thu gom và xử lý chất thải để tránh nhiễm bẩn cho sản phẩm và bảo đảm vệ sinh môi trường; có biện pháp bảo hộ, vệ sinh cho người lao động và khách tham quan khu vực sản xuất; e) Có trang thiết bị, dụng cụ đo lường được kiểm định, hiệu chỉnh theo quy định; g) Có hoặc thuê phòng thử nghiệm để phân tích chất lượng thức ăn chăn nuôi trong quá trình sản xuất; h) Người phụ trách kỹ thuật có trình độ từ đại học trở lên về một trong các chuyên ngành chăn nuôi, thú y, sinh học, công nghệ thực phẩm, công nghệ sau thu hoạch; i) Cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh phải có biện pháp kiểm soát bảo đảm không phát tán, gây nhiễm chéo giữa các loại kháng sinh khác nhau, giữa thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh và thức ăn chăn nuôi không chứa kháng sinh; k) Có biện pháp bảo vệ môi trường đáp ứng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. 15.10.2. Tổ chức, cá nhân sản xuất thức ăn chăn nuôi tiêu thụ nội bộ phải đáp ứng các điều kiện quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, i và k khoản 1 Điều này. (Điều 38 Luật Chăn nuôi; Điều 9 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi) 15.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
16. Công bố thông tin sản phẩm thức ăn bổ sung sản xuất trong nước

16.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi) kiểm tra thành phần hồ sơ, trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì phải thông báo trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi) thẩm định hồ sơ và công bố thông tin sản phẩm trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; trường hợp không đồng ý phải nêu rõ lý do. 16.2. Cách thức thực hiện: Qua môi trường mạng. 16.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị công bố thông tin sản phẩm. – Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi. – Hợp đồng thuê, gia công thức ăn chăn nuôi đối với trường hợp tổ chức, cá nhân thuê, gia công tại cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi. – Tiêu chuẩn công bố áp dụng, văn bản thông báo tiếp nhận công bố hợp quy của sản phẩm. – Phiếu kết quả thử nghiệm các chỉ tiêu chất lượng và an toàn của sản phẩm trong tiêu chuẩn công bố áp dụng và trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng được cấp bởi các phòng thử nghiệm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ định hoặc thừa nhận. – Mẫu của nhãn sản phẩm. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 16.4. Thời hạn giải quyết: – Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. – Thẩm định hồ sơ và công bố thông tin sản phẩm trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 16.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 16.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi). 16.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Thông tin sản phẩm được công bố trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thời hạn hiệu lực của thông tin sản phẩm được công bố trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: 05 năm. 16.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 16.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Không. 16.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Thức ăn chăn nuôi thương mại trước khi lưu thông trên thị trường phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: – Công bố tiêu chuẩn áp dụng và công bố hợp quy theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa. – Có chất lượng phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. – Sản xuất tại cơ sở có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp. – Công bố thông tin sản phẩm trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Nhãn hoặc tài liệu kèm theo thức ăn chăn nuôi thực hiện theo quy định tại Điều 46 của Luật Chăn nuôi. (Điều 32 Luật Chăn nuôi) 16.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
17. Công bố thông tin sản phẩm thức ăn bổ sung nhập khẩu

17.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi) kiểm tra thành phần hồ sơ, trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì phải thông báo trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi) thẩm định hồ sơ và công bố thông tin sản phẩm trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; trường hợp không đồng ý phải nêu rõ lý do. 17.2. Cách thức thực hiện: Qua môi trường mạng. 17.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị công bố thông tin sản phẩm. – Giấy chứng nhận lưu hành tự do hoặc văn bản có giá trị tương đương do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất xứ cấp. – Một trong các giấy chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng (ISO), Thực hành sản xuất tốt (GMP), Phân tích nguy cơ và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) hoặc giấy chứng nhận tương đương của cơ sở sản xuất. – Bản thông tin sản phẩm do nhà sản xuất cung cấp bao gồm thành phần nguyên liệu, công dụng, hướng dẫn sử dụng; chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu an toàn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Bản tiêu chuẩn công bố áp dụng của tổ chức, cá nhân đăng ký theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm hàng hóa; nhãn phụ của sản phẩm thể hiện bằng tiếng Việt theo quy định. – Phiếu kết quả thử nghiệm các chỉ tiêu chất lượng và an toàn sản phẩm được cấp bởi phòng thử nghiệm do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất xứ chỉ định hoặc được công nhận bởi tổ chức công nhận quốc tế hoặc tổ chức công nhận khu vực hoặc phòng thử nghiệm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ định hoặc thừa nhận. – Mẫu của nhãn sản phẩm do nhà sản xuất cung cấp. Hồ sơ là bản chính hoặc bản sao có chứng thực và bản dịch ra tiếng Việt có chứng thực. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 17.4. Thời hạn giải quyết: – Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. – Thẩm định hồ sơ và công bố thông tin sản phẩm trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 17.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 17.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi). 17.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Thông tin sản phẩm được công bố trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thời hạn hiệu lực của thông tin sản phẩm được công bố trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: 05 năm. 17.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 17.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Không. 17.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Thức ăn chăn nuôi thương mại trước khi lưu thông trên thị trường phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: – Công bố tiêu chuẩn áp dụng và công bố hợp quy theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa. – Có chất lượng phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. – Sản xuất tại cơ sở có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp. – Công bố thông tin sản phẩm trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Nhãn hoặc tài liệu kèm theo thức ăn chăn nuôi thực hiện theo quy định tại Điều 46 của Luật Chăn nuôi. (Điều 32 Luật Chăn nuôi) 17.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin23/04/2020
18. Công bố lại thông tin sản phẩm thức ăn bổ sung

18.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Trong thời gian 06 tháng trước khi hết hạn lưu hành, tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi kiểm tra thành phần hồ sơ, trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì phải thông báo trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ, Cục Chăn nuôi thẩm định hồ sơ và công bố thông tin sản phẩm trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; trường hợp không đồng ý phải nêu rõ lý do. 18.2. Cách thức thực hiện: Qua môi trường mạng. 18.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị công bố thông tin sản phẩm. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 18.4. Thời hạn giải quyết: – Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. – Thẩm định hồ sơ và công bố thông tin sản phẩm trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 18.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 18.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi). 18.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Thông tin sản phẩm được công bố trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thời hạn hiệu lực của thông tin sản phẩm được công bố trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: 05 năm. 18.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 18.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Không. 18.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Thức ăn chăn nuôi thương mại trước khi lưu thông trên thị trường phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: – Công bố tiêu chuẩn áp dụng và công bố hợp quy theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa. – Có chất lượng phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. – Sản xuất tại cơ sở có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp. – Công bố thông tin sản phẩm trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Nhãn hoặc tài liệu kèm theo thức ăn chăn nuôi thực hiện theo quy định tại Điều 46 của Luật Chăn nuôi. (Điều 32 Luật Chăn nuôi) 18.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin18/04/2020
19. Thay đổi thông tin sản phẩm thức ăn bổ sung

19.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân có nhu cầu thay đổi thông tin của sản phẩm thức ăn bổ sung về tên nhà sản xuất, địa chỉ cơ sở sản xuất, tên sản phẩm, ký hiệu tiêu chuẩn công bố áp dụng, dạng, màu sắc sản phẩm, hướng dẫn sử dụng, thời hạn sử dụng sản phẩm nộp hồ sơ trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi) kiểm tra, trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ; Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi) xác nhận và công bố thông tin thay đổi của sản phẩm trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; trường hợp không đồng ý phải nêu rõ lý do. 19.2. Cách thức thực hiện: Qua môi trường mạng. 19.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị thay đổi thông tin. – Bản tiêu chuẩn công bố áp dụng. – Bản tiếp nhận công bố hợp quy (nếu có). – Mẫu của nhãn sản phẩm. Đối với thức ăn bổ sung nhập khẩu phải bổ sung thêm bản chính hoặc bản sao chứng thực giấy xác nhận nội dung thay đổi của nhà sản xuất; bản sao chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp đổi tên cơ sở sản xuất, tên thương mại thức ăn chăn nuôi nhập khẩu. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 19.4. Thời hạn giải quyết: – Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. – Thẩm định hồ sơ và công bố thông tin sản phẩm trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 19.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 19.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi). 19.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Thông tin thay đổi của sản phẩm được công bố trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thời hạn hiệu lực của thông tin thay đổi của sản phẩm được công bố trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: đến thời điểm sản phẩm thức ăn bổ sung hết hạn lưu hành. 19.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 19.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Không. 19.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Thức ăn chăn nuôi thương mại trước khi lưu thông trên thị trường phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: – Công bố tiêu chuẩn áp dụng và công bố hợp quy theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa. – Có chất lượng phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. – Sản xuất tại cơ sở có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp. – Công bố thông tin sản phẩm trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Nhãn hoặc tài liệu kèm theo thức ăn chăn nuôi thực hiện theo quy định tại Điều 46 của Luật Chăn nuôi. (Điều 32 Luật Chăn nuôi) 19.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin18/04/2020
20. Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi chưa được công bố thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

20.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: + Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ, Cục Chăn nuôi kiểm tra thành phần hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đầy đủ thành phần; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thành phần thì trả lại tổ chức, cá nhân để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi xem xét tính đầy đủ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định thì Cục Chăn nuôi thông báo cho tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. + Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Cục Chăn nuôi cấp giấy phép nhập khẩu thức ăn chăn nuôi theo Mẫu số 09.TACN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 20.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua dịch vụ bưu chính. – Qua môi trường mạng. 20.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: * Hồ sơ nhập khẩu thức ăn chăn nuôi để giới thiệu tại hội chợ, triển lãm bao gồm: – Đơn đề nghị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi để giới thiệu tại hội chợ, triển lãm (theo Mẫu số 07.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Văn bản chứng minh về việc tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm tại Việt Nam. * Hồ sơ nhập khẩu thức ăn chăn nuôi để nuôi thích nghi bao gồm: – Đơn đề nghị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi để nuôi thích nghi (theo Mẫu số 07.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Bản kê khai của cơ sở đăng ký về đối tượng, số lượng vật nuôi nuôi thích nghi, thời gian nuôi, địa điểm nuôi và mục đích nuôi. * Hồ sơ nhập khẩu thức ăn chăn nuôi để phục vụ nghiên cứu, khảo nghiệm bao gồm: – Đơn đề nghị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi để phục vụ nghiên cứu            hoặc khảo nghiệm (theo Mẫu số 07.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Đề cương nghiên cứu hoặc khảo nghiệm. * Hồ sơ nhập khẩu thức ăn chăn nuôi để làm mẫu phân tích tại phòng thử nghiệm bao gồm: – Đơn đề nghị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi để làm mẫu phân tích tại phòng thử nghiệm (theo Mẫu số 07.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Văn bản thỏa thuận sử dụng dịch vụ phân tích giữa một bên là phòng thử nghiệm hoặc doanh nghiệp trong nước với một bên là phòng thử nghiệm hoặc doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý về thức ăn chăn nuôi của nước xuất khẩu, trong đó có cam kết mẫu sản phẩm nhập khẩu không dùng cho hoạt động thương mại. * Hồ sơ nhập khẩu thức ăn chăn nuôi để sản xuất, gia công nhằm mục đích xuất khẩu bao gồm: – Đơn đề nghị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi để sản xuất, gia công nhằm mục đích xuất khẩu (theo Mẫu số 07.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Hợp đồng sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi nhằm mục đích xuất khẩu phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam về nhập khẩu hàng hóa để sản xuất, gia công nhằm mục đích xuất khẩu. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 20.4. Thời hạn giải quyết: – Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ. + Thẩm định hồ sơ và cấp giấy phép nhập khẩu thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. – Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. + Thẩm định hồ sơ và cấp giấy phép nhập khẩu thức ăn chăn nuôi: Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 20.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 20.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 20.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy phép nhập khẩu thức ăn chăn nuôi. Thời hạn hiệu lực của giấy phép nhập khẩu thức ăn chăn nuôi: Không. 20.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 20.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Mẫu Đơn đề nghị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi chưa được công bố thông tin (Mẫu số 07.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). 20.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Không. 20.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin17/04/2020
21. Thừa nhận phương pháp thử nghiệm thức ăn chăn nuôi của phòng thử nghiệm nước xuất khẩu

21.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: + Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ, Cục Chăn nuôi kiểm tra thành phần hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đầy đủ thành phần; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thành phần thì trả lại tổ chức, cá nhân để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi xem xét tính đầy đủ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định thì Cục Chăn nuôi thông báo cho tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. + Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, Cục Chăn nuôi thẩm định hồ sơ và tổ chức đánh giá thực tế tại phòng thử nghiệm (nếu cần thiết). Trường hợp kết quả thẩm định, đánh giá đạt yêu cầu, Cục Chăn nuôi ban hành quyết định thừa nhận phương pháp thử nghiệm thức ăn chăn nuôi của phòng thử nghiệm nước xuất khẩu; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 21.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua dịch vụ bưu chính. – Qua môi trường mạng. 21.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị thừa nhận phương pháp thử nghiệm thức ăn chăn nuôi của phòng thử nghiệm nước xuất khẩu (theo Mẫu số 10.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Giấy chứng nhận phòng thử nghiệm của nước xuất khẩu được công nhận hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025 hoặc văn bản chỉ định, thừa nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu. – Danh mục máy móc, thiết bị thử nghiệm phù hợp với phương pháp thử nghiệm bao gồm các thông tin: Tên máy móc, thiết bị; thời gian đưa vào sử dụng và thời gian kiểm định, hiệu chuẩn kèm theo Giấy chứng nhận kiểm định, hiệu chuẩn còn hiệu lực do phòng thử nghiệm của nước xuất khẩu cung cấp. – Quy trình thử nghiệm và hồ sơ thẩm định, xác nhận giá trị sử dụng của phương pháp thử nghiệm trên nền mẫu thức ăn chăn nuôi do phòng thử nghiệm của nước xuất khẩu cung cấp. – Kết quả thử nghiệm thành thạo hoặc so sánh liên phòng (nếu có) do phòng thử nghiệm của nước xuất khẩu cung cấp. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 21.4. Thời hạn giải quyết: – Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ. + Thẩm định hồ sơ và quyết định thừa nhận phương pháp thử nghiệm thức ăn chăn nuôi của phòng thử nghiệm nước xuất khẩu: Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. – Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. + Thẩm định hồ sơ và quyết định thừa nhận phương pháp thử nghiệm thức ăn chăn nuôi của phòng thử nghiệm nước xuất khẩu: Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 21.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 21.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 21.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định thừa nhận phương pháp thử nghiệm thức ăn chăn nuôi của phòng thử nghiệm nước xuất khẩu. Thời hạn hiệu lực của quyết định thừa nhận phương pháp thử nghiệm thức ăn chăn nuôi của phòng thử nghiệm nước xuất khẩu: 03 năm. 21.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 21.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Mẫu Đơn đề nghị thừa nhận phương pháp thử nghiệm thức ăn chăn nuôi của phòng thử nghiệm nước xuất khẩu (Mẫu số 10.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). 21.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Phương pháp thử nghiệm thức ăn chăn nuôi của phòng thử nghiệm nước xuất khẩu được thừa nhận khi đáp ứng các điều kiện sau đây: – Được tổ chức công nhận quốc gia hoặc tổ chức công nhận quốc tế công nhận hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025 hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại nước xuất khẩu chỉ định, thừa nhận, trong đó có phạm vi công nhận là thức ăn chăn nuôi hoặc thực phẩm. – Có máy móc, thiết bị, dụng cụ phù hợp với phương pháp thử nghiệm và tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025. – Có phương pháp thử nghiệm thức ăn chăn nuôi được thẩm định, xác nhận giá trị sử dụng. (Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi) 21.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin17/04/2020
22. Thừa nhận quy trình khảo nghiệm và công nhận thức ăn chăn nuôi của nước xuất khẩu

22.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Cục Chăn nuôi. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: + Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ, Cục Chăn nuôi kiểm tra thành phần hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đầy đủ thành phần; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thành phần thì trả lại tổ chức, cá nhân để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cục Chăn nuôi xem xét tính đầy đủ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định thì Cục Chăn nuôi thông báo cho tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. + Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, Cục Chăn nuôi thẩm định hồ sơ và tổ chức đánh giá tại nước xuất khẩu (nếu cần thiết). Trường hợp kết quả thẩm định, đánh giá đạt yêu cầu, Cục Chăn nuôi ban hành quyết định thừa nhận quy trình khảo nghiệm và công nhận thức ăn chăn nuôi của nước xuất khẩu; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 22.2. Cách thức thực hiện: – Trực tiếp. – Qua dịch vụ bưu chính. – Qua môi trường mạng. 22.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Đơn đề nghị thừa nhận quy trình khảo nghiệm và công nhận thức ăn chăn nuôi của nước xuất khẩu (theo Mẫu số 11.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Bản mô tả về năng lực của cơ sở khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi theo quy định tại khoản 3 Điều 37 của Luật Chăn nuôi do cơ sở khảo nghiệm của nước xuất khẩu cung cấp. – Quy trình khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi theo nội dung quy định tại Mẫu 08.TACN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi do cơ sở khảo nghiệm của nước xuất khẩu cung cấp. – Báo cáo kết quả khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi theo các nội dung trong quy trình khảo nghiệm và các tài liệu kỹ thuật khác có liên quan do cơ sở khảo nghiệm của nước xuất khẩu cung cấp. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ.   22.4. Thời hạn giải quyết: – Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ. + Thẩm định hồ sơ và quyết định thừa nhận quy trình khảo nghiệm và công nhận thức ăn chăn nuôi của nước xuất khẩu: Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. – Trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường mạng: + Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc. + Thẩm định hồ sơ và quyết định thừa nhận quy trình khảo nghiệm và công nhận thức ăn chăn nuôi của nước xuất khẩu: Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. 22.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 22.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Cục Chăn nuôi. 22.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định thừa nhận quy trình khảo nghiệm và công nhận thức ăn chăn nuôi của nước xuất khẩu. Thời hạn hiệu lực của quyết định thừa nhận quy trình khảo nghiệm và công nhận thức ăn chăn nuôi của nước xuất khẩu: Không. 22.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 22.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): – Mẫu Đơn đề nghị thừa nhận quy trình khảo nghiệm và công nhận thức ăn chăn nuôi của nước xuất khẩu (Mẫu số 11.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Quy trình khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi theo nội dung quy định tại Mẫu 08.TACN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi. 22.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Không. 22.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chỉ tiết Luật Chăn …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin17/04/2020
23. Đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu

23.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. + Cục Chăn nuôi: Tiếp nhận nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu không thuộc đối tượng phải kiểm dịch động vật hoặc kiểm dịch thực vật. + Cục Thú y: Tiếp nhận nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có nguồn gốc động vật và thuộc đối tượng phải kiểm dịch động vật. + Cục Bảo vệ thực vật: Tiếp nhận nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có nguồn gốc thực vật và thuộc đối tượng phải kiểm dịch thực vật. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Trong thời hạn 01 ngày làm việc, cơ quan kiểm tra xác nhận người nhập khẩu đã đăng ký kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu trên bản đăng ký của người nhập khẩu. 23.2. Cách thức thực hiện: Qua môi trường mạng. 23.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: – Giấy đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu (theo Mẫu số 12.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). – Hợp đồng mua bán; phiếu đóng gói (Packing list); hóa đơn mua bán (Invoice); phiếu kết quả phân tích chất lượng của nước xuất khẩu cấp cho lô hàng (Certificate of Analysis); nhãn sản phẩm của cơ sở sản xuất; bản tiêu chuẩn công bố áp dụng của tổ chức, cá nhân nhập khẩu. – Giấy chứng nhận lưu hành tự do hoặc văn bản có giá trị tương đương do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất xứ cấp đối với nguyên liệu đơn, thức ăn truyền thống. – Một trong các giấy tờ sau: Giấy chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng (ISO), Giấy chứng nhận thực hành sản xuất tốt (GMP), Giấy chứng nhận phân tích nguy cơ và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) hoặc giấy chứng nhận tương đương của cơ sở sản xuất đối với nguyên liệu đơn. Thành phần hồ sơ bằng tiếng Anh thì không phải kèm theo bản dịch ra tiếng Việt. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 23.4. Thời hạn giải quyết: Trong thời hạn 01 ngày làm việc.   23.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 23.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. – Cục Chăn nuôi: Tiếp nhận nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu không thuộc đối tượng phải kiểm dịch động vật hoặc kiểm dịch thực vật. – Cục Thú y: Tiếp nhận nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có nguồn gốc động vật và thuộc đối tượng phải kiểm dịch động vật. – Cục Bảo vệ thực vật: Tiếp nhận nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có nguồn gốc thực vật và thuộc đối tượng phải kiểm dịch thực vật. 23.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Xác nhận vào Giấy đăng ký kiểm tra. Thời hạn hiệu lực của Xác nhận vào Giấy đăng ký kiểm tra: Không. 23.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 23.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Mẫu Giấy đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu (Mẫu số 12.TĂCN Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi). 23.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Không. 23.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi. – Nghị định số 74/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa. …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin17/04/2020
24. Miễn giảm kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu

24.1. Trình tự thực hiện: – Bước 1: Tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. + Cục Chăn nuôi: Tiếp nhận nhận hồ sơ đề nghị miễn kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu không thuộc đối tượng phải kiểm dịch động vật hoặc kiểm dịch thực vật. + Cục Thú y: Tiếp nhận nhận hồ sơ đề nghị miễn kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có nguồn gốc động vật và thuộc đối tượng phải kiểm dịch động vật. + Cục Bảo vệ thực vật: Tiếp nhận nhận hồ sơ đề nghị miễn kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có nguồn gốc thực vật và thuộc đối tượng phải kiểm dịch thực vật. – Bước 2: Kiểm tra nội dung hồ sơ: Cơ quan kiểm tra có văn bản xác nhận miễn kiểm tra nhà nước về chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu trong thời hạn 01 năm. 24.2. Cách thức thực hiện: Qua môi trường mạng. 24.3. Thành phần, số lượng hồ sơ: a) Hồ sơ gồm: Văn bản đề nghị miễn kiểm tra với các thông tin sau: Tên hàng hóa, nhãn hiệu, kiểu loại; đặc tính kỹ thuật; xuất xứ, nhà sản xuất; số lượng, khối lượng nhập khẩu theo đăng ký; đơn vị tính; kết quả đánh giá phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của 03 lần liên tiếp. b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ. 24.4. Thời hạn giải quyết: Chưa quy định. 24.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: – Tổ chức. – Cá nhân. 24.6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. + Cục Chăn nuôi: Tiếp nhận nhận hồ sơ đề nghị miễn kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu không thuộc đối tượng phải kiểm dịch động vật hoặc kiểm dịch thực vật. + Cục Thú y: Tiếp nhận nhận hồ sơ đề nghị miễn kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có nguồn gốc động vật và thuộc đối tượng phải kiểm dịch động vật. + Cục Bảo vệ thực vật: Tiếp nhận nhận hồ sơ đề nghị miễn kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có nguồn gốc thực vật và thuộc đối tượng phải kiểm dịch thực vật. 24.7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Văn bản chấp thuận. Thời hạn hiệu lực của Văn bản chấp thuận: 01 năm. 24.8. Phí, lệ phí (nếu có): Không. 24.9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có): Không. 24.10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có): Miễn giảm kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu áp dụng đối với lô hàng nhập khẩu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: Có cùng tên gọi, công dụng, nhãn hiệu, kiểu loại, đặc tính kỹ thuật của cùng một cơ sở sản xuất, xuất xứ do cùng một người nhập khẩu, sau 03 lần nhập khẩu liên tiếp, có kết quả đánh giá phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. 24.11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính: – Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. – Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi. – Nghị định số 74/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật chất lượng sản phẩm, hàng …

TTHC cấp T.Ư - lĩnh vực CNadmin17/04/2020
Sẵn sàng các điều kiện để xuất khẩu thịt gà sang Nga
Sẵn sàng các điều kiện để xuất khẩu thịt gà sang Nga

Cục Thú y và cơ quan thú y của Liên bang Nga đã thống nhất được mẫu chứng nhận kiểm dịch, cùng với các điều kiện thú y, an toàn thực phẩm được nêu rất rõ. Dây chuyền chế biến thịt gà của nhà máy Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN) Ông Nguyễn Văn Long, Phó Cục trưởng Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết sau khi Cơ quan Kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga thông báo chính thức cho phép nhập khẩu sản phẩm thịt gà chế biến từ Việt Nam, Cục Thú y đang phối hợp với các doanh nghiệp chuẩn bị điều kiện cho các lô hàng để có thể xuất khẩu sang thị trường này sớm nhất. Hiện Cục Thú y và cơ quan thú y của Liên bang Nga đã thống nhất được mẫu chứng nhận kiểm dịch, cùng với các điều kiện thú y, an toàn thực phẩm được nêu rất rõ. Việt Nam hiện có nhiều doanh nghiệp lớn như Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam, Công ty trách nhiệm hữu hạn Kyou & Unitex… đã và đang đầu tư chuỗi sản xuất, chế biến thịt gà an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm, đáp ứng tiêu chí của Liên bang Nga. Cục Thú y đã làm việc với các doanh nghiệp có tiềm năng đáp ứng được các tiêu chuẩn của Nga để sắp tới có thể xuất khẩu thịt gà sang thị trường này. [Việt Nam nhập gần 66.000 tấn thịt để phục vụ thị trường trong nước] Ông Nguyễn Văn Long cho biết từ năm 2019, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề nghị cơ quan có thẩm quyền của Liên bang Nga xem xét cho phép Việt Nam được xuất khẩu thịt gà đã qua chế biến vào thị trường này. Sản phẩm tuân thủ, đáp ứng các yêu cầu theo thông lệ chung của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) và thú y của Liên bang Nga. Trên cơ sở đáp ứng tiêu chí, Nga đã đồng ý cho phép nhập khẩu thịt gà từ Việt Nam. Tháng 10/2019, đoàn công tác của Nga đã sang Việt Nam và có tham quan một số chuỗi sản xuất, chế biến thị gà của Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam đã xuất khẩu được thịt gà vào thị trường Nhật Bản cho thấy, Việt Nam đều đã đáp ứng các tiêu chí về an toàn dịch bệnh và an toàn thực phẩm của thế giới cũng như của Nga. “Hiện các thị trường rất bình đẳng, đều có các yêu cầu về đảm bảo an toàn dịch bệnh theo OIE và an toàn thực phẩm của Codex (Tiêu chuẩn của Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế). Ngoài 2 tiêu chuẩn chung của thế giới, các nước; trong đó có Nga cũng đưa ra các tiêu chuẩn tương đồng,” ông Nguyễn Văn Long cho biết. Là doanh nghiệp đầu tiên được Cơ quan Kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga cấp phép cho xuất khẩu các sản phẩm thịt gà chế biến sang thị trường Nga, đại diện Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam cho biết, Việt Nam được phép xuất khẩu thịt gà chế biến sang thị trường Liên bang Nga cũng đồng nghĩa sản phẩm này được phép xuất khẩu sang các nước trong Liên minh kinh tế Á-Âu. Để có thể xuất khẩu được thịt gà chế biến vào các thị trường khó tính này, Việt Nam phải đáp ứng được tiêu chuẩn chăn nuôi, giết mổ, chế biến thịt gà theo chuỗi, bảo đảm an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm, có truy xuất nguồn gốc. Theo Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam, việc thị trường xuất khẩu thịt gà chế biến được mở rộng thêm sang nhiều nước không những giúp nâng cao giá trị gia tăng của ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam, mà còn mở ra hướng đi mới cho người chăn nuôi gà, giảm bớt phụ thuộc vào thị trường trong nước. Từ đó, nâng cao vị thế của ngành chăn nuôi Việt Nam với công nghệ cao, bảo đảm an toàn dịch bệnh và an toàn thực phẩm. Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam hiện đang có chi nhánh Nhà máy chế biến sản phẩm thịt gà tại huyện Chương Mỹ, Hà Nội, được xuất khẩu vào thị trường Nga. Công ty hiện đang đầu tư dự án xuất khẩu gà chế biến theo mô hình khép kín tại Khu công nghiệp Becamex, tỉnh Bình Phước. Dự án công suất đạt 50 triệu con/năm. Ông Montri Suwanposri, Tổng giám đốc Công ty cổ phần chăn nuôi C.P. Việt Nam kỳ vọng, với sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng, dự án sẽ nhanh chóng đi vào hoạt động và có thể xuất khẩu sản phẩm gà chế biến trong năm nay và đưa Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia sản xuất thực phẩm quan trọng trong nền công nghiệp thực phẩm thế giới./. Bích Hồng …

Tin mớiadmin16/03/2020
Bộ trưởng Bộ NN&PTNT: Chuẩn bị để sẵn sàng tăng tốc sau dịch
Bộ trưởng Bộ NN&PTNT: Chuẩn bị để sẵn sàng tăng tốc sau dịch

(Chinhphu.vn) – Lương thực và thực phẩm trong nước đang dồi dào, đáp ứng nhu cầu của nhân dân và thậm chí vẫn đạt chỉ tiêu xuất khẩu trong tình hình dịch COVID-19 như hiện nay Hội nghị trực tuyến tại điểm cầu TPHCM – Ảnh: VGP/Băng Tâm Đây là khẳng định của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường tại Hội nghị trực tuyến với 63 điểm cầu nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp trong điều kiện dịch bệnh COVID-19, được tổ chức chiều ngày 12/3 tại TPHCM. Theo Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, khi Hà Nội thông tin về trường hợp đầu tiên dương tính với COVID-19, đã xuất hiện những tin đồn thất thiệt dẫn đến hiện tượng người dân đổ xô mua lương thực, thực phẩm tích trữ. Nhưng cũng ngay lập tức, sau chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hàng hóa, nhu yếu phẩm lại đầy ắp trong các siêu thị, thậm chí hệ thống các nhà bán lẻ mở cửa bán gạo đến 23h hằng ngày phục vụ nhu cầu mua bán của nhân dân Thủ đô. Thực tế, hàng hóa nông sản trong nước hiện đang rất dồi dào, báo cáo của Bộ NN&PTNT và các doanh nghiệp tham gia Hội nghị trực tuyến chiều 12/3 đã minh chứng điều này. Ngay cả thịt lợn, dù chịu ảnh hưởng dịch tả lợn châu Phi suốt năm 2019 nhưng tổng đàn trên cả nước vẫn đạt gần 24 triệu con. Ông Nguyễn Văn Việt, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch (Bộ NN&PTNT) nhận định, với tốc độ tăng đàn, tái đàn như hiện nay, chăn nuôi sẽ là “cứu cánh” cho ngành nông nghiệp trong năm 2020 và bảo đảm thị trường nội địa sẽ không thiếu nguồn cung các loại thịt. Tuy nguồn cung đã xấp xỉ so với thời điểm trước dịch nhưng giá thịt lợn hiện vẫn ở mức cao. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt và Bộ NN&PTNT kêu gọi các doanh nghiệp chăn nuôi đồng hành kìm, giảm giá thịt lợn. Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT cho biết, nếu không kìm được giá thịt lợn ở mức có lợi cho cả doanh nghiệp chăn nuôi, nhà phân phối, người tiêu dùng thì Chính phủ sẽ mở cửa thị trường, cho phép nhập khẩu thịt lợn từ nhiều nguồn. Khi đó, có thể doanh nghiệp chăn nuôi trong nước lại phải kêu gọi giải cứu thịt lợn. Bộ trưởng Bộ NN&PTNT kêu gọi 17 tập đoàn nông nghiệp, ngay sau Hội nghị, đưa giá thịt lợn về mức 70.000 đồng/kg để ổn định thị trường. Các doanh nghiệp chăn nuôi lớn như Dafaco, CP, Masan đã cam kết thực hiện. Trong 3 tháng qua, dịch COVID-19 đã gây ra những tác động tiêu cực cho ngành nông nghiệp. Minh chứng rõ nhất là nhiều mặt hàng nông sản không thể xuất khẩu, tiếp tục sử dụng giải pháp tình thế là kêu gọi người tiêu dùng giải cứu. Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết, Bộ cùng với các bộ, ngành liên quan sẽ sát cánh cùng các địa phương phát triển thị trường mới cho các mặt hàng nông sản chủ lực, có khả năng cạnh tranh như vải Bắc Giang, tôm Bạc Liêu… Riêng với dưa hấu của tỉnh Bình Định, Bộ trưởng đề nghị địa phương này chuyển đổi sang trồng cỏ phục vụ chăn nuôi bò, thực tế cũng rất cần nguồn cỏ chăn nuôi, trong khi dưa hấu nhiều năm qua đều rơi vào tình cảnh phải kêu gọi giải cứu. Khẳng định ngành nông nghiệp còn đối mặt với nhiều thách thức do dịch bệnh, thiên tai nhưng Bộ trưởng Bộ NN&PTNT lạc quan cho rằng, dù trong hoàn cảnh nào thì con người vẫn có nhu cầu về lương thực, thực phẩm. Do vậy, ngành nông nghiệp phải chuẩn bị các kịch bản để sẵn sàng tăng tốc sản xuất khi dịch bệnh được kiểm soát. Cần tập trung thúc đẩy sản xuất, khắc phục khó khăn, cung ứng thực phẩm trong mọi hoản cảnh; tập trung các biện pháp khống chế dịch bệnh không để phát sinh, không để thực phẩm leo giá và đặc biệt, không để tình trạng trục lợi. Chuẩn bị điều kiện tốt nhất để thúc đẩy sản xuất, tìm thị trường mới cho các mặt hàng xuất khẩu sau dịch bệnh được kiểm soát. Băng …

Tin mớiadmin13/03/2020
Công văn số 76/CN-TACN ngày 14 tháng 02 năm 2020 về việc quy định mới về kiểm tra nhà nước chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu
Công văn số 76/CN-TACN ngày 14 tháng 02 năm 2020 về việc quy định mới về kiểm tra nhà nước chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu

Công văn, Tin mớiadmin25/02/2020
Giá cả dịp trong và sau Tết ổn định theo đúng kịch bản
Giá cả dịp trong và sau Tết ổn định theo đúng kịch bản

Ngày 29/1, Cục quản lý giá thuộc Bộ Tài chính cho biết, tình hình cung cầu giá cả thị trường trước và trong Tết Nguyên đán Canh Tý 2020 cơ bản bình ổn nằm trong kiểm soát và diễn biến theo đúng với kịch bản công tác điều hành giá trong dịp trước Tết do Ban Chỉ đạo điều hành giá đã chỉ đạo các bộ, ngành, cơ quan quản lý Nhà nước về giá đề ra. Giá thịt lợn ổn định Theo Cục quản lý giá, tại các chợ truyền thống, giá các mặt hàng thiết yếu như rau củ quả, thịt tươi, đồ phục vụ cúng lễ chỉ tăng theo quy luật vào các ngày cận Tết, một vài ngày đầu năm mới và đã dần trở lại bình thường vào ngày 5, 6 Tết. Tại các Siêu thị, trung tâm thương mại, mức giá cơ bản được giữ ổn định; đối với cửa hàng trực thuộc của các doanh nghiệp tham gia Chương trình bình ổn thị trường, doanh số bán ra tăng cao so bình thường. Một số dịch vụ trông giữ xe, dịch vụ ăn uống có mức tăng nhẹ vào các ngày đầu năm. Cụ thể, diễn biến giá cả một số mặt hàng thiết yếu tại một số địa phương trọng điểm như lương thực, hầu hết các địa phương trong cả nước đã có kế hoạch dự trữ hàng hóa chuẩn bị Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020; trong đó, mặt hàng gạo luôn được chú trọng và được các hộ kinh doanh, doanh nghiệp tích cực chuẩn bị, bảo đảm lượng dự trữ và cung ứng cho thị trường. Trước Tết từ đầu tháng Một đến ngày Ông Công Ông Táo giá gạo chất lượng cao, gạo nếp tăng nhẹ từ 5-10% so với ngày thường, giá gạo tẻ thường ổn định. Tại miền Bắc, giá thóc tẻ thường dao động phổ biến từ 6.200-8.200 đồng/kg. Giá gạo tẻ thường ở mức 11.000-13.500 đồng/kg; gạo xi dẻo 13.500-15.500 đồng/kg; gạo Bắc Hương có giá 16.000-18.000 đồng/kg; gạo tám thơm Điên Biên có giá 20.500-24.500 đồng/kg. Tại miền Nam, giá bán lẻ trên thị trường gạo trắng thường 25% tấm ở mức 11.000-14.000đ/kg, gạo thơm chợ Đào 16.000-22.000 đồng/kg. Trong các ngày nghỉ lễ Tết giao dịch mua bán gạo không nhiều nên mức giá không biến động và bắt đầu từ ngày mùng 5 giá gạo các loại sẽ có xu hướng giảm dần trở về mức giá ngày thường. [Người tiêu dùng mạnh tay chi tiêu 448.100 tỷ đồng trong dịp Tết] Giá ổn định trước Tết do nguồn cung dồi dào nhưng thực phẩm tươi sống vẫn tăng nhẹ trong những ngày giáp Tết do sức mua tăng. So với ngày thường, giá thịt bò tăng khoảng 20.000-40.000 đ/kg tùy từng thị trường địa phương do nhu cầu tăng; giá gà sống tăng khoảng 10.000-30.000 đ/kg trong các ngày cận Tết do nhu cầu người dân tăng cao để cúng tất niên và giao thừa. Trong các ngày Tết đến ngày mùng 5 giá các mặt hàng thực phẩm tươi sống vẫn giữ ở mức như cận Tết và cục bộ một số chợ dân sinh có tăng giá nhẹ trong ngắn hạn một vài mặt hàng như thịt bò, thủy hải sản do người bán vẫn ít và các chợ đầu mối hầu hết chưa hoạt động. Riêng mặt hàng thịt lợn, nguồn cung trên thị trường tiếp tục được tăng lên trong tháng 1 và dự kiến cả quý 1 này từ nguồn cung ứng theo kế hoạch của các doanh nghiệp nhằm phục vụ Tết và nguồn nhập khẩu tiếp tục gia tăng để bù phần thiếu hụt nguồn cung thời gian qua. Đồng thời, nhiều địa phương triển khai chương trình bình ổn thị trường đều có sự chú trọng bình ổn mặt hàng thịt lợn, đảm bảo nguồn cung và giá cả ổn định. Theo báo cáo của các địa phương, nguồn cung thịt lợn trong dịp Tết Nguyên đán về cơ bản đủ cung cấp cho thị trường, chủ yếu đến từ hệ thống chăn nuôi nhỏ và các công ty chăn nuôi lớn. Do đó, không xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn cung và tăng giá đột biến như những tháng trước Tết. Bên cạnh đó, một số địa phương xác định các nhóm hàng thực phẩm được người dân ưu tiên sử dụng thay thế cho thịt lợn như: thịt gia cầm; thịt trâu, bò, ngựa; thủy hải sản tươi sống, đông lạnh… tương đối dồi dào. Bởi, hoạt động chăn nuôi các mặt hàng này đang tăng trưởng tốt có giá bán tương đối hợp lý, phù hợp với khả năng thu nhập, chi trả của đại đa số người dân góp phần ổn định giá thịt lợn trong dịp Tết Nguyên đán. Về cơ bản, giá cước vận chuyển hành khách bằng ôtô ổn định trong dịp Tết, nhiều bến xe lượng khách vắng hơn mọi năm do thời gian nghỉ trước Tết dài nên người dân dễ dàng chủ động việc đi lại hơn, cũng như các nhà xe đã chủ động tăng chuyến vào các thời điểm cao điểm trước Tết để đảm bảo đủ nhu cầu đi lại của người dân. Tại một số tỉnh vào giai đoạn cao điểm Tết, một số tuyến có mức phụ thu từ 20-60% tùy từng tuyến và từng thời điểm để để tăng cường chuyến và bù đắp chi phí phương tiện chạy rỗng một chiều. Các doanh nghiệp vận tải cơ bản tuân thủ các quy định về niêm yết giá và bán đúng giá vận chuyển hành khách đã đăng ký, kê khai. Các cơ quan chức năng cũng tăng cường xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về tăng giá vé chui, tăng giá bất hợp lý trong các ngày Tết. Không điều chỉnh giá với các mặt hàng do Nhà nước định giá Theo Cục quản lý giá Bộ Tài chính, sau Tết là thời điểm của Lễ hội diễn ra trên cả nước, nhu cầu đi lại, tiêu dùng thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình, đồ mua sắm phục vụ lễ hội đầu năm có khả năng sẽ có xu hướng tăng. Để tiếp tục bình ổn thị trường tháng sau Tết và quý 1 này, Cục quản lý giá cho biết, tiếp tục theo dõi sát diễn biến cung cầu thị trường, giá cả để có giải pháp bình ổn thị trường phù hợp. Đồng thời, thực hiện kiểm soát chặt chẽ và bình ổn giá cả thị trường sau Tết nhất là đối với mặt hàng thịt lợn, dịch vụ vui chơi, giải trí, ăn uống, đi lại phục vụ dịp lễ, Tết; thực hiện chế độ báo cáo giá thị trường sau Tết theo quy định. Đối với các địa phương khó khăn ở vùng sâu, vùng xa, các khu công nghiệp chế xuất… Cục quản lý giá đã đề nghị Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố tiếp tục làm tốt công tác hỗ trợ, cung ứng kịp thời nhu yếu phẩm, hàng hóa, vật tư để đảm bảo cung cấp đầy đủ cho nhân dân. Đặc biệt, không thực hiện điều chỉnh giá trong quý 1 này đối với các mặt hàng do Nhà nước định giá; trường hợp điều chỉnh phải có phương án giá cụ thể, tính toán mức độ tác động vào CPI, trên cơ sở đó báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt thận trọng. Bên cạnh đó, Cục quản lý giá cũng nhấn mạnh, cần tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc điều hành giá của một số mặt hàng thiết yếu theo các giải pháp đã được đề ra theo nguyên tắc điều hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát; thận trọng trong việc điều hành giá những tháng đầu năm để đảm bảo dư địa điều hành cho CPI cả năm. Đồng thời, tăng cường quản lý, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật về giá gắn với kiểm tra chấp hành pháp luật về thuế, phí (nhất là dịch vụ tham quan, du lịch, dịch vụ trông giữ xe đạp, xe máy, ôtô). Quản lý chặt việc niêm yết giá và bán theo giá niêm yết các mặt hàng có nhu cầu tăng cao sau Tết. Tăng cường kiểm tra các quy định về đảm bảo an toàn giao thông, chỉ đạo các doanh nghiệp vận tải tổ chức tốt công tác vận tải để phục vụ đủ nhu cầu đi lại cho người dân trong dịp lễ hội đầu năm; yêu cầu đơn vị kinh doanh vận tải công bố và niêm yết công khai mức giá cước theo đúng quy định hiện hành./. Thùy Dương …

Tin mới, Uncategorizedadmin30/01/2020
Các 'ông lớn' đồng loạt tăng nguồn cung thịt lợn
Các ‘ông lớn’ đồng loạt tăng nguồn cung thịt lợn

Các doanh nghiệp (DN) hàng đầu về chăn nuôi lợn tại Việt Nam cho biết đã và đang đẩy mạnh tăng đàn lợn. Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường phát biểu tại hội nghị triển khai một số giải pháp thúc đẩy chăn nuôi đảm bảo an toàn dịch bệnh. Bên cạnh đó, tình hình tái đàn lợn tại nhiều tỉnh cũng đang diễn ra thuận lợi. Dự báo, nguồn cung thịt lợn sẽ cải thiện đáng kể để cung cấp cho thị trường trong thời gian tới, nhất là việc đáp ứng nhu cầu cho dịp Tết Nguyên đán. Đây là thông tin mà các DN lớn trong ngành chăn nuôi lợn của Việt Nam cũng như lãnh đạo ngành nông nghiệp của các địa phương chăn nuôi lợn trọng điểm đã khẳng định tại hội nghị triển khai một số giải pháp thúc đẩy chăn nuôi đảm bảo an toàn dịch bệnh do Bộ NN-PTNT tổ chức ngày 26/12. Trước băn khoăn của dư luận thời gian qua về có hay không việc các DN lớn trong ngành chăn nuôi “găm” hàng để đẩy giá lợn thời gian qua, ông Vũ Anh Tuấn, Phó Tổng giám đốc Cty CP Chăn nuôi CP Việt Nam (CP Việt Nam) thẳng thắn khẳng định: Khi dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) nổ ra đầu năm 2019, thị trường thịt lợn đã một phen chao đảo rớt giá thảm hại. Nhờ sự vào cuộc hỗ trợ của Bộ NN-PTNT, các cơ quan truyền thông đẩy mạnh tuyên truyền “không quay lưng với thịt lợn”, giá thịt lợn đã dần nhích lên, giúp các DN chăn nuôi lợn lấy lại được thế thăng bằng. Vì vậy kể từ khi giá lợn tăng cao thời gian qua, CP Việt Nam đã chủ trương đồng hành với người tiêu dùng, cung cấp tối đa có thể nguồn cung thịt lợn. Thậm chí trọng lượng lợn xuất chuồng trung bình đạt 95 – 96 kg/con, non hơn bình thường Cty cũng đã xuất chuồng. Giá lợn của CP Việt Nam bán ra ngày 26/12 đang ở mức 84.000 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg so với ngày 25/12, và đây cũng là mức giá thấp nhất so với các Cty khác. Ông Tuấn khẳng định thời gian tới, CP Việt Nam sẽ họp bàn, nhằm tiếp tục hạ thêm giá bán ở mức thấp nhất có thể so với mặt bằng thị trường. Tháng 12/2019, CP Việt Nam đã cung cấp ra thị trường Việt Nam khoảng 500 nghìn lợn thịt xuất chuồng, tương đương khoảng 16.000 con/ngày, cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm 2018 và vẫn sẽ duy trì việc tăng nguồn cung một cách ổn định trong thời gian tới. Đại diện Cty CP Tập đoàn DABACO cũng tiết lộ: Hiện tại, tổng đàn nái của tập đoàn đã nâng lên mức 43 nghìn con nái, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2018. Theo kế hoạch thời gian tới, DABACO sẽ tiếp tục đẩy mạnh tăng đàn nái lên khoảng 45.600 con, theo đó sẽ tăng khá mạnh về tổng đàn lợn thịt so với hiện tại. Ông Đào Mạnh Lương, Tổng GĐ Cty CP Tập đoàn MAVIN, một “ông lớn” khác trong ngành chăn nuôi lợn cũng tiết lộ tổng đàn nái của Cty thời điểm này đã được nâng lên ở mức 23 nghìn con, và sẽ tiếp tục tăng quy mô đàn nái ngay từ đầu năm 2020. Với tổng đàn nái như hiện tại, MAVIN đang tung ra thị trường khoảng 1.000 lợn thịt/ngày. Ông Lương cho biết, theo kế hoạch từ trong tháng 12/2019 và tháng 1/2020 (Âm lịch), Cty sẽ tăng lượng lợn xuất chuồng thêm khoảng 20%/ngày so với hiện nay. Đồng thời khẳng định việc MAVIN tăng mạnh lượng lợn thịt xuất chuồng vào dịp Tết Nguyên đán 2020 không phải là tăng quy mô đột xuất, mà là do việc tăng quy mô đàn nái, cụ kỵ ông bà đã đặt ra từ trước. Theo ông Lương, trong khoảng 2 tuần trở lại đây, khảo sát cho thấy nguồn cung lợn ra thị trường đã đi vào ổn định. Vì vậy rất khó hiểu khi nhiều nơi giá thịt lợn lên tới 200 nghìn đồng/kg như báo chí phản ánh. “Hiện chỉ còn 1 tháng nữa là đến Tết Nguyên đán. Nếu nguồn cung thực sự thiếu hụt quá nhiều, giá thịt lợn sẽ theo đà tăng mạnh. Hiện chúng tôi đang bán ra với giá lợn 84.000 đồng/kg. Với giá này thì thịt lợn ngoài thị trường không thể cao tới mức 200 nghìn đồng/kg được. Có chăng chỉ là do khâu trung gian, thương lái tự đẩy giá lên mà thôi”, ông Lương nhận định. Cũng theo vị này, cùng với việc các Tập đoàn, Cty lớn tăng mạnh nguồn cung thịt lợn trong thời gian tới, việc giá thịt lợn trên thị trường tự do duy trì quá cao thời gian qua cũng sẽ khiến “cầu” tụt giảm, do đó giá lợn thời gian tới nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm chứ ít có khả năng tăng cao hơn nữa. QUỲNH …

Tin mớiadmin27/12/2019
Bộ trưởng NN-PTNT: Cẩn thận gậy ông đập lưng ông nếu găm hàng, 'thổi' giá lợn
Bộ trưởng NN-PTNT: Cẩn thận gậy ông đập lưng ông nếu găm hàng, ‘thổi’ giá lợn

Bộ trưởng NN-PTNT đưa ra cảnh báo những hậu quả người nuôi hay các công ty chăn nuôi phải đối mặt nếu có ý định găm hàng, thổi giá lợn lên cao. Bộ trưởng NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường cảnh báo các hậu quả nếu găm hàng, ‘thổi’ giá lợn. Sáng 22/12, sau khi thăm một số trang trại nuôi lợn, gà tiêu biểu ở tỉnh Bắc Giang, Bộ trưởng NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường đã có những chia sẻ về nhu cầu thực phẩm, đặc biệt là thịt lợn trong dịp Tết âm lịch sắp tới. “Qua quá trình kiểm tra công tác chăn nuôi, các địa phương đang thực hiện rất nghiêm túc chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng về tập trung tăng cường sản xuất đa dạng các loại thực phẩm, gia cầm tăng 15%, thủy sản tăng hơn 6% và đại gia súc tăng 4,5%”, người đứng đầu ngành nông nghiệp cho biết. Riêng về lợn, Bộ trưởng cho biết sau khi dịch giảm xuống mức có thể kiểm soát được thì công tác tái đàn đang được đẩy mạnh, tín hiệu đáng mừng là tái đàn ở công ty lớn hay trang trại quy mô gia đình đều đảm bảo rất nghiêm ngặt quá trình đảm bảo an toàn sinh học. Để đối mặt với nhu cầu thực phẩm sắp tăng cao vào cuối năm, ông Nguyễn Xuân Cường đưa ra 3 giải pháp, đầu tiên là tăng cường sản xuất, tăng sản lượng, không chỉ về lợn mà còn là nhiều nguồn thực phẩm khác như gia cầm, thủy sản hay gia súc. Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn phục vụ xuất khẩu. Thứ hai, các cơ quan chức năng cần vào cuộc mạnh mẽ, ngăn chặn tình trạng xuất lậu lợn sang Trung Quốc. Công tác này vừa có thể ổn định thị trường trong nước, vừa ngăn chặn được nguy cơ lây lan dịch tả. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường thăm trang trại gà thả vườn quy mô hàng ngàn con ở Tân Yên, Bắc Giang. Cuối cùng, quan trọng nhất, Bộ trưởng NN-PTNT nhấn mạnh công tác thương mại cần được đảm bảo, không để xảy ra tình trạng trục lợi, găm hàng. Theo ông, nếu găm hàng, người chịu hậu quả trước tiên là người nuôi vì khi quá lứa thì hiệu quả kinh tế sẽ giảm. Thứ hai, thời tiết cuối đông đầu xuân cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ dịch bệnh và cuối cùng nếu khi thị trường quay lưng, không dùng thịt lợn nữa do giá cao thì chắc chắn sẽ lỗ. Bộ trưởng cho rằng, các công ty chăn nuôi lớn, giữ được nhiều lợn cần làm hạt nhân, dẫn dắt thị trường theo hướng tích cực, không được để giá tăng quá cao vì nếu không sẽ ‘gậy ông đập lưng ông’, người tiêu dùng quay lưng, nguồn hàng nhập tràn về và các doanh nghiệp khi đó sẽ thua ngay trên sân nhà. Một giải pháp nữa mà bộ trưởng đưa ra là cần tìm cách giảm các khâu trung gian, rút ngắn khoảng cách từ sản xuất đến tiêu dùng để giảm giá thành. Ông Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh, ngoài các giải pháp như trên, điều cần thiết là tìm ra một giải pháp lâu dài, từ năm 2020 trở đi để đối mặt với các nguy cơ xảy ra các đợt dịch lớn như vừa qua. Bên cạnh đó, cần có chiến dịch lâu dài để phát triển hài hòa các nhóm thực phẩm, vừa đảm bảo an toàn chăn nuôi, an toàn kinh tế vừa cân đối dinh dưỡng được bữa ăn cho người Việt. Bộ trưởng biểu dương các chủ trại gà đã nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi sau khi gặp dịch tả lợn châu Phi. Mô hình trang trại lợn của bà Hoàng Thị Thái mà Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đến thăm ở xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, Bắc Giang đang có khoảng 8.000 lợn thịt, dự kiến sản lượng bán ra thị trường từ nay đến Tết vào khoảng 300 tấn. Theo bà Thái, giá lợn cao như hiện nay chỉ mang tính thời điểm và điều người chăn nuôi như bà mong muốn là mức giá ổn định chứ không phải cao. Chủ trang trại này cho rằng, nếu giá cao sẽ nhiều người ồ ạt đầu tư, dễ dẫn đến tình trạng khủng hoảng thừa như năm 2017. Bà cũng khẳng định trang trại mình không có tình trạng găm hàng, chờ giá tăng vì phải đối mặt với nguy cơ dịch bệnh, hết bảo hộ vắc xin và tốn kém thức ăn, chuồng trại. Sáng 22/12, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng đến thăm 2 mô hình trang trại gà với quy mô hàng ngàn con tại huyện Tân Yên. Chủ trại đều là những gia đình từng chăn nuôi lợn nhưng sau khi xảy ra dịch tả lợn châu Phi thì nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu, chuyển sang nuôi gà và đã sẵn sàng xuất bán phục vụ thị trường Tết. Tái đàn lợn, tái cơ cấu chăn nuôi Bắc Giang là tỉnh trọng điểm về chăn nuôi lợn của cả nước với tổng đàn có khi lên đến 1,3 triệu con, đứng thứ 3 của cả nước. Vào lúc cao điểm dịch tả, đàn lợn của tỉnh bị giảm mạnh nhưng đến nay tình hình đã được kiểm soát, có 220 xã đã qua 30 ngày không tái dịch, chỉ có 9 xã chưa qua 30 ngày. “Theo chỉ đạo của Bộ NN-PTNT, sở tham mưu cho tỉnh, chỉ đạo các địa phương thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn trước khi tái đàn. Sở NN-PTNT Bắc Giang tổ chức 10 đoàn công tác về các huyện, thành phố hướng dẫn cho người dân công tác tái đàn, nhất là các trang trại, hộ chăn nuôi lớn”, ông Dương Thanh Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT Bắc Giang cho biết. Giám đốc Sở NN-PTNT Bắc Giang Dương Thanh Tùng chia sẻ về cơ cấu chăn nuôi của tỉnh sau dịch tả lợn châu Phi. Qua thời gian tái đàn, lượng lợn của Bắc Giang đã tăng trở lại với số lượng hiện nay vào khoảng 900.000 con, đảm bảo tốt cho nhu cầu thực phẩm cho người dân trong tỉnh. Ngoài ra, mỗi ngày Bắc Giang đang xuất khoảng 400-500 con lợn cho các tỉnh lân cận. Hiện nay, giá lợn cao và người chăn nuôi có thu nhập lớn nhưng cơ quan quản lý vẫn khuyến khích chủ trại xuất bán khi đạt trọng lượng hợp lý, khoảng 120-130 kg để vừa có hiệu quả kinh tế vừa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Giám đốc Sở NN-PTNT Bắc Giang thông tin, quá trình tái đàn được kiểm soát rất nghiêm ngặt, đơn vi tổ chức thẩm định và hướng dẫn kỹ các điều kiện cần thiết cho các cơ sở chăn nuôi có khả năng tái đàn. Trong khi đó, với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, mặc dù có nhiều nhu cầu nhưng sở vẫn khuyến cáo chuyển sang loại hình chăn nuôi khác như trâu bò, gà, vịt, dê… Theo ông Tùng, trước tình hình dịch tả, tỉnh đã sớm chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi, trong đó tập trung vào phát triển đàn gia cầm với số lượng xấp xỉ 17 triệu con, tăng 7-8% so với cùng kỳ 2018. Trong đó, nhu cầu tiêu thụ trong tỉnh vào khoảng 40%, phần còn lại được xuất đi các tỉnh ở miền Bắc. Việc vỗ béo đàn trâu bò cũng được quan tâm, toàn tỉnh có hàng trăm mô hình chăn nuôi gia súc với quy mô từ 20-100 con. Đàn bồ câu thương phẩm của tỉnh đạt 50.000 con, sản lượng cá cũng đạt 40.000 tấn, góp phần vào nguồn thực phẩm phục vụ thị trường dịp cuối năm. TÙNG …

Tin mớiadmin22/12/2019
Đề xuất không hỗ trợ thiệt hại cho những hộ dân tự ý tái đàn lợn
Đề xuất không hỗ trợ thiệt hại cho những hộ dân tự ý tái đàn lợn

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau đề xuất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét, thống nhất chủ trương không hỗ trợ thiệt hại đối với các hộ dân tự ý tái đàn lợn khi xảy ra dịch bệnh. Lực lượng chức năng tiến hành tiêu hủy lợn bệnh. (Ảnh: Công Mạo/TTXVN) Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau, dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn tỉnh đang bùng phát mạnh và không có dấu hiệu dừng lại trong khi giá lợn hơi ở Cà Mau đang tăng lên. Đây là nguyên nhân khiến ngày càng nhiều hộ chăn nuôi trong tỉnh tự ý tái đàn lợn, gây nhiều khó khăn trong quản lý, kiểm soát dịch bệnh. Trước thực trạng này, mới đây Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau đã có Công văn số 7905/UBND-NNT đề xuất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét, thống nhất chủ trương không hỗ trợ thiệt hại đối với các hộ dân tự ý tái đàn lợn khi xảy ra dịch bệnh bị tiêu hủy. Liên quan đến vấn đề trên, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lê Thanh Triều cho hay cơ quan chức năng tỉnh đang đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến cáo đến các hộ chăn nuôi lợn trong tỉnh, nếu không đảm bảo điều kiện chăn nuôi an toàn sinh học và chưa được chính quyền địa phương cho phép thì không được tự ý tái đàn, nhằm góp phần ngăn chặn có hiệu quả dịch tả lợn châu Phi lây lan ra diện rộng. Trước mắt, chính quyền các địa phương tích cực vận động, hướng dẫn hộ dân tạm thời chuyển đổi từ mô hình nuôi lợn sang đối tượng nuôi khác phù hợp để tạo việc làm, ổn định nguồn thu nhập. Tính đến giữa tháng 11/2019, Cà Mau có 81 xã trong số 101 xã, phường và thị trấn của tỉnh xuất hiện bệnh dịch tả lợn châu Phi, với số lượng lợn buộc phải tiêu hủy gần 10.000 con, tương đương 664 tấn lợn. Thời gian qua, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã xuất ngân sách gần 40 tỷ đồng phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi; đồng thời, thực hiện chính sách hỗ trợ thiệt hại cho nhiều hộ chăn nuôi có đàn lợn mắc bệnh buộc phải tiêu hủy theo quy định./. Kim Há …

Tin mớiadmin22/11/2019
Công văn số 1737/CN-GSL ngày 22/11/2019 về việc chủ động phòng chống đói, rét cho vật nuôi

Công vănadmin22/11/2019
Ồ ạt nuôi gia cầm, đối mặt thua lỗ
Ồ ạt nuôi gia cầm, đối mặt thua lỗ

Sau thời gian dài bị dịch tả heo Châu Phi hoành hành, nhiều hộ chăn nuôi heo ở thành phố Sa Đéc (Đồng Tháp) đã tận dụng chuồng trại chuyển sang chăn nuôi gia cầm. Tuy nhiên, thời gian gần đây, giá thịt gia cầm và giá trứng liên tục giảm mạnh đã khiến nhiều hộ chăn nuôi thua lỗ nặng. Người dân cần thận trọng tái đàn gia cầm đón tết. Dự đoán giá vịt thịt sẽ tăng do nguồn cung thịt heo đang khan hiếm nên hộ ông Võ Văn Chính ở xã Tân Phú Đông, thành phố Sa Đéc đã mạnh dạn đầu tư hơn 30 triệu đồng để mở rộng chuồng trại nuôi trên 3 ngàn con vịt thịt và lấy trứng. Tuy nhiên, giá trứng vịt giảm mạnh chỉ còn 1.500 đồng/trứng còn giá vịt thịt chỉ dao động từ 45.000 – 50.000 đồng/kg đã đẩy gia đình ông vào cảnh tiến thoái lưỡng nan. Bởi với giá trứng vịt hiện tại, mỗi ngày chỉ tính tiền thức ăn, chưa tính tiền công chăm sóc, gia đình ông đã phải chịu cảnh thua lỗ hơn 300.000 đồng. Mặc dù đang thua lỗ nhưng ông Chính không còn cách nào khác để cầm cự bởi giá vịt thịt cũng đang quá thấp nếu bán vịt thịt sẽ lỗ càng lỗ nặng. Ông Võ Văn Chính lo lắng nói: “Không biết làm sao, mọi năm mùa này trứng giá hơn 2.000 đồng, năm nay chỉ còn có 1.500 đồng. Mình đoán dịch tả heo châu Phi hoành hành thì có thể hột vịt, thịt vịt tăng giá, ai ngờ đâu giảm quá trời. Bây giờ ráng duy trì tới tết coi giá có tăng lên gỡ gạc lại chút đỉnh chứ bây giờ bán ra thì lỗ nặng”. Cách đó không xa, sau khi bán tháo bầy vịt hơn 2 ngàn con vịt thịt để thoát cảnh thua lỗ, ông Phạm Văn Yên, xã Tân Phú Đông cũng vừa bắt thêm 500 con vịt về nuôi đón tết vì trong đầu cứ nghĩ rằng giá vịt thịt sẽ tăng những tháng cận tết. Ông Yên nói: “Tôi mới bán bầy vịt đẻ tuy không có lời nhưng mà mọi năm thời điểm này trở lên là vịt thịt với trứng luôn có giá nên bây giờ thấy giá vịt con đang rẻ mình hốt đại vô nuôi thử coi thời vận thế nào chứ chuồng trại đâu có để trống được”. Theo Phòng Kinh tế thành phố Sa Đéc, hiện tổng đàn gia cầm trên địa bàn thành phố đã lên trên 70 ngàn con, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ và nằm ngoài dự đoán của ngành chuyên môn. Việc tự ý tăng đàn gia cầm ồ ạt của người chăn nuôi không chỉ làm cho nguồn cung vượt cầu, giá cả bấp bênh mà còn đặt ra mối lo về quản lý dịch bệnh trên gia cầm. Những tháng cuối năm, khi không khí lạnh xuất hiện cũng là lúc dịch cúm gia cầm dễ bùng phát. Ông Đỗ Văn Thậm, Trưởng phòng Kinh tế thành phố Sa Đéc cho biết thêm: “Do tình hình chăn nuôi tự phát sau dịch tả heo châu Phi, do đó những hộ không chăn nuôi gia cầm truyền thống tận dụng những chuồng nuôi gia súc trước đây bỏ hoang sau khi dịch bệnh để nuôi gia cầm. Do đó, chuồng trại nuôi gia cầm không đồng nhất như các vùng chuyên chăn nuôi gia cầm ở trong tỉnh. Để quản lý dịch bệnh trên đàn gia cầm, chúng tôi phải tăng cường kiểm soát chặt chẽ hơn ở các vùng nuôi, theo dõi tình hình dịch bệnh và hướng dẫn kịp thời cho người dân phòng trị”. Trước việc đàn gia cầm tăng nhanh, thú ý địa phương đang tăng cường phòng chống dịch bệnh. Ông Thậm cũng khuyến cáo người dân nên thận trọng khi tái đàn gia cầm, cần đảm bảo điều kiện an toàn vệ sinh chuồng trại và nên nắm bắt nhu cầu của thị trường để có sự tái đàn phù hợp. Thực tế hiện nay cho thấy, phần lớn người chăn nuôi gia cầm đều tự ý tái đàn và chỉ dựa vào kinh nghiệm của những năm trước mà ít có ai phân tích về nhu cầu của thị trường, tìm đầu ra ổn định cho gia cầm. Chính việc chăn nuôi tự phát một cách ồ ạt như thế đã làm cho giá thịt gia cầm và trứng gia cầm rớt giá không phanh trong những ngày qua. Mặc dù nhu cầu thực phẩm luôn tăng cao vào thời điểm cuối năm nhưng bất kỳ một sản phẩm nào khi sản xuất không theo nhu cầu của thị trường thì luôn đối mặt với cảnh bấp bênh và thực tế những ngày qua chính là bài học nhãn tiền. THIÊN …

Tin mớiadmin21/11/2019
Cục Chăn nuôi: Giá lợn thịt lên cao không phải do thiếu nguồn cung
Cục Chăn nuôi: Giá lợn thịt lên cao không phải do thiếu nguồn cung

Ông Nguyễn Xuân Dương, Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, giá lợn tăng cao không phải do thiếu nguồn cung mà có dấu hiệu do lưu thông và thông tin không rõ ràng. Người dân mua thịt lợn bán tại chợ thuộc huyện Khoái Châu, Hưng Yên. (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN) Chiều 14/11, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Báo Nông thôn ngày nay tổ chức tọa đàm “Áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học, đẩy mạnh tái đàn lợn, đảm bảo cung – cầu thực phẩm dịp Tết.” Trước tình hình giá lợn thịt mấy ngày qua tăng nhanh, ông Nguyễn Xuân Dương, Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, giá lợn tăng cao không phải do thiếu nguồn cung mà có dấu hiệu do lưu thông và thông tin không rõ ràng. Giá chủ lưu (các doanh nghiệp lớn bán ra) vẫn dao động 65.000 68.000 đồng/kg, cá biệt có vùng cao hơn. Điển hình giá lợn của Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam bán ra khoảng 65.000 đồng/kg. Theo ông Nguyễn Xuân Dương, hiện tượng tăng giá trên một phần do thương lái trước kia thu mua của nông hộ, giờ họ không có nguồn này trong khi đó lại không tiếp cận được các nguồn của doanh nghiệp nên xảy ra hiện tượng đẩy giá. Bên cạnh đó, nhiều đơn vị thông tin truyền thông lại chỉ quan tâm đến thông tin giá cao nên vô hình chung đẩy giá lợn lên. Do đó, những hiện tượng cá biệt này lại trở thành thông tin chính. Giá lợn lên cao cá biệt vừa qua không phải là giá chủ lưu. Sản lượng thịt lợn có thiếu hụt nhưng không thiếu đến mức đẩy giá lợn như vừa qua. Song song với chống dịch, ngành nông nghiệp đã tuyên truyền, hướng dẫn đẩy chăn nuôi các đối tượng khác như gia cầm, thủy sản… nên tổng nguồn cung thực phẩm không thiếu. Do đó, người tiêu dùng hoàn toàn yên tâm về nguồn cung thực phẩm. Ông Nguyễn Xuân Dương cho biết, xu hướng nhu cầu thịt lợn cuối năm sẽ tăng, trong tháng Tết thường tăng từ 20-25% so với tháng khác. Nếu thực hiện tốt các giải pháp sẽ không có đột biến về giá. Thời gian tới cần có sự chung tay của cả ngành nông nghiệp và công thương trong sản xuất, lưu thông và bình ổn giá; trong đó ưu tiên bình ổn giá cho mặt hàng thịt lợn. Đại diện doanh nghiệp đang cung cấp cho thị trường từ 3.500-4.000 con lợn thịt/ngày, ông Kiều Đình Thép, Giám đốc Kinh doanh Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam cho biết, công ty luôn đồng hành với người dân và kêu gọi của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc bình ổn giá lợn thịt từ tháng 8 đến nay. Những ngày gần đây giá lợn của công ty bán ra dao động 59.000-67.000 đồng/kg, tùy thuộc vào loại lợn và từng địa phương. Công ty luôn ưu tiên cung cấp lợn với những khách hàng đã liên kết lâu năm, với đơn vị mới công ty chỉ phục vụ ở mức độ vừa phải. Công ty cũng không bán lợn ồ ạt ra thị trường bởi nếu bán ồ ạt sẽ xảy ra tình trạng thương lái thu gom và tổ chức bán qua nhiều nấc thang và có thể đẩy giá lên. Nguồn cung của công ty so với cùng kỳ năm ngoái đang tăng khoảng gần 10% về sản lượng. Doanh nghiệp sẽ cung cấp ổn định đến cuối năm. Góp phần bình ổn thị trường, ông Kiều Đình Thép cũng cho biết, ngoài cung cấp lợn thịt cho các đơn vị đang liên kết, công ty cũng có trên 200 điểm bán hàng Porkshop cùng với hệ thống phân phối ở các cửa hàng tiện ích, siêu thị… Để tăng nguồn cung, Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam đang tăng năng suất lợn nái; đẩy mạnh tái đàn cùng với thực hiện bằng được “an ninh sinh học” để giữ đàn; kéo dài thời gian nuôi lợn thịt, giúp tăng năng suất, sản lượng thịt. Các cơ quan chức năng cần tuyên truyền, định hướng người tiêu dùng sử dụng sản phẩm thay thế như gia cầm, thủy cầm, thủy sản, trâu bò…; cố gắng tiếp cận khâu sản xuất và tiêu dùng, hạn chế các nấc thang bắc cầu ở khâu lưu thông. Khi làm tốt hai yếu tố trên thì giá cả sẽ đi đến ổn định và hợp lý, ông Kiều Đình Thép nhận định. Ông Nguyễn Văn Long, Phó Cục trưởng Cục Thú y cho biết, tính đến ngày 13/11, bệnh dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra trên 8.400 xã, tiêu hủy 5,8 triệu con lợn, với sản lượng khoảng 330.000 tấn, chiếm 8,5% tổng sản lượng lợn cả nước. Dịch bệnh đang được kiểm soát tốt trên cả nước. Hiện cả nước có trên 60% số xã đã qua 30 ngày không có dịch tái phát; đặc biệt 10 tỉnh, thành phố có trên 85% xã đã qua 30 ngày không có dịch. Đây là điều kiện để các hộ có thể tái đàn. Các địa phương cần nhân rộng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học đã có kết quả trên thực tế, đây là giải pháp then chốt để phát triển chăn nuôi an toàn. Những địa phương đã qua 30 ngày không có dịch, có thể tái đàn kết hợp với chăn nuôi an toàn sinh học. Bên cạnh đó, địa phương cần kiểm soát tốt việc vận chuyển lợn sản phẩm thịt lợn giữa các địa phương, giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh. Ông Nguyễn Quang Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Thú y Hưng Yên cho biết, tỉnh định hướng chỉ tái đàn có trọng điểm, với hộ chăn nuôi khép kín; quản lý được phương tiện, con người ra vào; khử trùng tiêu độc định kỳ, nhập con giống có nguồn gốc. Các trang trại tái đàn từng bước, không ồ ạt, thời gian đầu chỉ tái đàn từ 10-20% số lượng, sau một thời gian kiểm tra âm tính với bệnh dịch tả lợn châu Phi mới tăng thêm đàn. Nếu người chăn nuôi chạy theo lợi nhuận để tái đàn mà không kết hợp với chăn nuôi an toàn sinh học sẽ rất nguy hiểm, dễ dẫn đến dịch bệnh, thiệt hại nặng hơn, ông Nguyễn Quang Tuấn khuyến cáo. Tuy nhiên, hiện một số địa phương có tư tưởng ngại, né tránh tái đàn, ông Nguyễn Xuân Dương cho rằng, địa phương phải có trách nhiệm hướng dẫn người dân tái đàn để đảm bảo thu nhập cho người dân cũng như nguồn cung thực phẩm thời gian tới. Địa phương không nên chờ đợi hết dịch mới tái đàn mà nên mạnh dạn tái đàn có kiểm soát./. Bích Hồng …

Tin mớiadmin15/11/2019
Trang trại khai thác 13 tấn sữa bò hữu cơ ở Lâm Đồng
Trang trại khai thác 13 tấn sữa bò hữu cơ ở Lâm Đồng

Mỗi ngày, đàn bò Organic tại Trang trại bò sữa Vinamilk Đà Lạt cho khai thác 12-13 tấn sữa. Trang trại này đã thực hiện quy trình hữu cơ theo tiêu chuẩn Trung Quốc để chuẩn bị xuất khẩu sữa sang quốc gia này. Trang trại bò sữa Vinamilk Đà Lạt được xây dựng tại xã Tu Tra (huyện Đơn Dương, Lâm Đồng). Đây là trang trại hữu cơ đầu tiên của Vinamilk ở Việt Nam và thực hiện quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn châu Âu (EU). Tại đây đang chăn nuôi khoảng 1.000 con bò và trong đó có 50% tổng đàn cho khai thác sữa. Theo nhân viên làm việc tại đây, các khâu chăm sóc đều được cơ giới hóa và mọi hoạt động, chế độ ăn uống của bò đều được theo dõi khoa học, sát sao. Do vậy, năng suất sữa đạt khoảng 23 lít/con/ngày, đây là năng suất cao hơn nhiều so với những trang trại khác. “Hiện nay, thị trường có chuyển biến mạnh thiên về các sản phẩm hữu cơ và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Hồi tháng 9, các chuyên gia Trung Quốc đã kiểm tra chất lượng sữa Organic của trại, kiểm tra quy trình chăn nuôi và đánh giá cao. Ngoài việc sản xuất theo tiêu chí Organic EU, chúng tôi cũng thực hiện theo quy trình hữu cơ của Trung Quốc để chuẩn bị cho việc xuất khẩu sữa qua thị trường này”, ông Hoàng Văn Trường, Giám đốc trang trại bò sữa Vinamilk Đà Lạt, chia sẻ. Hiện nay, ngoài việc sản xuất dòng sữa hữu cơ, Vinamilk Đà Lạt cũng sản xuất sữa thường. Ngoài lượng sữa từ trang trại, Vinamilk Đà Lạt cũng nhập 85 tấn sữa/ngày từ đàn bò trong dân để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho chế biến. MINH HẬU – ĐỨC …

Tin mớiadmin13/11/2019
Sữa Việt bước vào thị trường Trung Quốc
Sữa Việt bước vào thị trường Trung Quốc

TTO – Xu hướng ngày càng nhiều doanh nghiệp xúc tiến xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc (“Bớt rồng rắn chờ bán hàng sang Trung Quốc”, Tuổi Trẻ ngày 14-10). Nhưng thị trường hơn 1 tỉ dân đang đòi hỏi gì? Câu chuyện của NutiFood phần nào trả lời được những khó khăn mà doanh nghiệp Việt phải trải qua. Trả lời Tuổi Trẻ, ông Lê Nguyễn Hòa, phó chủ tịch hội đồng quản trị NutiFood, nói: – Dự kiến từ giữa tháng 10-2019, những lô sữa đầu tiên của VN được xuất khẩu qua đường chính ngạch sang Trung Quốc, thị trường nhập khẩu sữa lớn nhất thế giới. Hồ sơ của 5 doanh nghiệp sữa VN đã được Trung Quốc chấp thuận và hải quan nước này đã xét duyệt, chỉ còn chờ bước cuối cùng cấp mã số xuất khẩu. Đây là kết quả của nỗ lực không mệt mỏi của Bộ NN&PTNT cũng như sự chủ động của các doanh nghiệp. Mở cửa cho sữa Việt * Hàng Trung Quốc ở VN quá nhiều. Nhưng quá trình để sữa Việt vào Trung Quốc lại rất dài, chúng ta đã phải làm gì, thưa ông? – Với mặt hàng sữa, về cơ bản sản phẩm sữa VN từ trước đến nay chưa thể vào thị trường Trung Quốc, thậm chí cả đường tiểu ngạch. Nếu cơ quan hải quan nước này bắt được lô hàng sữa sẽ lập tức hủy ngay. Trong suốt các năm 2016-2017, các đoàn lãnh đạo của VN hội đàm trực tiếp với phía Trung Quốc để bàn cách mở cửa cho sữa cùng các nông sản vào Trung Quốc. Đến năm 2018, Trung Quốc hứa xem xét chấp nhận cho sữa VN và lúc này mới bắt đầu hành trình đánh giá chất lượng sữa VN. Thời gian qua Bộ NN&PTNT đã xây dựng hướng dẫn chi tiết các yêu cầu về mặt kỹ thuật của phía Trung Quốc, thậm chí mời cả chuyên gia Trung Quốc sang cùng thẩm định. Phía Trung Quốc đã tới kiểm tra các vùng chăn nuôi của VN đảm bảo an toàn về dịch bệnh, họ muốn sữa VN xuất sang Trung Quốc phải đến từ các vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh. Đến tháng 4-2019 hai nước mới ký nghị định thư xuất khẩu. Các lô hàng này có thể được xem như là bước mở đường cho các sản phẩm sữa của VN xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc. Những doanh nghiệp sữa được lựa chọn trong giai đoạn đầu phải uy tín, theo đến cùng chất lượng sản phẩm. * Bộ hồ sơ có thể nói là “kinh khủng” mà phía Trung Quốc yêu cầu cụ thể là gì, thưa ông? – Ngoài các yêu cầu của Bộ NN&PTNT, phía Trung Quốc cũng yêu cầu doanh nghiệp đăng ký xuất khẩu phải hoàn thiện bộ hồ sơ, đúng là có thể nói “kinh khủng” vì tính chi tiết và đầy đủ quy trình sản xuất. Bộ hồ sơ này bao gồm thông tin từ nông trại đến sản phẩm cuối cùng như xuất xứ con bò, quy trình kiểm soát thú y, tiêm phòng, danh mục thuốc thú y, lấy mẫu, hồ sơ kiểm nghiệm, sau đó mới là thông tin về trang trại, nhà máy… Tất cả đều phải bằng hai thứ tiếng Anh và Trung. Tiếp theo, danh mục sản phẩm xuất khẩu phải đăng ký kèm theo tiêu chuẩn chất lượng, tự công bố gắn với các kiểm nghiệm. Cho đến nay có 4/5 doanh nghiệp hoàn thiện và chỉ đánh giá có 2 hồ sơ tốt, trong đó có NutiFood. Nói thật, chúng tôi cũng mừng vì kết quả sau cả quá trình chuẩn bị công phu. Chúng tôi đang chờ cấp mã số xuất khẩu và đó là bước thủ tục cuối cùng để thâm nhập chính ngạch vào thị trường Trung Quốc. Những yêu cầu rất khắt khe, nhưng cũng giúp cho những doanh nghiệp khác đánh giá đúng năng lực sản xuất của ngành sữa VN. Không mua đứt bán đoạn * Cơ hội nhiều nhưng làm sao để thị trường Trung Quốc là cơ hội khẳng định thương hiệu, phát triển chứ không chỉ là cuộc dạo chơi cho các công ty sữa VN? – Chúng tôi đã đáp ứng được những yêu cầu nghiêm ngặt đó nhờ có nguồn nguyên liệu, trang trại cao nguyên có khí hậu rất phù hợp để nuôi bò sữa… Sau gần 2 năm theo đuổi, NutiFood đã có “visa” xuất khẩu sang Mỹ khi đáp ứng hàng trăm tiêu chuẩn khắt khe của Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA). Thực tế, dù mặt hàng sữa chưa vào được Trung Quốc nhưng các sản phẩm dinh dưỡng của Nuti cũng đã có mặt tại Trung Quốc, ngoài ra còn có cà phê. Hiện các sản phẩm của chúng tôi đã có mặt tại 3.388 cửa hàng, siêu thị. Kinh nghiệm là chú trọng phân phối. Chúng tôi đã chọn phát triển cùng đối tác địa phương chứ không mua đứt bán đoạn. * Thị trường Mỹ và Trung Quốc rất khác nhau, vào được rồi cũng còn nhiều việc phải làm, thách thức cho các sản phẩm sữa Việt? – Trong danh mục các sản phẩm được cấp phép xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc lần này có cả sữa bột nguyên kem, sữa công thức… Để chinh phục một thị trường, quan trọng là phải cung ứng những dòng sản phẩm phù hợp khẩu vị, thị hiếu. Dựa trên các sản phẩm đã thâm nhập được, có thể thấy lợi thế của sữa VN là được người dùng Trung Quốc đón nhận khá tốt, hợp khẩu vị. Vấn đề là chúng ta phải điều chỉnh bao bì theo quy định, quy cách quy định của thị trường Trung Quốc. Với thị trường Mỹ, sữa Việt mới chỉ đang đáp ứng một phân khúc, phục vụ một cộng đồng nào đó. Nhưng với thị trường Trung Quốc nhu cầu đa dạng, với 1,4 tỉ dân, có nhiều phân khúc, đây là dạng thị trường tiềm năng. Trung Quốc có những loại sữa rẻ như nước nhưng cũng tồn tại một thị trường sữa cao cấp nhập khẩu cạnh tranh gay gắt. Sữa VN đang có lợi thế về địa lý, dễ dàng vận chuyển, chi phí logistics không quá cao… Chúng tôi tin sữa VN hoàn toàn có cơ hội nếu doanh nghiệp bám sát, tìm được ngách thị trường phù …

Tin mớiadmin21/10/2019
Cục Chăn nuôi lấy ý kiến của các cá nhân, tổ chức Dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về: Phòng Thanh tra, Pháp chế Cục Chăn nuôi Phòng 103, Tòa nhà số 2, Khu Liên cơ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Số 16 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội. Điện thoại: 02437331225 Email: …

Thông báoadmin07/10/2019
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước giai đoạn 2017-2020
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước giai đoạn 2017-2020

Thực hiện Quyết định số2640/QĐ-BNVngày 10 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt Đề án “Đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước giai đoạn 2017-2020”, Bộ Nông nghiệp và PTNTđã ban hành Quyết định số 3545/QĐ-BNN-TCCB ngày 13/9/2019 ban hành Kế hoạch thíđiểm triển khai khảo sát sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và PTNTnăm 2019.Theo đó, Bộ Nông nghiệp và PTNT sẽ khảo sát sự hài lòng củangười dân, doanh nghiệpđã trực tiếp thực hiệnthủ tục hành chính và nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia và Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ trong năm 2019. Phương pháp khảo sát trực tuyến thông quaBiểu mẫu “Phiếu khảo sát sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với chất lượng dịch vụ công trực tuyến do Bộ Nông nghiệp và PTNT cung cấp” tại địa chỉ: Phiếu khảo sát sự hài lòng Thời gian tiến hành khảo sát đến hết ngày …

Tin mớiadmin25/09/2019
Nuôi trùn quế lãi "khủng"
Nuôi trùn quế lãi “khủng”

Mô hình chăn nuôi, trồng trọt khép kín của anh Nguyễn Công Vinh ở huyện Châu Thành, Tiền Giang cho thu lãi tới 500 triệu đồng/tháng. Nuôi trùn quế công nghệ cao Sau khi tốt nghiệp ngành Công nghệ thông tin, ĐH An Giang, anh Vinh đã có việc làm ở TP.HCM với mức lương hàng chục triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, nắm bắt xu thế sản xuất nông nghiệp sạch, anh đã mạnh dạn từ bỏ công việc nơi đô thị để về miền Tây khởi nghiệp. Anh Vinh từ bỏ công việc mức lương hàng chục triệu đồng ở TP.HCM để về quê khởi nghiệp nuôi trùn quế. Nhận thấy trùn quế là vật nuôi cải tạo môi trường tốt, anh Vinh dành nhiều thời gian nghiên cứu tìm hiểu. Qua thông tin mà anh có được, nghề nuôi trùn quế đã có từ nhiều năm nay nhưng đại đa số người nuôi đều thất bại hoặc không mang lại hiệu quả kinh tế cao. Theo anh có nhiều nguyên nhân như phân trùn kém chất lượng không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, trại nuôi không có thị trường để liên kết bao tiêu đầu ra… Để khắc phục vấn đề này anh đã cùng bạn bè nghiên cứu kỹ lưỡng và lập cho mình một dự án nuôi trùn quế sạch, áp dụng công nghệ cao, hướng bao tiêu đầu ra. Anh Vinh phân tích, bà con mình nuôi trùn quế thường cho ăn chất thải hữu cơ như phân bò, một vài trại có kết hợp men vi sinh nhưng hiệu quả không cao. Mỗi mét vuông nuôi trong ba tuần chỉ đạt khoảng 1 kg trùn thương phẩm. Với công nghệ nuôi của Israel, năng suất nuôi trùn quế từ trang trại của anh Vinh đạt gấp đôi so với phương pháp nuôi truyền thống. Riêng công nghệ của anh Vinh rất khác biệt, anh sử dụng không chỉ phân bò, mà cả phế phẩm thực vật như rau quả dập hư, phân động vật, phế phẩm sau biogas… Qua xử lý bằng công nghệ Lignin anh thu được đạm thực vật. Từ đó lấy đạm nuôi trùn quế. Trong quá trình nuôi anh sử dụng một loại men được nhập khẩu từ Israel để cho ăn, giúp trùn phát triển khỏe mạnh, hiệu suất chăn nuôi từ công nghệ này lên đến 2kg trùn sinh khối trên 1m2, gấp 2 lần phương pháp nuôi thông thường. Tính riêng trang trại ở Tiền Giang với 3.000m2 nuôi cho gần 6 tấn trùn thương phẩm. Loại men đặc biệt này gồm 3 nguyên liệu từ Israel và mật mía đường của Việt Nam. Men được ủ trong hơn ba tuần mới cho ra sản phẩm dùng cho trùn ăn. Với loại men này, phân trùn quế có chứa các chất đa trung vi lượng, axit amin. Đặc biệt là hệ vi sinh vật qua ruột trùn giúp cải tạo đất rất tốt. Một chi tiết rất đáng ý là phân trùn quế không chứa hàm lượng kim loại nặng như phân gà, rất phù hợp cho nông nghiệp sạch ứng dụng công nghệ cao, xuất khẩu. Vì vậy sản phẩm từ trang trại của anh Vinh được rất nhiều bà con đặt mua. Hàng sản xuất ra không đủ bán Hiện trùn quế từ trang trại của anh sản xuất ra không đủ bán. Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng anh Vinh đã liên kết với hơn 200 hộ nông dân nuôi trùn quế ở khắp các tỉnh thành miền Tây. Anh còn mở thêm chi nhánh ở Hậu Giang, Long An, Tiền Giang với quy mô hàng chục ha mỗi trang trại. Anh dự kiến mở thêm trang trại quy mô 10 ha ở Bến Tre. Hiện mỗi tháng trang trại của anh Vinh xuất bán trên 300 tấn phân trùn quế với giá từ 3.000-4.500đ/kg, trên 50 tấn trùn sinh khối với giá từ 10.000-15.000 đ/kg, 6 tấn trùn thịt với giá bán từ 50.000 đ/kg thu về trên 1,7 tỷ đồng, lãi ước tính trên 500 triệu đồng. Ấp ủ mô hình trồng trọt chăn nuôi khép kín Với quyết tâm làm nông nghiệp sạch, anh Vinh đã xây dựng mô hình trồng  trọt chăn nuôi sạch dựa trên những thành quả đạt được từ nuôi trùn. Anh mong muốn mình sẽ tạo ra được nhiều sản phẩm sạch hơn nữa. Vườn dừa 2 ha, vườn rau anh đều lấy phân trùn bón, không tốn chút chi phí nào. Dưới mương dừa anh thả nuôi cá tai tượng, cá diêu hồng, lấy trùn thịt làm thức ăn cho cá. Vừa qua, anh xuất bán trên 3 tấn cá tai tượng với giá bán 86.000 đồng/kg, cao gấp đôi giá thương lái mua cá nuôi bằng thức ăn công nghiệp. Lấy trùn nuôi cá, giá bán cao gấp đôi so với nuôi bằng thức ăn công nghiệp. Anh Vinh nói: “Mình lấy chất thải hữu cơ nuôi trùn, rồi lấy trùn bán, nuôi cá, nuôi gà, vịt. Phân trùn bán thương phẩm, trồng cây. Chất thải trong các hoạt động đó lại tiếp tục nuôi trùn, không có thứ gì bỏ ra khỏi vòng khép kín này”. Chia sẻ về bí quyết thành công của mô hình anh Vinh cho biết: “Điều quan trọng nhất là mình phải hướng dẫn chăn nuôi một cách tốt nhất để bà con có sản phẩm liên kết, đáp ứng thị trường. Thời gian đầu mình làm hết cho bà con thấy, giá cả con giống cũng bán rẻ hơn các trại khác để họ dễ tiếp cận. Cái gì bà con tự làm được thì mình chỉ hết chứ không giấu nghề. Bà con có thành công thì mình mới thịnh vượng được với nghề này”.  “Tôi chỉ có mong ước, bà con nào liên kết với mình cũng đều sống khỏe. Một trăm mét vuông thôi, mỗi tháng bà con có hơn 100 kg trùn sinh khối và thịt, vài tấn phân trùn thì thu nhập lên đến chục triệu đồng rồi. Hoặc bà con lấy nuôi gà vịt, trồng cây trái thì cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao”, anh Nguyễn Công Vinh, Giám đốc Trang Trại Sạch (Châu Thành, Tiền Giang). MINH …

Tin mớiadmin22/08/2019
Cập nhật tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi mới
Cập nhật tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi mới

Vừa qua, Trung tâm Khuyến nông Hậu Giang tổ chức buổi tập huấn nhằm cập nhật các TBKT chăn nuôi mới cho hơn 100 cán bộ khuyến nông tỉnh, trạm khuyến nông huyện và các khuyến nông viên xã. Giảng viên đến từ Văn phòng Nam bộ, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia. Những tiến bộ chăn nuôi năm nay tập trung vào công nghệ để phát triển ngành chăn nuôi hiệu quả, bền vững như các phần mềm quản lý, chọn tạo trong chăn nuôi, TBKT về giống, giải pháp thay thế kháng sinh bổ sung trong thức ăn chăn nuôi gồm Acid hữu cơ, Enzyme, chế phẩm trợ sinh (probiotic) và tiền sinh (prebiotic), chế phẩm giàu kháng thể, kháng sinh thảo dược… Công nghệ xử lý môi trường tập trung vào hệ thống biogas quy mô lớn, công nghệ ép tách phân, đệm lót sinh học, công nghệ giun đất; những ứng dụng trong việc thực hiện chăn nuôi theo chuỗi, chăn nuôi theo VietGAHP bao gồm việc nhận diện và truy xuất nguồn gốc thịt heo áp dụng công nghệ thông tin, phương pháp kiểm tra nhanh chất cấm… NGUYỄN VĂN …

Tin mớiadmin21/08/2019
Quyết định số 342/QĐ-CN-GSN ngày 12 tháng 8 năm 2019 về việc công nhận tiến bộ kỹ thuật lĩnh vực chăn nuôi

Quyết địnhadmin12/08/2019
“Ốc đảo” ngựa bạch giữa cao nguyên
“Ốc đảo” ngựa bạch giữa cao nguyên

“Ốc đảo Ia Rsai” là nơi chàng trai Nguyễn Văn Hậu ấp ủ mô hình nuôi ngựa bạch lớn nhất khu vực Tây Nguyên. Anh Hậu tự hào về con ngựa bạch Tây Tạng do mình chăm sóc. “Ốc đảo Ia Rsai” (huyện Krông Pa, Gia Lai) được bao bọc bởi con sông Ba huyền thoại. Phương tiện duy nhất để qua “ốc đảo” là những chiếc xuồng máy. Việc chọn nơi đây để nuôi ngựa bạch được chàng trai trẻ Nguyễn Văn Hậu (SN 1989, trú tại phường Đoàn Kết, thị xã A Yun Pa) giải thích, nơi đây có sông có núi, phong cảnh hữu tình sẽ làm cho mọi con vật có thể sinh trưởng và phát triển tốt. Nuôi ngựa bạch trên “chảo lửa”  Từ chân đèo Tô Na, men theo con đường mòn sỏi đá xuống bến sông Ba, chúng tôi được chàng trai Nguyễn Văn Hậu chờ sẵn. Sau 15 phút di chuyển bằng xuồng máy, cả đoàn cũng đến được với “ốc đảo Ia Rsai”. Gọi là “ốc đảo” bởi nơi đây khá biệt lập và không có nhiều người biết đến. Từ bờ sông, đi qua hàng dừa xanh mát, hình ảnh về những chú ngựa bạch cũng dần hiện ra, khung cảnh thật bình yên và thơ mộng. Hơn chục con ngựa bạch đang nhởn nhơ gặm cỏ. Thỉnh thoảng một, hai con cất tiếng vó giòn tan làm cho nhiều người thích thú. Chỉ tay về phía xa hướng bờ sông, anh Hậu khoe với chúng tôi về con ngựa bạch Tây Tạng được anh mua về từ Trung Quốc. Anh Hậu cho biết, ngựa bạch Tây Tạng là loài vật quý hiếm, sống trên độ cao trên 3.000m, ăn các loại thảo dược quý, nên thịt và xương đều có giá trị cực cao. Trong đàn ngựa bạch đang nuôi hiện có 2 con Tây Tạng được anh Hậu nuôi dùng để nhân giống, còn lại là những con ngựa bạch giống Việt Nam. Khi được hỏi, cơ duyên nào đưa anh đến với mô hình nuôi ngựa bạch? Anh Hậu tâm sự, trước đây anh bươn trải nhiều nơi, kinh qua nhiều nghề để mưu sinh nhưng cuộc sống vẫn rất cơ cực. Tình cờ anh lên mạng tìm hiểu và thấy mô hình nuôi ngựa bạch khá hay, nhất là cao ngựa bạch được biết đến như một loại thần dược có thể chữa được rất nhiều bệnh. Bản thân bố anh cũng bị tai biến nhiều năm rất cần thuốc để điều trị. Từ những suy nghĩ đó, chàng trai trẻ Nguyễn Văn Hậu quyết tâm đem giống ngựa bạch về nuôi tại vùng “chảo lửa” Krông Pa. Để hiện thực hóa giấc mơ ấy, anh tìm đến các địa phương trong cả nước, nơi nào có nuôi ngựa bạch là anh đến học hỏi.  Rồi anh ra Hà Nội, Thái Nguyên, Cao Bằng tìm các chuyên gia để “tầm sư học đạo” cách thuần phục, nuôi dưỡng ngựa bạch. Trang trại ngựa bạch của anh Hậu là mô hình đầu tiên ở Gia Lai. Đến năm 2016, khi kinh nghiệm đã vững vàng, anh quyết định sang Trung Quốc mua 1 con ngựa bạch đực Tây Tạng với giá hơn 200 triệu đồng và 2 con ngựa bạch cái Tây Tạng để nhân giống với giá hơn 200 triệu đồng. Chưa dừng lại, anh tiếp tục đến các trung tâm giống ngựa bạch lớn trong cả nước để mua thêm 5 con ngựa giống Việt Nam với giá mỗi con khoàng 70 -80 triệu đồng. “Lúc đó, nhiều người tỏ vẻ nghi ngờ tôi vì chưa có mô hình ngựa bạch nào được nuôi ở Gia Lai. Tuy nhiên, qua nghiên cứu và được sự hướng dẫn của các chuyên gia ở Viện Chăn nuôi, tôi đã nuôi và cho sinh sản thành công giống ngựa bạch ngay trên vùng “chảo lửa” Krông Pa này” – anh Hậu tâm sự. Sau 3 năm nuôi dưỡng và nhân giống, đến nay đàn ngựa bạch của anh Hậu đã phát triển lên gần 20 con. Nhân rộng mô hình để nhiều người biết đến Sau khi đưa ngựa bạch về vùng “chảo lửa” cao nguyên, anh Hậu đã dành nhiều thời gian chăm sóc và gần gũi đàn ngựa xem có biểu hiện gì khác thường do thay đổi về khí hậu, môi trường. Anh Hậu cho biết, nuôi ngựa bạch không khó nhưng phải dành hết tâm trí và tình cảm cho chúng vì giống này rất khôn. Thức ăn dành cho ngựa đơn giản, chỉ cần ăn cỏ và uống nước. Với những con ngựa cái đang mang thai thì cho ăn thêm cám và mật mía. Đàn ngựa bạch của anh Hậu được nuôi dưỡng trong môi trường tự nhiên. Trong quá trình nuôi, ngựa bạch thường mắc phải bệnh đau bụng. Đây là bệnh nguy hiểm nhất vì ngựa có ruột thẳng. “Khi nó đau bụng, việc đơn giản nhất là ngừng cho ăn, tiêm thuốc liều cao. Phần lớn người nuôi lầm tưởng bệnh đau bụng của ngựa là cảm, nên càng bồi dưỡng cho ăn nhiều. Điều này rất nguy hiểm vì khi con ngựa đang đau bụng mà ăn vào, bụng càng trướng to và chết càng nhanh” anh Hậu chia sẻ. Đến nay, sau 3 năm chăm sóc, đàn ngựa của anh Hậu phát triển khá tốt. Các con ngựa bạch cái Tây Tạng cũng được anh nhân giống thành công khi đẻ thêm nhiều con ngựa con. Ông Dương Ngọc Thanh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y Gia Lai cho biết, ông hơi bất ngờ khi anh Nguyễn Văn Hậu là người đâu tiên đem mô hình này về Gia Lai. Điều đáng khích lệ là nuôi trên vùng “chảo lửa” Krông Pa. Tuy nhiên qui trình nấu cao ngựa đòi hỏi qui trình nghiêm ngặt. Nếu anh Hậu làm được sẽ tạo dựng được thương hiệu uy tín thì hiệu quả kinh tế rất cao. Theo tính toán của anh Hậu, ngựa cái đẻ mỗi năm một lứa, giá thị trường hiện nay 1 con ngựa bạch con khoảng 25 triệu đồng, sau một năm thì có giá 40 triệu đồng, từ 2 năm trở lên thì giá trên 60 triệu. Nếu nấu cao, một con ngựa Tây Tạng trưởng thành có thể nấu được 7kg cao, trong khi ngựa bạch giống Việt Nam chỉ nấu được 4kg cao. Hiện 1 kg cao ngựa bạch trên thị trường có giá 20 triệu đồng. Anh Hậu cho biết, mình đã bước đầu nấu thành công hơn 30 kg cao ngựa để đem ra thị trường tiêu thụ và làm quà biếu. Thấy mô hình có hiệu quả, nhiều người đã đến trang trại của anh mua ngựa về gây giống. Tuy nhiên, anh chưa bán vì muốn nhân giống đàn ngựa lên nhiều hơn nữa nhằm biến trang trại thành điểm du lịch sinh thái để du khách có thể ngắm nhìn đàn ngựa, hòa mình vào thiên nhiên thơ mộng. Anh Hậu cho biết, trong thời gian tới anh sẽ nuôi thêm một số loài động vật như cừu, lạc đà, hươu, nai… Đồng thời trồng thêm cây ăn quả ở để làm sinh động hơn cho điểm du lịch sinh thái của mình. “Còn gì tuyệt vời hơn cho các gia đình vào mỗi dịp cuối tuần, đến ốc đảo đắm mình vào thiên nhiên, cỏ cây và muông thú”, anh Hậu chia sẻ. TUẤN …

Tin mớiadmin12/08/2019
Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm và thủy sản 7 tháng tăng 2%
Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm và thủy sản 7 tháng tăng 2%

Bảy tháng qua, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 23,03 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ; đến nay, có 8 nhóm sản phẩm đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong tháng Bảy vừa qua, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản đạt 3,55 tỷ USD; trong đó, nông sản chính ước đạt 1,64 tỷ USD, lâm sản chính 893 triệu USD, thủy sản 785 triệu USD, sản phẩm chăn nuôi ước đạt 63 triệu USD. Như vậy, 7 tháng qua, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 23,03 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ. Đến nay, có 8 nhóm sản phẩm đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Cụ thể, nhóm nông sản chính xuất khẩu đạt 10,84 tỷ USD; trong đó, 5 nhóm sản phẩm đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD là: càphê đạt 1,8 tỷ USD, cao su đạt 1,1 tỷ USD, gạo đạt 1,73 tỷ USD, hạt điều đạt gần 1,8 tỷ USD, rau quả đạt 2,3 tỷ USD. Mặc dù nhiều sản phẩm có khối lượng xuất khẩu tăng so với cùng kỳ như: cao su tăng 10,7%, gạo 2,1%, điều 13,3%, tiêu 32,5% nhưng do giá xuất khẩu một số sản phẩm giảm sâu như điều giảm 20,6%, tiêu giảm 25,2%, càphê giảm 12%, gạo giảm 16%… nên kim ngạch xuất khẩu nhóm nông sản vẫn giảm 8,2% so với cùng kỳ. Tuy là một trong nhóm sản phẩm đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, nhưng xuất khẩu thủy sản giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái (1%), đạt 4,68 tỷ USD. Nguyên nhân bởi hai mặt hàng chủ lực của thủy sản xuất khẩu đã có sự sụt giảm khá mạnh. Đó là, cá tra đạt 1,16 tỷ USD, giảm 3,2%; tôm các loại đạt 1,73 tỷ USD, giảm 10,4%. Trong 7 tháng qua, xuất khẩu lâm sản chính đạt gần 6,01 tỷ USD, tăng 17,3%; trong đó, gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt hơn 5,6 tỷ USD, tăng 16,1%; sản phẩm mây, tre, cói đạt 264 triệu USD, tăng 46,6%. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng cho biết trong tháng Bảy vừa qua, giá trị nhập khẩu nông lâm thủy sản và vật tư nông nghiệp đạt 2,5 tỷ USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu 7 tháng đạt khoảng 18 tỷ USD, giảm nhẹ so với cùng kỳ. [Doanh nghiệp nội tăng tốc, xuất khẩu 7 tháng vượt 145 tỷ USD] Như vậy, thặng dư thương mại nông lâm thủy sản 7 tháng đạt gần 5 tỷ USD, tăng gần 12% so với cùng kỳ năm ngoái. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhận định, thời gian tới xuất khẩu nông sản dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức và khó có thể đạt mức tăng trưởng cao như cùng kỳ. Nguyên nhân do ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế thế giới 2019 dự báo giảm và các nước trên thế giới đều quay lại tập trung đầu tư cho phát triển nông nghiệp. Các mặt hàng nông sản Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt trong xuất khẩu, khiến cho giá giảm sâu trong khi đó các nước nhập khẩu nông sản lớn của Việt Nam như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… đều gia tăng bảo hộ hàng hóa nông sản thông qua các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Ban Chỉ đạo thị trường Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, Bộ sẽ phối hợp với các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp theo dõi sát diễn biến cung cầu thị trường lương thực, thực phẩm, tình hình xuất nhập khẩu; tăng cường kiểm soát chặt tình hình nhập lậu vào thị trường nội địa. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng sẽ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành tích cực đàm phán mở cửa thị trường xuất khẩu, giữ ổn định các thị trường truyền thống, tìm kiếm và mở rộng các thị trường tiềm năng, hạn chế thấp nhất sự phụ thuộc vào một thị trường nhất định. Ngành cũng sẽ phối hợp, hướng dẫn các địa phương tổ chức sản xuất, đáp ứng các yêu cầu của nước nhập khẩu về truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm nông, lâm, thủy sản xuất khẩu. Cùng với đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đẩy mạnh giới thiệu sản phẩm và xây dựng thương hiệu nông sản, nhất là đối với các nông sản chủ lực vào thị trường Trung Quốc. Các đơn vị chức năng nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp với Tổng cục Hải quan Trung Quốc để xử lý các vấn đề phát sinh trong thương mại nông sản giữa hai nước./. Bích Hồng …

Tin mớiadmin06/08/2019
Quảng Ninh làm chủ cuộc chiến với dịch tả lợn
Quảng Ninh làm chủ cuộc chiến với dịch tả lợn

Trước diễn biến phức tạp của dịch tả lợn Châu Phi, bên cạnh việc triển khai những giải pháp kiểm soát, ngăn chặn bệnh dịch, các địa phương trên địa bàn Quảng Ninh đang có cách riêng để thay đổi cục diện kinh tế chăn nuôi. Đầu tháng 3/2019, TX Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ghi nhận trường hợp đầu tiên của tỉnh bị mắc dịch tả lợn châu Phi (DTLCP). Ngay sau khi nhận được thông tin xuất hiện DTLCP tại địa phương, chính quyền sở tại đã tiến hành kiểm tra trực tiếp tại hiện trường và yêu cầu các địa phương: Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên – giáp ranh với các địa phương đang có dịch là Hải Phòng, Hải Dương phải tăng cường kiểm tra thực tế, thực hiện ngay việc phun khử trùng, tiêu độc tuyến giáp ranh. Đặc biệt, tại khu vực xảy ra dịch phải kiểm soát chặt chẽ, không để xảy ra việc vận chuyển, buôn bán lợn và các sản phẩm từ lợn chưa được kiểm dịch. Tuy nhiên, DLTCP đã nhanh chóng lây lan sang nhiều địa phương lân cận với tốc độ chóng mặt. Theo thống kê của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Quảng Ninh, đàn lợn toàn tỉnh giảm do ảnh hưởng của bệnh DTLCP: Thống kê tổng đàn lợn tại địa phương tính đến ngày 30/6/2019 là 158.037 con (trong đó lợn nái, đực giống 16.129 con; lợn thịt, lợn con các loại là 142.178 con). Toàn tỉnh có 14.915 hộ tại 14/14 huyện, thị với hơn 137.000 con lợn ốm, chết và buộc phải tiêu hủy (chiếm hơn 35% tổng đàn). Hiện tại, các địa phương đang triển khai đồng bộ giải pháp phòng chống DLTCP, song song với đó hỗ trợ kịp thời cho người chăn nuôi có lợn bị nhiễm dịch buộc tiêu hủy. Bà Chu Thị Thu Thủy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y Quảng Ninh cho biết: DTLCP tiếp tục có nguy cơ phát tán, lây lan nhanh đến các địa bàn chưa bị bệnh; tái phát các ổ dịch cũ (qua 30 ngày); bệnh xâm nhiễm vào cơ sở chăn nuôi tập trung, quy mô lớn và 5/5 cơ sở chăn nuôi sản xuất, lưu giữ lợn Móng Cái. Trước tình hình đó, đơn vị đã khuyến cáo các địa phương tiếp tục phòng chống DTLCP. Đặc biệt sau khi nhận tiền hỗ trợ thiệt hại, người chăn nuôi lợn không nên tái đàn vào thời điểm này nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Thay vào đó, người chăn nuôi lợn cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và công việc khác phù hợp. Cùng với đó, các địa phương cần phối hợp chặt chẽ hoàn thiện thủ tục hồ sơ đảm bảo nhanh, chính xác, minh bạch qua đó sớm giải ngân tiền cho nông dân. Không để người nông dân bị bỏ lại, nhiều cơ chế hỗ trợ chăn nuôi cũng được tỉnh hỗ trợ. Đặc biệt, tại thị xã Quảng Yên, nhiều hộ gia đình không bị thiệt hại sau khi phải tiêu hủy hàng loạt tổng đàn lợn nhiễm bệnh. Thay vì để chuồng trống, được sự hướng dẫn của chính quyền, nhiều gia đình chuyển sang nuôi gia cầm thương phẩm. Chị Nguyễn Thị Ngân, phường Đông Mai, thị xã Quảng Yên cho biết: Để chuồng trống không chăn nuôi lâu quá, khiến gia đình không yên tâm. Gia đình tôi đã rất lo lắng khi đàn lợn 250 con nhiễm dịch tả lợn, phải tiêu hủy. Được sự giúp đỡ, hỗ trợ từ chính quyền, tôi tiến hành nuôi vịt, ngan ngay trong chuồng nuôi lợn, cũng bù lại được một phần vốn. Chuyển đổi vật nuôi để duy trì sản xuất là một việc làm kịp thời, vừa giảm bớt gánh nặng kinh tế, tạo nguồn thu tạm thời cho những hộ nhiễm DTLCP phải tiêu hủy hàng loạt. Cùng với đó, lồng ghép hỗ trợ cho người chăn nuôi sau dịch giúp đỡ người dân ổn định kinh tế, giúp đỡ một phần vốn đầu tư phát triển. Nhằm kịp thời hỗ trợ người chăn nuôi bị thiệt hại do DTLCP, tỉnh Quảng Ninh đã yêu cầu các phương rà soát, tổng hợp niêm yết công khai chính sách, danh sách hỗ trợ thiệt hại để người dân nắm bắt kịp thời. Công tác triển khai khử trùng tiêu độc được thực hiện đầy đủ, tập trung và liên tục. Bà Nguyễn Thị Lụa (thôn Tân Lập, xã Hồng Thái Đông, TX Đông Triều) cho biết: Tháng 3/2019, sau khi đàn lợn xét nghiệm bị nhiễm DTLCP, địa phương đã cắt cử cán bộ trực tiếp đến hỗ trợ chúng tôi tiêu hủy toàn bộ 17 con lợn trong chuồng. Ngay sau đó, cán bộ thú y xã còn hướng dẫn gia đình kiểm đếm đầy đủ số lượng, trọng lượng lợn tiêu hủy để có phương án hỗ trợ. Đến nay chúng tôi đã được nhận tiền hỗ trợ, qua đó có vốn chuyển đổi sang một số công việc, ngành nghề khác… ANH THẮNG – VĂN …

Tin mớiadmin06/08/2019
Thông báo số 5542/TB-BNN-VP ngày 05/8/2019 Ý kiến kết luận của Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường tại Hội nghị “Triển khai các giải pháp tổng hợp phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi”

Thông báoadmin06/08/2019
Quy trình chăn nuôi lợn an toàn sinh học 'cùng vào cùng ra'
Quy trình chăn nuôi lợn an toàn sinh học ‘cùng vào cùng ra’

Bộ NN-PTNT vừa ban hành Công văn số 5329/BNN-CN gửi các địa phương về việc tăng cường một số biện pháp kỹ thuật tổng hợp về an toàn sinh học trong chăn nuôi lợn để phòng, chống bệnh dịch tả lợn Châu Phi. Lãnh đạo Bộ NN-PTNT kiểm tra mô hình chăn nuôi lợn Một số biện pháp kỹ thuật tổng hợp Thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày ngày 18/6/2019 của Chính phủ về việc triển khai một số giải pháp cấp bách trong phòng, chống bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) theo tinh thần chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng tại Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 20/5/2019, để phòng chống bệnh DTLCP, Bộ NN-PTNT khuyến cáo một số biện pháp kỹ thuật tổng hợp về an toàn sinh học trong chăn nuôi lợn để phòng, chống bệnh (DTLCP) như sau: Với chuồng trại và trang thiết bị chăn nuôi, công văn số 5329 do Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến ký, yêu cầu kiểm soát chặt chẽ người và động vật ra vào khu vực chăn nuôi. Chuồng nuôi phải dễ thực hiện các biện pháp vệ sinh, sát trùng, tiêu độc, phòng bệnh. Có lưới bao xung quanh chuồng nuôi và biện pháp khác ngăn chặn côn trùng và vật chủ trung gian khác truyền bệnh, như chuột, chim, ruồi, muỗi… Tại lối ra vào chuồng nuôi phải bố trí hố khử trùng, thay bảo hộ lao động cho người ra, vào khu vực chăn nuôi. Nên có ô chuồng nuôi cách ly nuôi lợn mới nhập hoặc nuôi lợn bị bệnh. Có khu vực thu gom và xử lý chất thải, nếu có điều kiện thì nuôi theo phương pháp cách ô (mỗi ô chuồng có khoảng trống 0,8-1m) để giảm thiểu lợn giữa các ô chuồng tiếp xúc với nhau. Không sử dụng chung dụng cụ chăn nuôi giữa các chuồng. Đường thoát nước thải từ chuồng nuôi đến khu xử lý chất thải đảm bảo kín. Nước thải ô chuồng nào thoát riêng ô chuồng đó ra đường thoát nước chung. Yêu cầu về con giống, lợn nhập về nuôi phải có nguồn gốc rõ ràng, khoẻ mạnh. Đối với lợn nhập từ ngoài tỉnh phải có Giấy kiểm dịch, trước khi nhập đàn, nuôi cách ly ít nhất 2 tuần. Với thức ăn và nước uống, sử dụng thức ăn có nguồn gốc rõ ràng, không bị hỏng, mốc và còn hạn sử dụng, đảm bảo chất lượng và an toàn. Trường hợp sử dụng thức ăn tận dụng phải được xử lý nhiệt trước khi cho ăn. Không sử dụng thức ăn thừa trong máng ăn của đàn lợn đã xuất chuồng và thức ăn của đàn lợn đã bị dịch bệnh cho đàn lợn mới. Phải sử dụng thức ăn có nguồn gốc rõ ràng cho lợn Nguồn nước cho chăn nuôi lợn phải đảm bảo an toàn. Nên bổ sung chế phẩm sinh học trong thức ăn để tăng khả năng tiêu hóa, sức đề kháng cho lợn. Chăm sóc, nuôi dưỡng, áp dụng phương thức quản lý “cùng vào-cùng ra” theo thứ tự ưu tiên: dãy chuồng, ô chuồng. Có quy trình chăn nuôi phù hợp với từng loại lợn theo các giai đoạn sinh trưởng, phát triển. Nên áp dụng phương thức nuôi khô, không sử dụng nước tắm cho lợn. Sử dụng các chế phẩm sinh học trong nước uống, độn chuồng và định kỳ phun sương trong chuồng nuôi theo hướng dẫn của nhà sản xuất để tăng cường phòng, chống dịch. Vệ sinh chăn nuôi và kiểm soát người ngoài ra, vào chuồng nuôi theo hướng hạn chế tối đa người ngoài ra, vào khu vực chuồng nuôi. Trước và sau khi vào, ra khu chăn nuôi phải thay bảo hộ lao động, sát trùng tay, nhúng ủng hoặc giầy, dép vào hố khử trùng. Chất sát trùng tại các hố sát trùng ở cổng ra vào khu chăn nuôi, chuồng nuôi phải bổ sung hoặc thay hàng ngày, cần thay đổi các loại chất sát trùng để tăng hiệu quả sát trùng. Định kỳ phun thuốc sát trùng xung quanh khu chăn nuôi, chuồng nuôi ít nhất 2 lần/tuần; Phun thuốc sát trùng trong chuồng nuôi ít nhất 1 lần/tuần khi không có dịch bệnh, và ít nhất 2 lần/tuần khi có dịch bệnh; Phun thuốc sát trùng trên lợn ít nhất 2 lần/tuần khi có dịch bệnh bằng các dung dịch sát trùng thích hợp theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Định kỳ phát quang bụi rậm, khơi thông và vệ sinh cống rãnh ngoài chuồng nuôi ít nhất 2 lần/tháng. Phải vệ sinh máng ăn, máng uống hàng ngày. Thiết bị, dụng cụ và phương tiện phục vụ trong chăn nuôi phải được tiêu độc khử trùng thường xuyên. Sau mỗi đợt nuôi phải làm vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng, dụng cụ chăn nuôi và để trống chuồng ít nhất 7 ngày trước khi đưa lợn vào nuôi. Trong trường hợp chuồng bị dịch, nếu tái đàn nên để trống chuồng ít nhất 30 ngày và được sự đồng ý của chính quyền địa phương. Kiểm soát phương tiện vận chuyển, trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi không để các phương tiện như xe máy, xe đạp, xe đẩy, xe thồ… trong khu chuồng nuôi lợn. Phương tiện vận chuyển trước và sau khi vào chuồng nuôi phải được khử trùng, tiêu độc. Đặc biệt, không để phương tiện vận chuyển của thương lái, phương tiện vận chuyển thức ăn đến khu vực nuôi lợn. Phương tiện vận chuyển phải dừng ở bên ngoài để vệ sinh, sát trùng, tiêu độc và sử dụng xe nội bộ của khu chuồng nuôi để vận chuyển. Nên có phương tiện vận chuyển chuyên dụng, trường hợp dùng chung thì phải vệ sinh, tiêu độc, khử trùng trước khi sử dụng. Chất thải được gom để xử lý phải để cuối chuồng, xa khu chuồng nuôi, xa nơi cấp nước. Chất thải phải được thu gom hàng ngày, chuyển đến nơi tập trung và xử lý bằng nhiệt, hoặc bằng hoá chất, hoặc xử lý bằng sinh học phù hợp. Chất thải rắn trước khi đưa ra ngoài phải được xử lý đảm bảo vệ sinh theo quy định hiện hành của thú y. Các chất thải lỏng phải được dẫn trực tiếp từ các chuồng nuôi đến khu xử lý bằng đường thoát riêng. Chất thải lỏng phải được xử lý bằng hoá chất hoặc bằng phương pháp xử lý sinh học phù hợp. Với quản lý dịch bệnh, có quy trình phòng bệnh phù hợp từng loại lợn và thực hiện đúng quy trình. Trong trường hợp có dịch, phải khai báo chính quyền địa phương và thực hiện đầy đủ các quy định hiện hành về phòng, chống dịch. Cách ly lợn ốm để có biện pháp xử lý kịp thời, ngừng xuất lợn giống và kiểm soát chặt việc xuất sản phẩm, vật tư trong khu chăn nuôi lợn ra ngoài theo quy định. Khi xảy ra dịch tại ô chuồng hay cả chuồng cần tiêu độc, khử trùng tại chỗ: Cần che bạt, bao vây kín ô chuồng hoặc cả chuồng, với lợn nuôi con loại ngay nái và toàn bộ lợn con, đối với các loại lợn khác loại toàn bộ ô chuồng hoặc cả chuồng nếu dịch xảy ra cả chuồng hoăc cả ô chuồng, lợn bệnh phải tiêu hủy theo hướng dẫn của cơ quan thú y. Không rửa ngay ô chuồng hoặc chuồng lợn bị bệnh, tiến hành che bạt, bao vây kín, phun chất sát trùng đẫm gấp 2 lần bình thường liên tục 3-4 ngày, sau đó rửa lại bằng nước sạch, tránh làm bắn nước sang ô chuồng hoặc chuồng kế bên, tiếp tục phun sát trùng 2-3 ngày. Bao bì, dụng cụ đựng thức ăn của đàn lợn bị dịch bệnh phải được tiêu độc, khử trùng. Thực hiện ghi chép và lưu giữ nhật ký chăn nuôi. Trang trại chăn nuôi lợn phải lập sổ, ghi chép theo dõi và lưu trữ các thông tin trong quá trình chăn nuôi. Chủ trang trại phải tổ chức tiến hành kiểm tra việc thực hiện công tác an toàn sinh học định kỳ. Kiểm soát chặt chẽ người ra vào tại trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học Khuyến cáo sử dụng chế phẩm vi sinh Nguyên tắc sử dụng thức ăn có bổ sung chế phẩm vi sinh, bao gồm chế phẩm probiotic (lợi khuẩn) và enzyme. Khi bổ sung chế phẩm vi sinh là probiotic thì không nên dùng kháng sinh vì kháng sinh làm mất tác dụng của vi sinh vật và giảm hiệu quả sử dụng thức ăn. Cơ sở chăn nuôi có thể tự trộn thức ăn tại trại hoặc sử dụng thức ăn công nghiệp mua từ cơ sở sản xuất có uy tín, đảm bảo chất lượng và có thể truy xuất nguồn gốc. Các biện pháp an toàn sinh học phải luôn đảm bảo theo quy trình hướng dẫn của cơ quan chuyên môn hoặc nhà cung cấp sản phẩm. Hướng dẫn sử dụng thức ăn có bổ sung chế phẩm vi sinh. Giai đoạn 1 (lợn có khối lượng dưới 20 kg): Ở giai đoạn này, cơ sở chăn nuôi nên sử dụng thức ăn công nghiệp mua từ những cơ sở sản xuất có uy tín, đảm bảo chất lượng và an toàn được được bổ sung sẵn chế phẩm vi sinh theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Giai đoạn 2 (lợn có khối lượng từ 20 kg trở lên): Ở giai đoạn này có thể sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh hoặc thức ăn tự phối trộn. Thức ăn tự phối trộn từ những nguyên liệu thông dụng, sẵn có tại địa phương, không nên sử dụng nguyên liệu thức ăn có nguồn gốc động vật (ngoại trừ bột cá). Trước khi chế biến, cơ sở cần lập công thức thức ăn (khẩu phần cơ sở) theo từng giai đoạn sinh trưởng đảm bảo đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho lợn. Dưới đây là hướng dẫn các bước tự sản xuất thức ăn chăn nuôi (khẩu phần cơ sở) và sử dụng chế phẩm vi sinh trong thức ăn chăn nuôi tại cơ sở chăn nuôi: Quy trình khuyến cáo khẩu phần ăn cho lợn của Bộ NN-PTNT. Bước 1: Lựa chọn nguyên liệu thức ăn trước khi sản xuất – Cần chọn nguyên liệu đảm bảo chất lượng, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Nguyên liệu phải mới, khô, không bị mốc. Không mua quá nhiều nguyên liệu để dự trữ tại cơ sở chăn nuôi. – Nguyên liệu bảo quản ở nơi khô ráo, cách xa chuồng nuôi. Kiểm tra chất lượng nguyên liệu theo định kỳ. Bước 2: Phối trộn thức ăn (khẩu phần cơ sở) Tùy theo loại nguyên liệu thức ăn sử dụng, cơ sở lập công thức thức ăn theo nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi theo các giai đoạn sinh trưởng và phát triển phù hợp hoặc từ khi bắt đầu cho ăn thức ăn có bổ sung chế phẩm vi sinh đến khi xuất chuồng. Bước 3: Sử dụng chế phẩm vi sinh trong khẩu phần cơ sở, tùy theo khuyến cáo của nhà sản xuất về sử dụng chế phẩm vi sinh trong khẩu phần cơ sở mà cơ sở chăn nuôi có thể áp dụng quy trình ủ thức ăn trước khi cho ăn hoặc cho ăn trực tiếp. Sử dụng chế phẩm vi sinh là nấm men hoạt tính Saccharomyces trong khẩu phần cơ sở: Thức ăn hỗn hợp được trộn đều với nước sạch và chế phẩm theo tỷ lệ 800 kg thức ăn hỗn hợp + 200 kg nước sạch + 2 kg chế phẩm vi sinh Fodder Yeast. Hỗn hợp này sau đó được đưa vào thùng nhựa hoặc thùng phuy đậy kín (trường hợp không có thùng nhựa/phuy thì dùng túi ni long buộc kín) để ủ trong nhà thông thoáng, đảm bảo tránh mưa, nắng. Sau khi ủ ít nhất 07 ngày (mùa hè) và 10 ngày (mùa đông) thì bắt đầu sử dụng. Sản phẩm sau khi ủ có thể sử dụng trong 03 – 06 tháng. Yêu cầu thức ăn sau khi ủ: Thức ăn đảm bảo đồng đều, ẩm, tơi xốp, giữ được màu sắc ban đầu và có mùi thơm. Người chăn nuôi có thể sử dụng chế phẩm sinh học trong thức ăn chăn nuôi để tăng đề kháng cho lợn Sử dụng chế phẩm sinh học là vi khuẩn Lactic trong khẩu phần cơ sở: Thức ăn hỗn hợp theo công thức ở Bảng 1 được trộn đều với chế phẩm vi sinh “Lacto Powder T” theo tỷ lệ 2 kg/tấn. Bảo quản thức ăn ở nơi khô thoáng tối đa là 02 tháng. Hằng ngày trộn thức ăn hỗn hợp (đã bổ sung chế phẩm vi sinh) với nước sạch theo tỷ lệ 20 kg thức ăn với 10 kg nước sạch, sau đó đặt vào thùng, ủ 24 – 36 giờ trước khi sử dụng. Sản phẩm sau khi ủ nên sử dụng trong ngày và yêu cầu đồng đều, giữ được màu sản phẩm, có mùi thơm. Sử dụng chế phẩm sinh học là bào tử Bacillus trong khẩu phần cơ sở: Nguyên tắc sử dụng chế phẩm vi sinh có chứa bào tử Bacillus theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Dưới đây là ví dụ một số chế phẩm vi sinh chứa bào tử Bacillus: Chế phẩm “Powerzyme 100”: có nguồn gốc từ Korea, bổ sung 0,5 kg/tấn. Một số chế phẩm vi sinh chứa bào tử Bacillus được sản xuất trong nước: Chế phẩm “Bacillus Weaner”: bổ sung 0,2-0,4 kg/tấn; Chế phẩm “NeoPig Top Gold”: bổ sung 0,5 kg/tấn; Chế phẩm “NeoEnvi”: bổ sung 0,5 kg/tấn. Sử dụng chế phẩm sinh học là enzyme trong khẩu phần cơ sở: Chế phẩm Kangjuntai chứa enzyme Lysozym cách sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, bổ sung 1-2 kg/tấn; Chế phẩm enzyme tiêu hóa: Ví dụ, sản phẩm “Natuzyme Feed Enzyme for Pig and poultry”, bổ sung 0,5 kg/tấn. Ngoài các chế phẩm vi sinh, các cơ sở chăn nuôi có thể tìm mua các sản phẩm vi sinh khác được phép lưu hành tại Việt Nam, đảm bảo chất lượng và có nguồn gốc rõ ràng. Chế phẩm vi sinh ngoài việc bổ sung vào thức ăn còn có thể sử dụng bổ sung vào nước uống, đệm lót và phun trong không khí chuồng nuôi khi có dịch bệnh theo khuyến cáo của nhà sản xuất. NGUYÊN …

Tin mớiadmin31/07/2019
Quyết định số 20/QĐ-CN-TĂCN ngày 30 tháng 1 năm 2019 cuả Cục trưởng Cục Chăn nuôi về việc chỉ định phòng thử nghiệm lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Quyết địnhadmin31/07/2019
Quyết định số 118 /QĐ-CN-TĂCN ngày 19 tháng 4 năm 2019 cuả Cục trưởng Cục Chăn nuôi về việc chỉ định phòng thử nghiệm lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Quyết địnhadmin31/07/2019
Quyết định số 276 /QĐ-CN-TĂCN ngày 03 tháng 7 năm 2019 cuả Cục trưởng Cục Chăn nuôi về việc chỉ định phòng thử nghiệm lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Quyết địnhadmin31/07/2019
Quyết định số 239 /QĐ-CN-TĂCN ngày 10 tháng 6 năm 2019 cuả Cục trưởng Cục Chăn nuôi về việc chỉ định phòng thử nghiệm lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Quyết địnhadmin31/07/2019
Quyết định số 254/QĐ-CN-TĂCN ngày 20 tháng 6 năm 2019 của Cục trưởng Cục Chăn nuôi về việc chỉ định phòng thử nghiệm lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Quyết địnhadmin31/07/2019
Quyết định số 16 /QĐ-CN-TĂCN ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Cục trưởng Cục Chăn nuôi Về việc chỉ định phòng thử nghiệm lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Quyết địnhadmin31/07/2019
Quyết định số 292 /QĐ-CN-TĂCN ngày 10 tháng 7 năm 2019 của Cục trưởng Cục Chăn nuôi Về việc bổ sung phạm vi chỉ định phòng thử nghiệm lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Quyết địnhadmin31/07/2019
Quyết định số 295 /QĐ-CN-TĂCN của Cục trưởng Cục Chăn nuôi về việc bổ sung phạm vi chỉ định phòng thử nghiệm lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Quyết địnhadmin31/07/2019
Quyết định số 20 /QĐ-CN-TĂCN ngày 30 tháng 01 năm 2019 Về việc chỉ định phòng thử nghiệm trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Quyết địnhadmin31/07/2019
Tài liệu phục vụ hội thảo kỹ thuật lĩnh vực thức ăn chăn nuôi

Tài liệu phục vụ hội thảo kỹ thuật lĩnh vực thức ăn chăn …

Thông báoadmin30/07/2019
Hướng dẫn số 4249/HD-BNN-TY ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn Kiểm soát vận chuyển lợn để nuôi làm giống, nuôi thương phẩm trong và ngoài vùng có bệnh Dịch tả lợn Châu Phi

Văn bản khácadmin19/06/2019
Hướng dẫn số 4178/HD-BNN-TY ngày 14 tháng 6 năm 2019 Hướng dẫn Biện pháp xử lý, tiêu hủy lợn mắc bệnh Dịch tả lợn Châu Phi bằng phương pháp đốt

Văn bản khácadmin19/06/2019
Một số biện pháp khẩn cấp quản lý giết mổ, tiêu thụ sản phẩm từ lợn khi có Dịch tả lợn Châu Phi
Một số biện pháp khẩn cấp quản lý giết mổ, tiêu thụ sản phẩm từ lợn khi có Dịch tả lợn Châu Phi

Trước diễn biến ngày càng phức tạp của dịch tả lợn Châu Phi, Bộ NN-PTNT ngày 28/5 ban hành công văn số 3708/HD-BNN-TY hướng dẫn một số biện pháp khẩn cấp về quản lý giết mổ lợn, tiêu thụ sản phẩm từ lợn khi dịch tả lợn Châu Phi. Bộ NN-PTNT đã hướng dẫn một số biện pháp khẩn cấp về quản lý giết mổ lợn, tiêu thụ sản phẩm từ lợn khi có bệnh DTLCP Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) là bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm, có thể gây chết 100% số lợn mắc bệnh, hiện chưa có thuốc điều trị, chưa có vắc xin phòng bệnh. Từ tháng 2/2019 đến nay, bệnh đã xuất hiện và lây lan nhanh trên nhiều tỉnh, thành phố của nước ta, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển chăn nuôi lợn, gây tổn thất lớn về kinh tế, ảnh hưởng lớn đến môi trường. Trong thời gian tới, nguy cơ bệnh DTLCP tiếp tục phát sinh và lây lan tại địa bàn các tỉnh, thành phố là rất cao. Bộ NN-PTNT cảnh báo trong thời gian tới tình hình dịch bệnh có thể phát triển theo 3 hướng sau. Thứ 1, dịch bệnh dễ dàng phát tán, lây lan nhanh và lan tỏa đến các địa bàn chưa bị. Thứ 2, tái phát các ổ dịch cũ qua 30 ngày. Thứ 3, đặc biệt nguy hiểm hơn là bệnh có khả năng xâm nhiễm vào các cơ sở chăn nuôi tập trung, quy mô lớn. Thực hiện Thông báo số 192/TB-VPCP ngày 17/5/2019 của Văn phòng Chính phủ về việc thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng tại Hội nghị trực tuyến đánh giá tình hình và triển khai các giải pháp phòng, chống bệnh DTLCP. Để giảm áp lực về nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh từ đó giảm số lượng lợn bệnh phải tiêu hủy, góp phần giảm thiểu tổn thất về kinh tế và ô nhiễm môi trường, Bộ NN-PTNT hướng dẫn một số biện pháp khẩn cấp về quản lý giết mổ lợn, tiêu thụ sản phẩm từ lợn khi có bệnh DTLCP dưới sự giám sát của cơ quan thú y như sau: CƠ SỞ ĐƯỢC PHÉP GIẾT MỔ LỢN Cơ sở được phép giết mổ lợn bao gồm: Cơ sở giết mổ tập trung bảo đảm các yêu cầu vệ sinh thú y theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thú y và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia yêu cầu vệ sinh thú y đối với cơ sở giết mổ động vật tập trung (QCVN 01 -150: 2017/BNNPTNT ban hành kèm theo Thông tư số 13/2017/TT-BNNPTNT ngày 20/6/2017 của Bộ NN-PTNT). Cơ sở giết mổ nhỏ lẻ bảo đảm các yêu cầu vệ sinh thú y theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Luật Thú y. Lợn được đưa vào cơ sở giết mổ phải bảo đảm theo quy định tại Điều 4 Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT ngày 1/6/2016 của Bộ NN-PTNT VẬN CHUYỂN, GIẾT MỔ, TIÊU THỤ SẢN PHẨM TỪ LỢN Đối với cơ sở giết mổ lợn tập trung trong vùng dịch: Được phép tiếp nhận, giết mổ lợn khỏe và có kết quả xét nghiệm âm tính với mầm bệnh DTLCP từ cơ sở chăn nuôi lợn ở trong vùng dịch, ngoài vùng dịch thuộc phạm vi trong và ngoài địa bàn cấp tỉnh. Lợn được đưa vào cơ sở giết mổ phải bảo đảm theo quy định tại Điều 4 Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT ngày 1/6/2016 của Bộ NN-PTNT quy định về kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y. Lợn được vận chuyển bằng phương tiện chuyên dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 70 Luật Thú y và QCVN 01-100:2012/BNNPTNT (ban hành kèm theo Thông tư số 30/2012/TT-BNNPTNT ngày 3/7/2012 của Bộ NN-PTNT) từ cơ sở chăn nuôi đến trực tiếp cơ sở giết mổ lợn; không vận chuyển lợn đến các điểm thu gom tập trung để giảm thiểu nguy cơ lây lan mầm bệnh. Đối với lợn xuất phát từ cơ sở thu gom, kinh doanh phải có kết quả xét nghiệm âm tính với mầm bệnh DTLCP trước khi vận chuyển đến cơ sở giết mổ. Cơ sở thu gom được vệ sinh, khử trùng tiêu độc trước và sau mỗi lần thu gom; chất thải, nước thải được xử lý đảm bảo không lây lan mầm bệnh. Trường hợp lợn có nguồn gốc từ tỉnh khác vận chuyển đến cơ sở giết mổ, ngoài yêu cầu kiểm tra âm tính với mầm bệnh DTLCP, lợn phải được kiểm dịch và cấp giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển ra khỏi địa bàn cấp tỉnh theo quy định tại Thông tư số 25/2016/TT-BNNPTNT ngày 30/6/2016 của Bộ NN-PTNT. Lợn phải được kiểm soát giết mổ theo quy định tại Điều 65 Luật Thú y và Thông tư số 09/2016/TT-BNNPTNT ngày 1/6/2016 của Bộ NN-PTNT. Sản phẩm từ lợn sau giết mổ phải xét nghiệm âm tính với mầm bệnh DTLCP và được vận chuyển bằng phương tiện chuyên dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Luật Thú y, để tiêu thụ trong và ngoài vùng dịch thuộc phạm vi trong và ngoài địa bàn cấp tỉnh. Phương tiện vận chuyển phải được vệ sinh, khử trùng tiêu độc trước khi ra khỏi cơ sở chăn nuôi, trước khi vào và ra khỏi cơ sở giết mổ lợn. Với cơ sở giết mổ lợn tập trung ngoài vùng dịch: Trường hợp lợn được đưa vào cơ sở giết mổ có nguồn gốc từ vùng dịch: thực hiện theo khoản 1 mục II nêu trên. Trường hợp lợn được đưa vào cơ sở giết mổ có nguồn gốc ngoài vùng dịch: thực hiện theo quy định của pháp luật về thú y. Đối với cơ sở giết mổ nhỏ lẻ trong vùng dịch: Được phép tiếp nhận, giết mổ lợn khoẻ và có kết quả xét nghiệm âm tính với mầm bệnh DTLCP từ cơ sở chăn nuôi lợn ở trong vùng dịch và ngoài vùng dịch thuộc phạm vi địa bàn cấp tỉnh. Lợn được đưa vào giết mổ phải bảo đảm theo quy định tại Điều 4 Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT ngày 1/6/2016 của Bộ NN-PTNT quy định về kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y. Lợn được vận chuyển bằng phương tiện theo quy định tại khoản 1 Điều 70 Luật thú y, bảo đảm yêu cầu vệ sinh thú y từ cơ sở chăn nuôi trực tiếp đến cơ sở giết mổ; không vận chuyển lợn đến các điểm thu gom tập trung để giảm thiểu nguy cơ lây lan mầm bệnh. Lợn phải được kiểm soát giết mổ theo quy định tại Điều 65 Luật Thú y và Thông tư số 09/2016/TT-BNNPTNT ngày 01/6/2016 của Bộ NN-PTNT. Sản phẩm từ lợn sau giết mổ được vận chuyển bằng phương tiện theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Luật Thú y và phải lấy mẫu sản phẩm xét nghiệm âm tính với mầm bệnh DTLCP để tiêu thụ trong và ngoài vùng dịch thuộc phạm vi địa bàn cấp tỉnh. Phương tiện vận chuyển phải được vệ sinh, khử trùng tiêu độc trước khi ra khỏi cơ sở chăn nuôi, trước khi vào và ra khỏi cơ sở giết mổ lợn. Đối với cơ sở giết mổ nhỏ lẻ ngoài vùng dịch: Trường hợp lợn được đưa vào cơ sở giết mổ có nguồn gốc từ vùng dịch: thực hiện theo khoản 3 mục II nêu trên và phải lấy mẫu sản phẩm xét nghiệm âm tính với mầm bệnh DTLCP để tiêu thụ trong và ngoài vùng dịch. Trường hợp lợn được đưa vào cơ sở giết mổ có nguồn gốc ngoài vùng dịch: thực hiện theo quy định của pháp luật về thú y. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi văn bản về Bộ NN-PTNT hoặc Cục Thú y để phối hợp giải quyết LẤY MẪU VÀ XÉT NGHIỆM MẪU Việc lấy mẫu, bảo quản mẫu và vận chuyển mẫu phải tuân thủ theo QCVN 01 – 83: 2011/BNNPTNT (ban hành kèm theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25/10/2011 của Bộ NN-PTNT). Cơ quan thú y địa phương tổ chức thực hiện việc giám sát, lấy mẫu và gửi mẫu đến phòng thử nghiệm có thẩm quyền để xét nghiệm mầm bệnh DTLCP. Trước khi vận chuyển lợn đến cơ sở giết mổ, chủ cơ sở chăn nuôi lợn phải báo cho cơ quan thú y địa phương để tổ chức giám sát và lấy mẫu xét nghiệm mầm bệnh DTLCP: Đối với trường hợp xuất bán, vận chuyển dưới 100 con lợn: Lấy mẫu máu của 5 con lợn để gộp thành 1 mẫu xét nghiệm. Trường hợp cơ sở chăn nuôi có dưới 5 con lợn, thì phải lấy mẫu tất cả lợn và gộp thành 1 mẫu xét nghiệm; Đối với trường hợp xuất bán, vận chuyển từ 100 đến 300 con: Lấy mẫu máu của 15 con lợn để gộp thành 3 mẫu xét nghiệm; Đối với trường hợp xuất bán, vận chuyển trên 300 con: Lấy mẫu máu của 30 con lợn để gộp thành 6 mẫu xét nghiệm. Trước khi vận chuyển lợn đến cơ sở giết mổ, chủ cơ sở thu gom, kinh doanh phải báo cho cơ quan thú y địa phương để tổ chức giám sát và lấy mẫu xét nghiệm mầm bệnh DTLCP: Đối với trường hợp xuất bán, vận chuyển dưới 100 con lợn: Lấy mẫu máu của 10 con lợn để gộp thành 2 mẫu xét nghiệm. Trường hợp cơ sở thu gom, kinh doanh có dưới 10 con lợn, thì phải lấy mẫu tất cả lợn và gộp 5 mẫu thành 1 mẫu xét nghiệm; Đối với trường hợp xuất bán, vận chuyển từ 100 đến 300 con: Lấy mẫu máu của 30 con lợn để gộp thành 06 mẫu xét nghiệm; Đối với trường hợp xuất bán, vận chuyển trên 300 con: Lấy mẫu máu của 60 con lợn để gộp thành 12 mẫu xét nghiệm. Đối với cơ sở giết mổ tập trung, cơ sở bảo quản sản phẩm lợn sau giết mổ: cơ quan thú y có thẩm quyền tổ chức lấy ngẫu nhiên 15 mẫu sản phẩm từ lợn để gộp thành 3 mẫu xét nghiệm từ mỗi lô sản xuất. Đối với cơ sở giết mổ nhỏ lẻ: cơ quan thú y có thẩm quyền tổ chức lấy ngẫu nhiên 5 mẫu sản phẩm từ lợn để gộp thành 1 mẫu xét nghiệm từ mỗi lô sản xuất. Phiếu trả lời kết quả xét nghiệm chỉ có giá trị với lô hàng đã đăng ký vận chuyển để giết mổ và có giá trị trong vòng 10 ngày kể từ ngày trả lời kết quả. Chủ cơ sở chăn nuôi lợn, chủ cơ sở có sản phẩm từ lợn chi trả chi phí lấy mẫu, gửi mẫu và xét nghiệm theo quy định. XỬ LÝ LỢN VÀ SẢN PHẨM TỪ LỢN DƯƠNG TÍNH VỚI MẦM BỆNH DTLCP Tiêu hủy ngay toàn bộ lợn tại ô chuồng nuôi, cơ sở thu gom, khu vực cách ly dương tính với mầm bệnh DTLCP; đồng thời thực hiện các biện pháp xử lý ổ dịch, phòng, chống dịch bệnh theo đúng quy định. Cơ sở giết mổ lợn, cơ sở bảo quản sản phẩm từ lợn có kết quả dương tính với mầm bệnh DTLCP phải thực hiện việc tiêu hủy lợn, sản phẩm từ lợn của lô sản xuất dương tính với mầm bệnh DTLCP; ngừng sản xuất và thực hiện việc tổng vệ sinh, sát trùng liên tục trong vòng 05 ngày trước khi giết mổ, kinh doanh trở lại. TỔ CHỨC THỰC HIỆN Căn cứ văn bản hướng dẫn này, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo tổ chức thực hiện phù hợp với đặc điểm tình hình thực tế của địa phương, bảo đảm không lây lan dịch bệnh. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi văn bản về Bộ NN-PTNT (Cục Thú y, địa chỉ số 15/78 đường Giải Phóng, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội) để phối hợp giải quyết. NGUYÊN …

Tin mớiadmin30/05/2019
Các tỉnh miền Nam xây dựng kịch bản ứng phó với dịch tả lợn châu Phi
Các tỉnh miền Nam xây dựng kịch bản ứng phó với dịch tả lợn châu Phi

Dịch tả lợn châu Phi đang diễn biến phức tạp, tốc độ lây lan nhanh ở các tỉnh phía Nam, vì vậy 18 tỉnh, thành phố ở Đông Nam Bộ và ĐBSCL phải gấp rút xây dựng kịch bản ứng phó dịch tả lợn châu Phi. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường phát biểu khai mạc hội nghị. (Ảnh: Xuân Anh/TTXVN) Dịch tả lợn châu Phi đang diễn biến phức tạp, tốc độ lây lan nhanh ở các tỉnh phía Nam, vì vậy 18 tỉnh, thành phố thuộc hai vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long phải gấp rút xây dựng kịch bản ứng phó với dịch tả lợn châu Phi theo từng tình huống cụ thể. Đây là chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường tại hội nghị triển khai các giải pháp cấp bách phòng chống bệnh dịch tả lợn châu phi các tỉnh phía Nam do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25/5. Theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, cho tới nay dịch tả lợn châu Phi là dịch bệnh nguy hiểm nhất và gây thiệt hại nặng nề nhất cho ngành chăn nuôi thế giới và cả Việt Nam. Mặc dù virus dịch tả lợn châu Phi đã xuất hiện gần 100 năm, gây bệnh ở cả 5 châu lục trên trái đất nhưng cho đến nay vẫn chưa có vắcxin phòng bệnh và thuốc điều trị. Thêm vào đó, virus dịch tả lợn châu Phi có thể tồn tại rất lâu trong môi trường, lây lan qua nhiều hình thức phức tạp nên việc kiểm soát dịch bệnh rất khó khăn. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã định hình trước mức độ nguy hiểm và chủ động thực hiện phòng, chống dịch sớm nhưng diễn biến dịch tả lợn châu Phi ngày càng khó lường. [Cần Thơ đã xuất hiện dịch tả châu Phi, trên 100 con lợn bị tiêu hủy] Những ngày gần đây dịch tiếp tục lan nhanh ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, các ổ dịch tuy xuất hiện nhỏ lẻ tại các hộ chăn nuôi nhưng trải rộng ở nhiều tỉnh khiến công tác khoanh vùng, dập dịch khó khăn và làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh trên quy mô vùng. “Tất cả tỉnh, thành phía Nam đã xảy ra hay chưa có dịch tả lợn châu Phi đều phải theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình dịch bệnh trên địa bàn, xây dựng kịch bản ứng phó phù hợp với tình hình cụ thể ở địa phương cho từng giai đoạn nhằm hạn chế tối đa thiệt hại do dịch bệnh gây ra. Mỗi địa phương phải xác định: phòng dịch hơn dập dịch, dập dịch như diệt giặc để thực hiện hiệu quả các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi và xử lý ổ dịch. Địa phương nào phát hiện có lợn chết thì lập tức tiêu hủy ngay mà không cần đợi xét nghiệm hay báo cáo cấp trên và người đứng đầu các địa phương phải trực tiếp chịu trách nhiệm về công tác phòng chống, xử lý dịch bệnh ở địa phương mình. Kinh nghiệm của các tỉnh, thành phố đã giao trách nhiệm cụ thể cho người đứng đầu thì công tác phòng chống dịch được triển khai rất hiệu quả,” Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh. Quang cảnh Hội nghị triển khai các giải pháp cấp bách phòng chống bệnh dịch tả lợn châu Phi các tỉnh phía Nam. (Ảnh: Xuân Anh/TTXVN) Ông Bạch Đức Lữu, Chi Cục trưởng Chi cục Thú y vùng 6 nhận định, nguy cơ bệnh dịch tả lợn châu Phi tiếp tục phát sinh và lây lan tại các tỉnh, thành phố phía Nam, bao gồm Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long là rất cao do đang ở thời điểm giao mùa từ nắng sang mưa, các địa phương thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống kênh rạch dày đặc, giao thông đường thủy và đường bộ đan xen, khó kiểm soát. Vì vậy, mầm bệnh có thể dễ dàng phát tán và lây lan nhanh sang tất cả các địa phương chưa có dịch trong toàn khu vực. Đặc biệt nguy hiểm hơn là bệnh có khả năng xâm nhiễm vào các cơ sở chăn nuôi tập trung, quy mô và số lượng lợn lớn mà chỉ xâm nhập vào các cơ sở không áp dụng triệt để các biện pháp an toàn sinh học. Điều này có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển chăn nuôi lợn, gây tổn thất lớn về kinh tế, xã hội, ảnh hưởng lớn đến môi trường. Theo ông Bạch Đức Lữu, khu vực phía Nam là một trong những khu vực trọng yếu của ngành chăn nuôi lợn cả nước với tổng đàn lợn lên tới gần 6,5 triệu con, chiếm 23% tổng đàn lợn cả nước. Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, chuồng nuôi lợn xen lẫn trong khu dân cư vẫn phổ biến, mật độ chăn nuôi rất cao, gây khó khăn rất lớn cho phòng, chống dịch bệnh. Số cơ sở chăn nuôi lợn an toàn dịch bệnh còn thấp so với tổng số trang trại chăn nuôi lợn trong khu vực (chỉ chiếm 13,1%) và so với tổng đàn lợn trong khu vực (chỉ chiếm 18,5%). Một số hộ chăn nuôi lợn vẫn sử dụng thức ăn dư thừa chưa qua xử lý nhiệt, đặc biệt là sử dụng trong chăn nuôi lợn rừng. Thêm vào đó, một số địa phương vẫn chưa làm tốt việc kiểm soát giết mổ; vẫn để tình trạng giết mổ lậu diễn ra thường xuyên, đặc biệt cơ sở giết mổ lậu chuyên thu gom lợn chết không rõ nguyên nhân và nguồn gốc để giết mổ, đưa vào các quán ăn để tiêu thụ khiến lây lan mầm bệnh. Việc kiểm dịch vận chuyển động vật chưa đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch bệnh; điều kiện cơ sở vật chất của hệ thống các trạm kiểm dịch đầu mối giao thông còn thiếu; không có khu vực nuôi nhốt cách ly động vật và nơi lưu giữ sản phẩm động vật. Một số địa phương trong khu vực đã thực hiện việc sáp nhập hệ thống thú y các cấp khiến nguồn nhân lực bị cắt giảm, dẫn đến tình trạng không có đủ công chức, viên chức để thực hiện việc phòng, chống dịch bệnh và các hoạt động thú y khác. Để ứng phó với những diễn biến phức tạp của dịch tả lợn châu Phi thời gian tới, Chi cục Thú y vùng 6 khuyến cáo các địa phương phải theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình dịch bệnh, tăng cường tần suất tiêu độc, sát trùng khu vực chăn nuôi, đường giao thông, làm sạch môi trường nhằm hạn chế lây lan mầm bệnh. Các địa phương, đặc biệt là các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long chú ý rà soát các tuyến đường thủy có thể vận chuyển lợn ra, vào địa bàn để thành lập các tổ kiểm tra lưu động hoặc các chốt kiểm tra, kiểm soát trong địa bàn; kịp thời phát hiện các trường hợp vận chuyển trái phép lợn và sản phẩm thịt lợn có nguy cơ mang gây bệnh. Mặt khác, công tác truyền thông cần thông tin rộng rãi và kịp thời những chính sách hỗ trợ cho chủ chăn nuôi có lợn bị tiêu hủy theo quy định để người dân chủ động thông báo cho chính quyền, cơ quan thú y khi lợn có biểu hiện bệnh, góp phần thực hiện phòng chống dịch bệnh có hiệu quả. Về lâu dài, cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh và xây dựng các chuỗi sản xuất sản phẩm chăn nuôi bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm. Cập nhật mới nhất của Cục Thú y, đến sáng ngày 25/5, cả nước có 42 tỉnh, thành phố ghi nhận trường hợp nhiễm dịch tả lợn châu Phi, số lợn phải tiêu hủy là hơn 1,7 triệu con, chiếm hơn 5% tổng số đàn lợn cả nước; riêng khu vực phía Nam đã có 8 tỉnh xảy ra dịch tả lợn châu Phi, tiêu hủy hơn 4.800 con lợn./. Xuân Anh …

Tin mớiadmin27/05/2019
Mỹ công bố gói hỗ trợ thứ hai trị giá 16 tỷ USD cho nông dân
Mỹ công bố gói hỗ trợ thứ hai trị giá 16 tỷ USD cho nông dân

Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 23/5 đã công bố gói viện trợ mới trị giá 16 tỷ USD để giúp những nông dân bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến thương mại với Trung Quốc. Khách hàng mua rau củ quả tại một chợ nông trại ở Washington, DC. (Ảnh: AFP/TTXVN) Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 23/5 đã công bố gói viện trợ mới trị giá 16 tỷ USD để giúp những nông dân bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến thương mại với Trung Quốc. Phát biểu họp báo tại Nhà Trắng, Tổng thống Trump cho biết nhiều nông dân đang bị Trung Quốc “tấn công,” nhưng Washington sẽ giúp những người nông dân Mỹ vượt qua khó khăn và mang lại cho họ sân chơi công bằng. Tổng thống Trump cho biết một phần của khoản tiền thu được từ việc đánh thuế 25% đối với lượng hàng hóa nhập khẩu 200 tỷ USD của Trung Quốc sẽ được trao cho người nông dân để giúp họ vượt qua tình huống khó khăn trong giai đoạn (cạnh tranh) thương mại không công bằng với họ. Bộ trưởng Nông nghiệp Mỹ Sonny Perdue cho biết phần lớn nguồn thu thuế này sẽ được chi trực tiếp cho những nông dân chăn nuôi và trồng trọt, trong khi một phần nhỏ sẽ được chi để mua thực phẩm cho các chương trình cứu trợ của Mỹ như các ngân hàng lương thực và các chương trình bữa trưa học đường. Theo ông Perdue, kế hoạch hỗ trợ nói trên được đưa ra nhằm đảm bảo người nông dân không phải chịu gánh nặng thuế trả đũa không công bằng từ Trung Quốc và các đối tác thương mại khác của Mỹ. [Mỹ thanh toán hơn 8,5 tỷ USD cho nông dân ứng phó với “thương chiến”] Bộ Nông nghiệp Mỹ sẽ tính toán những thiệt hại do thuế trả đũa gây ra, và các quan chức Mỹ cho biết đợt thanh toán đầu tiên trong ba đợt của gói hỗ trợ này được dự đoán sẽ được giải ngân vào tháng Bảy hoặc tháng Tám tới. Các quan chức này không nói rõ quy mô của các đợt thanh toán, nhưng ông Perdue cho biết đợt đầu tiên sẽ lớn nhất, trong khi các đợt còn lại sẽ phụ thuộc vào thị trường cũng như diễn biến của các cuộc đàm phán thương mại. Các quan chức của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho biết số tiền mà mỗi người nông dân nhận được sẽ dựa trên những thiệt hại được tính ra đối với mỗi hạt của Mỹ, và tất cả nông dân sẽ nhận được các khoản tiền bằng nhau dựa trên diện tích canh tác, không phân biệt loại cây trồng, để tránh ảnh hưởng đến quyết định gieo trồng của họ. Những loại cây trồng được hỗ trợ bao gồm cỏ linh lăng, lúa mạch, cải dầu, ngô, cây đậu lăng, lúa, lạc, đậu gà, lúa miến, đậu tương, hướng dương và lúa mì. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất thịt lợn và các sản phẩm về sữa, cũng như người trồng quả anh đào, việt quất và các loại hạt cũng sẽ được nhận hỗ trợ. Kế hoạch nói trên là gói hỗ trợ thứ hai dành cho nông dân Mỹ, sau kế hoạch trị giá 12 tỷ USD của Bộ Nông nghiệp Mỹ hồi năm ngoái, nhằm bù đắp cho sự sụt giảm trong giá hàng nông sản và doanh thu do căng thẳng thương mại giữa Mỹ với Trung Quốc và các nước khác. Nông dân Mỹ, nhóm cử tri quan trọng đối với Tổng thống Trump, nằm trong những đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong căng thẳng thương mại giữa nước này với Trung Quốc. Kim ngạch xuất khẩu đậu tương của Mỹ sang Trung Quốc đã giảm 75% xuống mức thấp nhất trong 16 năm qua trong năm 2018, và xuất khẩu mặt hàng này sang các thị trường khác cũng không thể bù đắp được cho sự sụt giảm nghiêm trọng này./. Khánh Ly …

Tin mớiadmin24/05/2019
Nhiều ý kiến xoay quanh nghị định hướng dẫn Luật Chăn nuôi
Nhiều ý kiến xoay quanh nghị định hướng dẫn Luật Chăn nuôi

Luật Chăn nuôi có nhiều nội dung mới đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh trong nước và hội nhập quốc tế; quản lý chăn nuôi theo chuỗi từ con giống, thức ăn chăn nuôi… Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến phát biểu chỉ đạo hội nghị (Ảnh: mard.gov.vn) Tại Hội nghị “Lấy ý kiến cho dự thảo Nghị định hướng dẫn chi tiết và biện pháp thi hành Luật Chăn nuôi” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chiều 16/5 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, đây là nghị định rất quan trọng. Do đó, Cục Chăn nuôi cần lắng nghe, ghi nhận và cân nhắc tiếp thu kỹ lưỡng mọi ý kiến góp ý để khi nghị định được ban hành. Luật Chăn nuôi có hiệu lực phải có hiệu quả, đi vào cuộc sống, thúc đẩy sản xuất, ngành chăn nuôi phát triển bền vững, nhất là trong bối cảnh dịch tả lợn châu Phi đang diễn ra phức tạp. Luật Chăn nuôi đánh dấu một bước tiến mới tạo khung pháp lý cho ngành chăn nuôi. Luật có nhiều nội dung mới đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh trong nước và hội nhập quốc tế; quản lý chăn nuôi theo chuỗi từ con giống, thức ăn chăn nuôi, điều kiện chăn nuôi đến thị trường; chú trọng đến vấn đề môi trường trong chăn nuôi. Luật cũng xã hội hóa một số dịch vụ công, đa dạng cách thức thực hiện thủ tục hành chính để đáp ứng yêu cầu cải cách của Chính phủ. Dự thảo Nghị định Hướng dẫn chi tiết và biện pháp thi hành Luật Chăn nuôi quy định về quản lý thức ăn chăn nuôi; trong đó có quy định chi tiết 4/10 điều kiện sản xuất; việc cấp, cấp lại, thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất; quy định trình tự kiểm tra nhà nước, việc miễn kiểm tra và giám sát lô hàng được miễn kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu… Dự thảo nghị định quy định về điều kiện chăn nuôi như quy mô, mật độ đối với các vùng sinh thái; việc cấp, cấp lại, thu hồi giấy chứng nhận điều điều kiện chăn nuôi đối với chăn nuôi trang trại quy mô lớn; việc quản lý nuôi chim yến, nuôi hươu sao; danh mục động vật khác được phép chăn nuôi; nhập khẩu vật nuôi sống và sản phẩm chăn nuôi; sản phẩm xử lý chất thải… Góp ý cho dự thảo, ông Hoàng Kim Giao, Chủ tịch Hiệp hội Gia súc lớn Việt Nam cho rằng, ban soạn thảo cần xem xét lại quy định về mật độ chăn nuôi. Ngoài căn cứ vào đất nông nghiệp cần xem xét thêm những yếu tố khác vì khu vực đồng bằng hiện dân cư đã đông nếu chăn nuôi với mật độ cao có thể không đảm bảo môi trường và con người. Về danh mục giống vật nuôi cần bảo tồn, giống quý hiếm phải bảo tồn và nghiêm cấm buôn bán, giết thịt… nhưng bên cạnh đó cần có quy định để phát triển những vật nuôi này. Về quy định thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh, Ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam cho rằng, chưa nên quy định đến 31/12/2020 bỏ kháng sinh trong thức ăn giai đoạn con non với mục đích phòng bệnh, đặc biệt là với tình hình dịch bệnh như hiện nay. Bên cạnh đó, việc quản lý chất lượng thức ăn bổ sung nên để Cục Chăn nuôi quản lý, không nên giao cho địa phương, địa phương chỉ nên quản lý thức ăn hỗn hợp. (Ảnh: mard.gov.vn) Tại hội nghị, các đại biểu đã góp ý chi tiết về nhiều nội dung như mật độ chăn nuôi và quy mô; quy trình, thủ tục cấp phép chăn nuôi; quản lý chất thải chăn nuôi; cảng nhập khẩu vật nuôi; quy định về nuôi chim yến… Ông Nguyễn Xuân Dương, Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, Nghị định sẽ được ban hành trong tháng 10/2019 để đến 01/01/2020, Luật Chăn nuôi có hiệu lực đảm bảo Luật Chăn nuôi được triển khai đồng bộ ngay khi có hiệu lực thi hành. Luật Chăn nuôi đã được thông qua tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2020. Dự thảo Nghị định hướng dẫn chi tiết và biện pháp thi hành Luật Chăn nuôi có 8 chương, 31 điều kèm theo 7 phụ lục và 16 biểu mẫu quy định chi tiết các nội dung luật./. Bích …

Tin mớiadmin17/05/2019
Hết thời nghe 'bài ca' ô nhiễm môi trường
Hết thời nghe ‘bài ca’ ô nhiễm môi trường

Hơn 200 mô hình chăn nuôi trên đệm lót sinh học đã ra đời chỉ sau gần 1 năm triển khai. Giờ đây, người chăn nuôi nông hộ ở huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) không còn lo lắng làng trên, xóm dưới ca thán mùi xú uế phát ra từ đàn lợn, đàn bò của gia đình. Nhân rộng toàn huyện Năm 2015 mô hình chăn nuôi trên đệm lót sinh học được triển khai thí điểm tại xã Cẩm Bình, Cẩm Sơn, Cẩm Thành, huyện Cẩm Xuyên. Mỗi xã có 3 hộ tham gia, hộ nhỏ nhất vài con bò, hộ lớn nhất lên đến 200 con lợn. Xử lý chất thải trên đệm lót sinh học đã giải quyết được bài toán ô nhiễm môi trường do chăn nuôi nông hộ. Theo đánh giá của ông Lê Ngọc Hà, Trưởng phòng NN- PTNT huyện Cẩm Xuyên, mô hình không chỉ hiệu quả về mặt kinh tế mà còn hạn chế sử dụng nước, hạn chế ô nhiễm môi trường. Toàn bộ phân gia súc thải ra được phân huỷ hoàn toàn và giữ chuồng nuôi luôn sạch sẽ, không có mùi hôi thối, không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh khu vực nuôi; gia súc ít bị dịch bệnh, sinh trưởng và phát triển ổn định ở các giai đoạn. “Bà con chỉ cần chú trọng làm nền chuồng cao lên; có phần lòng chuồng láng bằng xi măng sâu tối thiểu 60cm, sau đó phủ đệm lót lên là có thể giảm được rất nhiều công vệ sinh chuồng trại. Nhất là với những hộ chăn nuôi 1 – 2 con trâu, bò; có khi đến 5, 6 tháng mới phải vệ sinh chuồng một lần”, ông Hà nói. Anh Phong, xã Cẩm Bình là một trong những hộ đầu tiên thực hiện thành công mô hình chăn nuôi trên đệm lót sinh học. Trước năm 2015, hầu như ngày nào anh cũng phải phun nước vệ sinh chuồng, hầm biogas chẳng mấy chốc đầy, chảy tràn ra môi trường xung quanh. Tuy nhiên, sau khi áp dụng kỹ thuật chăn nuôi trên đệm lót sinh học, 200 con lợn cả tháng khô ráo, sạch sẽ dù không được tắm, mùi hôi thối giảm hẳn. Đặc biệt, phân lợn trộn chế phẩm Balasa, trấu, cám gạo sau khi xử lý được tận dụng làm phân hữu cơ sản xuất nông nghiệp sạch rất hiệu quả. Hỗ trợ 100.000đ/m2 Được đánh giá là thành công nhưng khoảng năm 2016 – 2017 mô hình chăn nuôi trên đệm lót sinh học phát triển không đáng kể. Đến năm 2018, để đẩy nhanh tiến độ xây dựng xã NTM nâng cao, huyện Cẩm Xuyên triển khai mô hình này trên diện rộng. Chất thải còn được sử dụng hiệu quả khi bón cho cây trồng. “Đầu năm 2019, chúng tôi có chính sách hỗ trợ hộ dân tham gia mô hình 100.000đ/1m2 chuồng trại. Giao cho Hội Phụ nữ các xã “cầm tay chỉ việc”, hướng dẫn thực hiện. Nhờ đó, đến thời điểm này đã có hơn 200 hộ, chủ yếu ở các xã Cẩm Dương, Cẩm Hòa, Cẩm Trung, Cẩm Sơn, Cẩm Quan… áp dụng vào thực tiễn”, ông Lê Ngọc Hà thông tin. Tháng 3/2019, gia đình chị Đoàn Thị Thu, thôn Thanh Sơn, xã Cẩm Quan được huyện Cẩm Xuyên hỗ trợ 700.000đ thực hiện mô hình chăn nuôi trên đệm lót sinh học. Dựa trên nền chuồng bò cũ, chị sửa sang lại theo đúng quy chuẩn rồi phủ đệm lót lên. Theo chị Thu, 2 con bò của gia đình chị trước đây không thích ở trong chuồng vì nền ẩm ướt, nhưng bây giờ, trời chập choạng tối không cần người “lùa” về, bò cũng tự vào chuồng. Đặc biệt, công tác vệ sinh chuồng giảm được khoảng 70%, mùi hôi thối dù còn cũng không đáng kể. “Trước đây, ngày nào tôi cũng phải dọn chuồng bò nhưng nay một tuần tôi đảo phân một lần. Lớp phân sau khi náo đảo được dùng bón cho cây ăn quả, lúa và các loại cỏ rất hiệu quả”, chị Thu khẳng định. Được biết, tại xã Cẩm Quan đã có 5 hộ thực hiện mô hình. Hội Phụ nữ xã đang tiếp tục vận động người dân tham gia, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chăn nuôi nông hộ. Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Cẩm Quan Trần Thị Ngọc: “Thực ra làm đệm lót sinh học chỉ mất vài trăm ngàn đồng mua gói chế phẩm Balasa và cám gạo. Còn trấu người dân có thể đi xin ở các cơ sở xay xát lúa. Đối với nền chuồng, dù không áp dụng quy trình chăn nuôi trên đệm lót sinh học người dân vẫn phải xây dựng chuồng cho bò ở nên chi phí này có thể tính hoặc không tính vào tổng mức đầu tư một mô hình chăn nuôi trên đệm lót”. THANH …

Tin mớiadmin16/05/2019
Gia súc ăn cỏ là lợi thế để thích ứng với biển đổi khí hậu
Gia súc ăn cỏ là lợi thế để thích ứng với biển đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu ngày một khốc liệt theo hướng hạn hán nên tương lai không thể đủ nước để duy trì 3,8 triệu ha đất lúa và 1,5 triệu ha ngô được. Do đó, chăn nuôi đại gia súc ăn cỏ đang là lợi thế rất lớn để tái cơ cấu ngành chăn nuôi. Biến đổi khí hậu ngày một khốc liệt theo hướng hạn hán nên tương lai không thể đủ nước để duy trì 3,8 triệu ha đất lúa và 1,5 triệu ha ngô được. Do đó, chăn nuôi đại gia súc ăn cỏ đang là lợi thế rất lớn để tái cơ cấu ngành chăn nuôi. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường phát biểu tại Hội nghị Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Phát triển gia súc ăn cỏ sáng 15/5 tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và dịch bệnh như hiện nay đòi hỏi ngành chăn nuôi phải tái cơ cấu lại căn bản theo hướng đẩy mạnh phát triển các loài gia súc ăn cỏ để phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam và cũng là xu thế chung của thế giới. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh, kể cả không xảy ra dịch tả lợn Châu Phi, ngành chăn nuôi cũng phải tái cơ cấu lại chứ hiện tỷ trọng lợn đang lớn quá gây mất cân đối, trong khi đại gia súc mới chỉ chiếm xung quanh 7%. Đặc biệt, biến đổi khí hậu ngày một khốc liệt theo hướng hạn hán nên tương lai không thể đủ nước để duy trì 3,8 triệu ha đất lúa và 1,5 triệu ha ngô được. Do đó, chăn nuôi đại gia súc ăn cỏ đang là lợi thế rất lớn để tái cơ cấu ngành chăn nuôi. Theo Bộ trưởng, so với thế giới thì hiện sản lượng tiêu thụ sữa và thịt đỏ của Việt Nam còn rất thấp khi chỉ bình quân 3 kg thịt bò và 20 lít sữa/người/năm trong khi thế giới là 9kg thị bò và 80 lít sữa/người/năm. Đặc biệt, so với cây lúa và ngô thì cỏ là loại cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu tốt nhất, khô cũng trồng được mà nước cũng trồng được. Cỏ không chỉ cung cấp nguyên liệu đầu vào cho bò sữa, bò thịt mà còn rất nhiều loài vật nuôi tiềm năng phát triển hàng hóa như hươu, nai, dê, thỏ, cừu… Chăn nuôi đại gia súc ăn cỏ đang là lợi thế rất lớn để tái cơ cấu ngành chăn nuôi Theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, hiện so với ngành khác chăn nuôi vẫn là ngành có kim ngạch xuất khẩu khiêm tốn nhất, trong khi thực tế cho thấy nếu không xuất khẩu được thì không tạo ra được động lực phát triển, không thúc đẩy được ngành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao giá trị. Vì vậy, trong đề án tái cơ cấu căn bản toàn diện ngành nông nghiệp trong tương lai Chính phủ, Bộ NN-PTNT đặt mục tiêu Việt Nam phải là quốc gia mạnh trên thế giới về nông nghiệp và chăn nuôi phải đóng vai trò chính. NGUYÊN HUÂN …

Tin mớiadmin15/05/2019
Thủ tướng dự lễ khởi công Dự án chăn nuôi bò, chế biến sữa ở Thanh Hóa
Thủ tướng dự lễ khởi công Dự án chăn nuôi bò, chế biến sữa ở Thanh Hóa

Dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung quy mô công nghiệp ở Thanh Hóa có tổng vốn 3.800 tỷ đồng, quy mô nuôi khoảng 20.000 bò sữa và nhà máy chế biến sữa tập trung công suất 300 tấn/ngày. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu thực hiện nghi thức khởi công dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung quy mô công nghiệp. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN) Chiều 8/5, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cùng lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương, địa phương và đông đảo nông dân đã tham dự Lễ khởi công “Dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung quy mô công nghiệp tại hai xã Yên Mỹ và Công Bình, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.” Đây là một trong những dự án có quy mô và tổng mức đầu tư lớn ở lĩnh vực chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam. Dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung quy mô công nghiệp tại hai xã Yên Mỹ và Công Bình, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa” do Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa Yên Mỹ (Tập đoàn TH) đầu tư, có tổng số vốn 3.800 tỷ đồng, quy mô nuôi khoảng 20.000 bò sữa và nhà máy chế biến sữa tập trung công suất 300 tấn/ngày. Dự án quy hoạch sử dụng 1.354ha đất; trong đó đất trang trại và xây dựng nhà máy chế biến sữa 165ha, đất trồng cỏ 1.189ha. Ngoài ra, Tập đoàn TH cũng phát triển vùng nguyên liệu ở các huyện Cẩm Thủy, Thọ Xuân, Thạch Thành…; liên kết cùng các huyện hỗ trợ máy thu hoạch lúa để sau thu hoạch có nguyên liệu rơm bán cho Tập đoàn nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định cung cấp cho bò sữa. Dự án được đầu tư sẽ tạo ra các sản phẩm nông nghiệp có giá trị gia tăng lớn. Ngoài ra, dự án còn tạo việc làm trực tiếp và thu nhập ổn định cho hàng ngàn lao động tham gia vào quy trình sản xuất thức ăn chăn nuôi bò, chế biến sữa, tăng thu ngân sách Nhà nước, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh, nâng cao đời sống của người chăn nuôi. Dự án này cũng áp dụng công nghệ tiên tiến cho quy trình xử lý chất thải, khí thải; tăng cường diện tích cây xanh trong khuôn viên nhà máy và trang trại để giảm thiểu tác động đến môi trường. [Thủ tướng dự ký kết phát triển thị trường sữa Việt Nam ở Trung Quốc] Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Đình Xứng đề nghị: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Ban Quản lý Khu Kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp, Huyện ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân các huyện: Nông Cống, Như Thanh, Như Xuân và cấp ủy, chính quyền, đoàn thể nhân dân các xã trong vùng dự án đồng hành, phối hợp với chủ đầu tư là Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa Yên Mỹ và nhà thầu với trách nhiệm cao nhất để giải quyết kịp thời khó khăn vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính trong quá trình thực hiện dự án. Trước mắt, các cơ quan, đơn vị có liên quan cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề về cấp điện, nước, đảm bảo an ninh, trật tự, thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư và điều kiện cần thiết khác để chủ đầu tư, nhà thầu triển khai dự án đúng tiến độ, sớm hoàn thành, đưa dự án vào hoạt động. Đối với chủ đầu tư, cần tập trung huy động nguồn lực, triển khai đồng bộ các giải pháp kinh tế, kỹ thuật, đặc biệt là đảm bảo vệ sinh, môi trường để dự án phát triển bền vững. Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường xác định, lễ khởi công “Dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung quy mô công nghiệp tại hai xã Yên Mỹ và Công Bình, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa” là một trong những sự kiện quan trọng trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp, bởi thị phần của trường sữa tại Việt Nam còn rất lớn. các cơ sở chế biến mới đáp ứng 50% nhu cầu sữa cho gần 100 triệu người. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng biểu dương tỉnh Thanh Hóa trong việc thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Cùng với đó, Bộ trưởng đề nghị Tập đoàn TH đồng hành cùng người dân, chính quyền địa phương sản xuất ra dòng sữa sạch không chỉ cung cấp cho người dân Việt Nam mà còn xuất khẩu ra thế giới. Bộ trưởng cho biết, sau khi hoàn thành, cùng với các dự án chăn nuôi bò sữa của một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thì dự án này sẽ nâng tổng đàn bò sữa công nghiệp tập trung tại tỉnh Thanh Hóa lên trên 42.000 con, sản lượng sữa dự kiến cung cấp 166.000 tấn/năm. Đây cũng là dự án của ngành nông nghiệp được chọn khởi công chào mừng kỷ niệm 990 năm danh xưng Thanh Hóa. Cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân đã đến thăm Bệnh viện Ung bướu Thanh Hóa./. Trịnh Duy Hưng …

Tin mớiadmin09/05/2019
Dự thảo Nghị định hướng dẫn chi tiết và biện pháp thi hành Luật Chăn nuôi

Thông báoadmin09/05/2019
Thiếu hụt thịt lợn thế giới không thể bù đắp
Thiếu hụt thịt lợn thế giới không thể bù đắp

Công ty dịch vụ tài chính Rabobank ước tính Trung Quốc có thể phải tiêu hủy tới 200 triệu con lợn và “cả thế giới gộp lại” cũng không đủ để bù đắp nguy cơ thiếu hụt này. SCMP dẫn lời Đường Khoa, trưởng phòng thông tin kinh tế và thị trường, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, cho biết giá thịt lợn đã tăng mạnh trong tháng 3 và có thể tăng thêm tới 70% trong nửa cuối năm nay. Giá thịt lợn bán buôn trung bình trong tháng 3 tăng 6,3% so với tháng 2, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2018. Người tiêu dùng Trung Quốc tranh mua thịt lợn Trong khi đó, quy mô đàn đang giảm, số lượng lợn tại các trang trại trong tháng 3 thấp hơn 18,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Con số này đối với lợn nái là giảm 21%. Nếu không được kiểm soát, ASF sẽ hủy hoại ngành chăn nuôi, giảm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc. CPI tháng 3 Trung Quốc tăng 2,3% và vẫn dưới mục tiêu 3% của chính phủ nước này. “Giá thịt lợn sẽ là nguyên nhân chính làm tăng CPI trong năm nay”, Lục Đình, chuyên gia kinh tế về Trung Quốc tại Viện nghiên cứu kinh tế Nomura, Nhật Bản, nhận định. Nguồn cung trong nước giảm, Trung Quốc buộc phải nhập khẩu thêm thịt lợn từ bên ngoài. Trong hai tháng đầu năm, khối lượng thịt lợn nhập khẩu đã tăng 10% lên 207.000 tấn, theo Bộ Nông nghiệp Trung Quốc. Giá thịt lợn nhảy vọt “Một phần thịt lợn thường tới Mỹ giờ lại chuyển hướng sang Trung Quốc bởi họ trả giá cao hơn”, Jens Munk Ebbesen, giám đốc an toàn thực phẩm và các vấn đề thú y tại Hội đồng Lương thực và Nông nghiệp Đan Mạch, cho biết. ASF đang để lại những hệ quả nhất định, từ đẩy giá thực phẩm cho đến tăng nhu cầu sử dụng các loại thịt khác như gà và bò. Sản lượng thịt lợn tại Trung Quốc có thể giảm 30% trong năm nay, theo Rabobank International. Tình trạng dư cầu sẽ có lợi cho nông dân, những người có thể bán lợn với giá cao hơn. Các nhà sản xuất có thể tăng quy mô chăn nuôi nhưng quy trình này cần có thời gian. “Đây là một thời khắc tốt cho các nhà sản xuất”, Didier Delzescaux, giám đốc hội đồng thịt lợn Pháp Inaporc, nói. Tuy nhiên, 80% các trang trại lợn ở Trung Quốc lại chọn không tái đàn bởi ASF vẫn còn hoành hành. “Chưa bao giờ có sự hoảng loạn như vậy trong các trang trại”, Vương Quân Tấn, phó phòng chăn nuôi và dịch vụ thú y, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, cho biết. “Nếu niềm tin không phục hồi, người tiêu dùng sẽ chịu thiệt”. Ông Vương cảnh báo giá thịt lợn có thể tăng hơn nữa trong năm 2020. Người Trung Quốc thích thịt lợn, chiếm 60% lượng thịt tiêu thụ. Chính “đam mê” này đang gây áp lực lên nhà chức trách trong việc đảm bảo đủ nguồn cung. Nguồn cung nội địa giảm 10%, Trung Quốc sẽ phải nhập thêm hơn 2 triệu tấn thịt lợn, Chu Tăng Dũng, nhà nghiên cứu tại Học viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc, cho biết. Lượng thịt lợn thương mại hàng năm của thế giới là khoảng 9 triệu tấn, chỉ bằng 2 tháng tiêu thụ của Trung Quốc. Về sản phẩm thay thế, ngành chăn nuôi gia cầm cũng đang bị hạn chế mở rộng. Sản lượng thịt gà có thể tăng 2,4% trong năm nay nhưng sức tiêu thụ có thể tăng 2,6%. VĂN …

Tin mớiadmin08/05/2019
Đưa Sơn La trở thành trung tâm của ngành sữa
Đưa Sơn La trở thành trung tâm của ngành sữa

Đánh giá cao sự thành công trong SX, xem đây là hình mẫu điển hình về liên kết SX của ngành bò sữa cả nước, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường cho rằng, trong tương lai, Sơn La hoàn toàn có khả năng để trở thành một trung tâm lớn của ngành sữa cả nước. Từ ngày 5/5, đoàn công tác của Bộ NN-PTNT do Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường dẫn đầu đã bắt đầu chuyến công tác và làm việc tại tỉnh Sơn La về một số chương trình phát triển nông nghiệp trọng điểm của tỉnh Sơn La như phát triển chăn nuôi bò sữa, phát triển cây ăn quả… Trong ngày 5/5, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cùng lãnh đạo UBND tỉnh Sơn La đã thăm và làm việc với Cty CP Bò sữa Mộc Châu. Bước tiến vững chắc thông qua liên kết SX Theo Cty CP Bò sữa Mộc Châu, với định hướng trọng tâm là liên kết chuỗi khép kín giữa các hộ chăn nuôi với Cty và các đơn vị chăn nuôi lớn, quy mô hiện đại, gắn với chế biến và tổ chức tiêu thụ sản phẩm chế biến, giai đoạn 2010-2018, Cty CP Bò sữa Mộc Châu đã thể hiện được sự phát triển một cách bền vững trên nhiều mặt, cả về tổ chức chăn nuôi, mở rộng quy mô đàn bò, nâng cao sản lượng và năng suất sữa, mở rộng và hiện đại hóa chế biến, tổ chức thị trường tiêu thụ… Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường làm việc với UBND tỉnh Sơn La và Cty CP Bò sữa Mộc Châu Cụ thể, tổng đàn bò sữa của Cty từ khoảng 8.000 con năm 2010, đã tăng lên trên 25 nghìn con vào cuối năm 2018, đưa quy mô đàn bò/hộ từ mức bình quân chỉ 15 con/hộ lên mức trên 41 con/hộ. Nhờ áp dụng nhiều giải pháp tổng hợp vào chăn nuôi, nhất là cây ngô ủ ướp tăng sản lượng từ mức chỉ 37 nghìn tấn vào năm 2010 lên mức 176 nghìn tấn vào năm 2018, vì vậy năng suất sữa bình quân của đàn bò đã tăng bình quân từ 18 lít/con/ngày lên hơn 25 lít/con/ngày. Doanh thu của Cty giai đoạn 2010-2018 đã tăng hơn gấp 2 lần, từ 1.200 tỉ đồng lên trên 1.500 tỉ đồng. Tiền lương bình quân của Cty theo đó cũng được nâng lên từ 4,5 triệu đồng/người/tháng lên trên 8,5 triệu đồng/tháng. Bên cạnh đó, mức lợi tức hàng năm chi trả cho các cổ đông luôn đạt trên 20%… Đây là mức cổ tức đáng mơ ước đối với một DN trong ngành nông nghiệp hiện nay. Đến nay, nhờ sử dụng tinh phân định giới tính, tỉ lệ bò cái chửa đạt trên 56%, trong đó tỉ lệ bê cái đã được nâng lên tới trên 87%. Hiện Cty có 560 hộ chăn nuôi trực tiếp liên kết, trong đó 100% các hộ đã có máy vắt sữa. Cùng với sự nâng cấp đồng bộ cả về hạ tầng chăn nuôi, chuồng trại cho các hộ liên kết, Cty đã đầu tư 3 trại chăn nuôi tập trung công nghệ cao theo tiêu chuẩn Châu Âu với quy mô từ 500 đến 1.000 con/trại, đồng thời cũng đã xây dựng được cơ sở chăn nuôi bò sữa đạt tiêu chuẩn an toàn dịch bệnh đối với bệnh LMLM… Về chế biến, thời gian qua, Cty cũng đã đầu tư, cải tiến hàng loạt dây chuyền chế biến sữa hiện đại theo công nghệ Châu Âu, SX ra trên 30 sản phẩm sữa các loại. Từ năm 2010 đến 2018, Cty đã tiếp tục mở rộng quy mô SX, tăng thêm hơn 1.000 lao động (trong tổng số khoảng 2.600 lao động hiện tại), trong đó tạo việc làm cho nhiều lao động là đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn, gắn với việc phát triển thêm hàng trăm trang rại vệ tinh. Bên cạnh đó, nhờ phát triển vùng nguyên liệu cho bò sữa, năm 2018, Cty đã mua của nông dân tổng cộng trên 176 nghìn tấn ngô thức ăn chăn nuôi cho nông dân với trị giá trên 300 tỉ đồng… Bò sữa Sơn La chưa tương xứng với tiềm năng Tại buổi làm việc với Cty CP Bò sữa Mộc Châu, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh: Trước đây, Việt Nam từng được đánh giá là quốc gia không có điều kiện về chăn nuôi bò sữa. Tuy nhiên những bước tiến dài của ngành sữa Việt Nam trong những năm qua đã chứng minh chúng ta hoàn toàn có thể trở thành một cường quốc về ngành sữa, ít nhất là trong khu vực, trong đó, mô hình phát triển bò sữa của Mộc Châu (Sơn La) là một điển hình cho tiềm năng này. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường (thứ hai bên trái sang) cùng đoàn công tác thăm dây chuyền chế biến sữa tại Cty CP Bò sữa Mộc Châu Theo Bộ trưởng, hiện nay, với quy mô đàn bò sữa cả nước trên 290 nghìn còn, sản lượng sữa trên 1 triệu tấn/năm, mức tăng trưởng hàng năm đạt trên 15%, Việt Nam đã và đang trở thành quốc gia hàng đầu khu vực về ngành sữa. Vừa qua, với việc Trung Quốc đã chính thức cho phép NK chính ngạch sữa và các sản phẩm sữa, cơ hội và dư địa cho ngành sữa Việt Nam sẽ còn rất lớn, trong đó tỉnh Sơn La hoàn toàn có thể trở thành một trung tâm lớn của ngành sữa cả nước. Bộ trưởng đánh giá: Mặc dù chương trình phát triển bò sữa của Mộc Châu trong chặng đường dài, đã tạo được những thành công và sự phát triển bền vững, là định hướng rất đúng và trúng, và là hình mẫu cho liên kết SX khép kín theo chuỗi, từ nông dân với nhà máy, giữa chế biến tới tổ chức thị trường, phân phối… Tuy nhiên, năng suất sữa bình quân của đàn bò Mộc Châu hiện nay vẫn còn ở mức thấp so với một số DN khác trong cả nước. Theo chiến lược của Cty CP Bò sữa Mộc Châu đến năm 2020, tổng đàn bò đạt từ 30-32 nghìn con, đến năm 2030 đạt 70 nghìn con. Theo Bộ trưởng, định hướng này vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh Sơn La vốn đang có rất nhiều dư địa. Lãnh đạo Cty CP Bò sữa Mộc Châu giới thiệu dây chuyền chế biến sữa với Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường (bìa phải) Bộ trưởng đề nghị UBND tỉnh Sơn La, phối hợp với Cty CP Bò sữa Mộc Châu, cần phải có chiến lược, đề án có tầm vóc đủ lớn, để Sơn La trong tương lai phải trở thành một trung tâm lớn của ngành bò sữa cả nước, để làm sao khi nhắc đến Sơn La, là phải nhắc tới sữa. Bên cạnh đó, phát triển bò sữa cần phải trên cơ sở phát đa dạng, hài hòa, đồng bộ nhiều loại hình, từ mở rộng đàn bò, mở rộng quy mô và công nghệ chế biến lẫn thị trường, gắn với dịch vụ, du lịch… Trong đó, cần đặc biệt lưu ý để hài hòa giữa phát triển mở rộng quy mô SX nhưng vẫn phải đảm đảm yếu tố môi trường. Theo đó thời gian tới, Bộ NN-PTNT cùng với một số DN, sẽ phối hợp với Sơn La để nghiên cứu, đẩy mạnh việc SX phân bón hữu cơ tận dụng chất thải trong chăn nuôi bò sữa nhằm đảm bảo môi trường, nhất là môi trường phục vụ du lịch. Đây cũng là kênh nhằm quay vòng khép kín theo hướng SX hữu cơ cho trồng trọt tại địa phương, đồng thời gia tăng nguồn thu cho chăn nuôi bò sữa. “Phát triển bò sữa tại Sơn La, cần phải gắn với việc đẩy mạnh một cách tổng thể nguyên tắc tuần hoàn, gắn với nông nghiệp hữu cơ bền vững. Bên cạnh đó, Cty CP Bò sữa Mộc Châu cần phải tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu SX giống, để trở thành trung tâm về giống, trung tâm về đào tạo, chuyển giao KH-CN có tầm vóc, gắn với hoạt động du lịch”- Bộ trưởng nhấn mạnh. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường gợi ý tỉnh Sơn La nói chung, Cty Bò sữa Mộc Châu nói riêng cần sớm nghiên cứu, tổng kết thêm về chính sách bảo hiểm cho bò sữa đã triển khai. Đồng thời, phối hợp với Bộ NN-PTNT để nghiên cứu SX một số mặt hàng mới như trồng nấm công nghệ cao của Nhật Bản trên cơ sở tận dụng nguồn phế thải của thức ăn xanh và chất thải trong chăn nuôi bò sữa. Nghiên cứu mở rộng, đa dạng hóa cuộc thi Hoa hậu Bò sữa hàng năm thành Ngày hội sữa, trên cơ sở kết hợp thêm đa dạng nhiều hoạt động văn hóa, du lịch, hoạt động tôn vinh điển hình trong SX sữa, các dịch vụ gắn với chăn nuôi, chế biến, ẩm thực về sữa… Về cơ hội XK sữa và sản phẩm sữa sang thị trường Trung Quốc, Bộ trưởng yêu cầu các đơn vị của Bộ NN-PTNT, do Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản chủ trì, thời gian tới nhanh chóng phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai tập huấn, phổ biến cụ thể, chi tiết các thủ tục cần thiết, giới thiệu các bạn hàng để Cty CP Bò sữa Mộc Châu tiếp cận, sớm đưa sản phẩm XK sang thị trường này nếu có điều kiện và mong muốn. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cùng đoàn công tác thăm và trao đổi về mô hình liên kết trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu (Sơn …

Tin mớiadmin06/05/2019
Đẩy mạnh chăn nuôi gia cầm
Đẩy mạnh chăn nuôi gia cầm

(Chinhphu.vn) – Tổng sản lượng thịt đạt đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và dành một phần cho xuất khẩu. Đặc biệt chăn nuôi gia cầm đã bước đầu tạo được hệ sinh thái từ giống cho đến quy trình chăn nuôi, phân khúc chăn nuôi… phù hợp với các tiểu vùng sinh thái. Ngày 12/4, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức Hôi nghị “Thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu sản phẩm gia cầm” với sự tham gia của 32 địa phương có tổng đàn gia cầm lớn và các doanh nghiệp trong lĩnh vực chăn nuôi, chế biến xuất khẩu. Ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, những năm qua chăn nuôi gia cầm đã có những bước phát triển nhảy vọt. Từ chăn nuôi phân tán, quy mô nhỏ, tự phát, dần dần chuyển thành chăn nuôi tập trung với quy mô lớn hơn; năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng tăng, cho lợi nhuận ngày càng nhiều; số đầu gia cầm tăng bình quân mỗi năm trên 6%; sản lượng thịt hơi của gia cầm đạt trên 1 triệu tấn, trứng đạt trên 11 tỷ quả. Việt Nam hiện đã xuất khẩu giống gia cầm đạt từ 1,25-1,5 triệu con. Đối với sản phẩm gia cầm đã qua chế biến xuất khẩu (trứng vịt muối) duy trì mỗi năm khoảng từ 10-15 triệu quả. Thịt gà qua chế biến bắt đầu xuất khẩu từ tháng 9/2017, năm 2018 đạt gần 8.000 tấn. Ngoài ra, còn xuất khẩu trứng chim cút đóng hộp, gà ác tiềm, lòng đỏ trứng vịt muối, trứng vịt muối luộc và bột trứng. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi gia cầm vẫn còn những bất cập như chưa có hệ thống đồng bộ quản lý nhà nước về giống vật nuôi từ Trung ương đến địa phương. Năng suất chất lượng con giống trong sản xuất chăn nuôi hiện nay còn hạn chế. Chất lượng giống của một số cơ sở giống không đảm bảo chất lượng. Các khâu trong sản xuất còn thiếu tính liên kết, chưa gắn sản xuất với giết mổ, chế biến với thị trường… Ông Nguyễn Quốc Toản, quyền Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản cho biết, với dân số gần 100 triệu người và nền kinh tế tăng trưởng ổn định, Việt Nam là thị trường vô cùng tiềm năng của ngành chăn nuôi gia cầm. So với các nước trong khu vực, Việt Nam tiêu thụ thịt gà ở mức chưa nhiều và còn có xu hướng tăng cao. So với các nước trong khu vực và thế giới, sản lượng tiêu thụ trứng gà của người dân Việt Nam còn rất thấp, chỉ ở mức 110-120 quả/người/năm. Trong khi đó, ở các nước láng giềng như Thái Lan hay Indonesia, sản lượng này ở mức từ 250-340 quả/người/năm. Đối với thị trường thế giới, dựa trên lợi thế so sánh về ưu thế sản xuất, lợi thế về thương mại (có Hiệp định thương mại tự do, cự ly vận chuyển gần…) ngành thịt gia cầm của Việt Nam có thể xác định các thị trường quốc tế mục tiêu là: Nhật Bản, Trung Quốc, Philippines. Bên cạnh đó, các thị trường tiềm năng là: Saudi Arabia, Nam Phi, UAE. Đối với sản phẩm trứng gia cầm, cần tập trung cho thị trường truyền thống là các nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Do đó, ông Toản cho rằng, cần chia phân khúc khi xác định thị trường mục tiêu cho sản xuất và kinh doanh sản phẩm gia cầm. Cụ thể, gia cầm ngoài gà (vịt, ngan, ngỗng) là nhóm sản phẩm chưa bị cạnh tranh bởi hàng nhập khẩu, gà lông màu là thế mạnh của sản xuất trong nước. Đối với phân khúc còn lại, cần phân loại sản phẩm để hướng tới các đối tượng tiêu dùng khác nhau. Cụ thể, các sản phẩm như: ức gà, lườn gà hướng tới xuất khẩu vì người tiêu dùng các nước ưa chuộng nên có giá cả rất cao; thịt đùi, cánh gà hướng tới người tiêu dùng trong nước). Bên cạnh đó, cần đầu tư nhiều hơn các nhà máy sản xuất và chế biến gia cầm theo tiêu chuẩn 3F (FEED – FARM – FOOD)… Đối với thị trường quốc tế, trước mắt phát triển các sản phẩm chế biến nhằm tránh các rào cản đối với các quốc gia có hàng rào kiểm dịch và an toàn vệ sinh thực phẩm cao như: trứng muối, thịt gà, thịt vịt đã qua chế biến nhiệt. Đồng thời, cần đầu tư nghiên cứu sâu nhằm gắn sản xuất với nhu cầu và yêu cầu của từng thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đã có sản phẩm gia cầm xuất khẩu đi các thị trường trên thế giới mở rộng quy mô sản xuất, phát triển các sản phẩm. Cũng như, tiếp tục mở thị trường và xuất khẩu sản phẩm gia cầm vào các thị trường tiềm năng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippines… Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho rằng: “Dư địa phát triển ngành chăn nuôi gia cầm còn tốt và cần phải tập trung thúc đẩy. Nhưng để đảm bảo hiệu quả bền vững thì cần phải chú tất cả các khâu trong chuỗi liên kết từ con giống, quy trình, tổ chức sản xuất, kiểm soát dịch bệnh, và tổ chức thị trường… làm sao để khai thác tốt lợi thế của ngành hàng gia cầm nói riêng và chăn nuôi nói chung”. Theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đạt được những thành tựu to lớn. Cụ thể, tổng sản lượng thịt đạt trên 5 triệu tấn, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và dành một phần cho xuất khẩu. “Chủ trương của Bộ tới đây là tiếp tục thúc đẩy phát triển ngành hàng chăn nuôi gia cầm, bởi ngành hàng này còn rất nhiều dư địa. Trong tổng số hơn 5 triệu tấn thịt các loại thì gia cầm chiếm khoảng 2% sản lượng; trong khi đó, bình quân tiêu dùng người Việt Nam so với thế giới đang ở mức thấp hơn. Do đó, xác định nhu cầu này có thể tăng lên được”, Bộ trưởng nói. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng đưa ra các giải pháp cho ngành chăn nuôi gia cầm như: trước mắt, đề nghị các địa phương phải kiểm soát thật chặt chẽ, kể cả trong các chuỗi chăn nuôi. Dứt khoát là con giống phải quản lý được, chất lượng tốt cho từng phân khúc, kể cả là nhu cầu thịt, trứng… Bên cạnh đó, quy trình chăn nuôi phải kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt đảm bảo an toàn về thú y. Một giải pháp nữa là tổ chức tốt khâu chế biến. Hai năm gần đây, nhiều doanh nghiệp lớn đã cùng với bà con nông dân các địa phương xây dựng được nhiều nhà máy chế biến có công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, so với tổng sản lượng thịt, so với yêu cầu, so với tổ chức thị trường theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, so với xuất khẩu thì số nhà máy chế biến đó là chưa đủ. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng lưu ý các nhà quản lý, doanh nghiệp cần cần chú ý hơn nữa về 2 thị trường (trong nước và xuất khẩu). Đặc biệt, gần đây thông qua nhóm tổ hợp của Tập đoàn Hùng Nhơn, De Heus đã xuất khẩu được sản phẩm thịt gà sang Nhật Bản. Trong năm 2019 sẽ có thêm một số doanh nghiệp nữa như Công ty cổ phần chăn nuôi CP tham gia xuất khẩu sản phẩm gia cầm. Đồng thời, phải coi trọng thị trường trong nước với gần 100 triệu dân. Đỗ Hương …

Tin mớiadmin22/04/2019
Việt Nam - Rumani ký Ghi nhớ Hợp tác nông nghiệp, thú y và an toàn thực phẩm
Việt Nam – Rumani ký Ghi nhớ Hợp tác nông nghiệp, thú y và an toàn thực phẩm

Hai bên cam kết tăng cường hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực nông nghiệp, thú y và an toàn thực phẩm, tập trung vào kỹ thuật canh tác, trồng trọt, chăn nuôi, kiểm dịch động thực vật, bảo đảm an toàn và chất lượng thực phẩm, đào tạo và nghiên cứu. Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Rumani của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc từ ngày 14 – 16/4, ngày 15/4, tại Phủ Thủ tướng Rumani, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường và ngài Petre Dachau, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Rumani đã ký kết Bản ghi nhớ về Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, thú y và an toàn thực phẩm. Lễ ký có sự chứng kiến của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Rumani Viorica Dancila. Hai bên cam kết tăng cường hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực nông nghiệp, thú y và an toàn thực phẩm, tập trung vào kỹ thuật canh tác, trồng trọt, chăn nuôi, kiểm dịch động thực vật, bảo đảm an toàn và chất lượng thực phẩm, đào tạo và nghiên cứu. Hai bên cũng sẽ tăng cường giao lưu, trao đổi đoàn, tìm hiểu lẫn nhau nhằm thúc đẩy trao đổi thương mại các sản phẩm nông nghiệp có thế mạnh của mỗi nước cũng như hợp tác đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần đẩy mạnh quan hệ hợp tác song phương lên một tầm cao mới. …

Tin mớiadmin16/04/2019
Việt Nam - Hà Lan hợp tác chuyển đổi nông nghiệp
Việt Nam – Hà Lan hợp tác chuyển đổi nông nghiệp

Nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam ngày 9-4 của Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte, chính phủ hai nước đã ký kết bản ghi nhớ về hợp tác chuyển đổi nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Theo bản ghi nhớ này, Việt Nam sẽ sử dụng kiến thức và năng lực chuyên ngành hàng đầu của các trường đại học, đặc biệt là Đại học Wageningen, của Hà Lan để tiến hành hỗ trợ kỹ thuật có chất lượng cao và khởi động một số dự án phát triển chuỗi giá trị. Hai bên nhấn mạnh mối liên hệ giữa nguồn nước, chất lượng nước, chuyển đổi nông nghiệp và hoan nghênh sự hợp tác trên cơ sở hai thỏa thuận đối tác chiến lược ngành giữa Việt Nam và Hà Lan để đối phó với thách thức này. Hà Lan ủng hộ sớm ký EVFTA Chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Mark Rutte diễn ra đúng ngày hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cách đây 46 năm (9-4-1973 – 9-4-2019). Trong cuộc hội đàm với Thủ tướng Mark Rutte cùng ngày tại Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định Việt Nam luôn coi trọng và tăng cường quan hệ với Hà Lan. Về phần mình, Thủ tướng Mark Rutte khẳng định Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp Hà Lan mong muốn tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, thể hiện qua sự tham dự của hơn 70 doanh nghiệp hàng đầu của Hà Lan tới Việt Nam lần này. Theo tin từ Bộ Ngoại giao Việt Nam, tại cuộc hội đàm, hai thủ tướng đánh giá quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Hà Lan phát triển tích cực, hiệu quả và năng động trên tất cả các lĩnh vực. Lãnh đạo chính phủ hai nước nhất trí nâng cấp quan hệ Việt Nam – Hà Lan lên đối tác toàn diện nhằm khai thác tốt các tiềm năng hợp tác, đưa quan hệ hai nước phát triển sâu rộng và năng động trên tất cả các mặt trong thời gian tới. Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao việc Việt Nam và Hà Lan đã trở thành đối tác quan trọng của nhau, khi Hà Lan là đối tác thương mại châu Âu lớn thứ hai của Việt Nam (kim ngạch hai chiều năm 2018 đạt 7,8 tỉ USD) và là nhà đầu tư châu Âu lớn nhất tại Việt Nam hiện nay (tổng số vốn FDI đăng ký đạt 9,55 tỉ USD). Thủ tướng hai bên cũng khẳng định còn nhiều tiềm năng phát triển hợp tác, nhấn mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hai nước tăng cường hợp tác, nhất là trong các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, kinh tế biển, phát triển kinh tế tuần hoàn, quy hoạch và xây dựng thành phố thông minh… Hai thủ tướng đã nhất trí tầm quan trọng của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp đinh đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA), đáp ứng lợi ích của tất cả các bên. Thủ tướng Mark Rutte khẳng định ủng hộ việc sớm ký và phê chuẩn các hiệp định nói trên, góp phần thúc đẩy đầu tư, kinh doanh tại thị trường của nhau và tự do thương mại quốc tế giữa Việt Nam với các nước thành viên EU, trong đó có các doanh nghiệp Hà Lan. Đẩy mạnh hợp tác nông nghiệp Hiện quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước về thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý nước, quan hệ đối tác về nông nghiệp bền vững và an ninh lương thực đang đi vào giai đoạn triển khai các chương trình, dự án cụ thể. Tại cuộc gặp, hai thủ tướng coi đây tiếp tục là những trọng tâm hợp tác của hai nước trong thời gian tới. Theo tuyên bố chung ký cùng ngày, hai nước nhất trí triển khai các chương trình hợp tác trên cơ sở các ưu tiên và thế mạnh của hai nước, trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, quản lý an toàn thực phẩm, nông nghiệp thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu, chất lượng nước…, trong đó có hợp tác phát triển các vùng nông nghiệp thông minh và hoàn thiện các chuỗi giá trị sản phẩm, ngành hàng nông nghiệp Việt Nam, chú trọng việc chuyển giao, hỗ trợ công nghệ từ các đối tác Hà Lan nhằm tăng cường cơ hội hợp tác kinh doanh. Nông nghiệp bền vững và tuần hoàn nằm trong các chương trình hợp tác của hai bên. Trong khuôn khổ chuyến thăm, Thủ tướng Mark Rutte đã hội kiến Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân. Tối cùng ngày, Thủ tướng Mark Rutte tham dự chương trình trình diễn thời trang bền vững do UBND thành phố Hà Nội và Đại sứ quán Hà Lan đồng tổ chức tại vườn hoa Lý Thái Tổ, trước khi lên đường về nước. DIỆU AN (Tuổi trẻ …

Tin mớiadmin10/04/2019
Hòa Bình thành tỉnh đầu tiên công bố hết dịch tả lợn châu Phi
Hòa Bình thành tỉnh đầu tiên công bố hết dịch tả lợn châu Phi

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến cho biết tỉnh Hòa Bình đến thời điểm này, qua kiểm tra, theo dõi đã đủ điều kiện hoàn tất để công bố hết dịch tả lợn châu Phi. Ngày 9/4, Ủy ban Nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình tổ chức Hội nghị công bố hết dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn tỉnh. Trong tổng số 23 tỉnh, thành phố trên toàn quốc xảy ra dịch tả lợn châu Phi, Hòa Bình là tỉnh đầu tiên công bố hết dịch tả lợn châu Phi. Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến nêu rõ, theo quy định sau 30 ngày, kể từ khi tiêu hủy động vật cuối cùng mắc bệnh và không phát hiện thêm dịch bệnh, thì đủ điều kiện để công bố hết dịch. Tỉnh Hòa Bình đến thời điểm này, qua kiểm tra, theo dõi đã đủ điều kiện hoàn tất để công bố hết dịch tả lợn châu Phi. [Toàn cảnh nỗ lực phòng chống dịch tả lợn châu Phi của Việt Nam] Dịch tả lợn châu Phi nhanh chóng được khống chế là sự chỉ đạo kịp thời từ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng các bộ, ngành liên quan khác. “Ngay khi sớm phát hiện dịch bệnh, các cơ quan chức năng đã khẩn trương triển khai xử lý ngay, xử lý triệt để, xử lý đồng bộ theo những hướng dẫn và sự chỉ đạo từ các văn bản, đặc biệt là Chỉ thị 04 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản khác, tổ chức tốt các chốt phòng dịch. Đây là bài học tiêu biểu điển hình cần được nhân rộng trong ứng phó, dập dịch tả lợn châu Phi, cũng như các dịch bệnh khác,” Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khẳng định. Không chủ quan với dịch tả lợn châu Phi có thể tái phát, Trưởng phòng chăn nuôi, Chi cục Thú y tỉnh Hòa Bình, ông Nguyễn Văn Tuấn cho biết, trong thời gian tới, các cơ quan chức năng tỉnh Hòa Bình vẫn tiếp tục duy trì và chủ động phòng chống dịch bệnh. Khi chính quyền địa phương phát hiện có hiện tượng lợn ốm, chết đột xuất, khả nghi có dịch bệnh tả lợn châu Phi thì phải báo cáo ngay Chi cục Thú y tỉnh Hòa Bình để lấy mẫu xét nghiệm, sớm xử lý triệt để nếu như có ổ dịch phát sinh. Trước đó, ngày 6/3/2019, Ủy ban Nhân dân huyện Lương Sơn (Hòa Bình) đã công bố bệnh dịch tả lợn châu Phi đầu tiên trên địa bàn tại xã Hợp Thanh, sau đó là xã Thanh Lương. Ngay khi phát hiện ổ dịch, các cơ quan chức năng tỉnh Hòa Bình đã khẩn trương tiến hành tiêu hủy toàn bộ đàn lợn tại các hộ có lợn ốm, chết ở 2 xã trong vòng 24 giờ kể từ khi có kết quả xét nghiệm khẳng định dương tính với bệnh dịch tả lợn châu Phi theo đúng quy định tiêu hủy. Tỉnh đã tổ chức khoanh vùng dịch, vùng có nguy cơ lây bệnh, đồng thời kiểm tra chặt chẽ, không để người dân vận chuyện lợn và các sản phẩm lợn ra vào vùng dịch; dừng phương tiện giao thông thực hiện việc vệ sinh, khử trùng tiêu độc các phương tiện đi từ vùng dịch ra ngoài; tổ chức kiểm soát chặt chẽ việc giết mổ lợn, tiêu thụ lợn, sản phẩm thịt lợn dưới sự giám sát của chính quyền địa phương… Dự kiến, ngày 10/4, tỉnh Bắc Kạn sẽ là tỉnh thứ hai công bố hết dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn./. Thanh Hải …

Tin mớiadmin09/04/2019
Giá heo tại Bình Định đã lên 44.000 đồng/kg
Giá heo tại Bình Định đã lên 44.000 đồng/kg

Hiện các thương lái đang mua heo hơi siêu nạc tại các trang trại tại Bình Định với giá từ 43.000 – 44.000 đồng/kg; heo nuôi tại các gia trại được mua với giá từ 39.000 – 40.000 đồng/kg,cao hơn 10 giá so với tuần trước. Hiện nay, mỗi ngày người chăn nuôi ở Hoài Ân xuất bán đi khắp các thị trường khoảng từ 1.100 – 1.200 con heo thịt Sáng 9/4, ông Nguyễn Thanh Vương, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện Hoài Ân (Bình Định), cho biết, những ngày gần đây giá heo hơi trên địa bàn đã tăng trở lại, lượng heo xuất bán cũng nhiều hơn, người chăn nuôi ở địa phương rất phấn khởi. Hiện các thương lái đang mua heo hơi siêu nạc tại các trang trại với giá từ 43.000 – 44.000 đồng/kg; heo nuôi tại các gia trại được mua với giá từ 39.000 – 40.000 đồng/kg,cao hơn 10 giá so với tuần trước. Đầu ra sản phẩm cũng tương đối thuận lợi, bình quân mỗi ngày các thương lái thu mua từ 1.100 – 1.200 con heo thịt để cung cấp cho thị trường Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế… Giá heo tăng trở lại, đầu ra sản phẩm thuận lợi là điều kiện để người chăn nuôi nâng cao thu nhập, tái sản xuất và quan tâm áp dụng các biện pháp bảo vệ đàn gia súc hơn. ĐÌNH …

Tin mớiadmin09/04/2019
Công văn số 190/CN-GSN ngày 20/02/2019 về việc áp dụng biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc CỤC CHĂN NUÔI Số: 190/CN-GSN Hà Nội, ngày 20 tháng  02 năm 2019 V/v áp dụng biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi   Kính gửi: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố Trong tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh trên vật nuôi đặc biệt là dịch tả lợn Châu Phi. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về các biện pháp phòng, chống dịch trên đàn vật nuôi. Cục Chăn nuôi đề nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các cơ quan chức năng, chỉ đạo các đơn vị chuyên môn triển khai một số nội dung cụ thể sau: 1. Song song với việc phòng chống dịch bệnh theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, là việc tiếp tục duy trì, ổn định và phát triển chăn nuôi. 2. Tăng cường công tác tuyên truyền để người chăn nuôi thực hiện các biện pháp an toàn sinh học (tham khảo QCVN01-14:2010/BNNPTNT và QCVN 01-15:2010/BNNPTNT tại Thông tư số 04/2010/TT-BNNPTNT). 2. Chăn nuôi theo hướng áp dụng Quy trình thực hành chăn nuôi tốt theo Quyết định số 4653/QĐ-BNN-CN ngày 10/11/2015 và Quyết định số 2509/QĐ-BNN-CN ngày 22/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và PTNT. 3. Thường xuyên và định kỳ vệ sinh, khử trùng, tiêu độc tại các khu vực chăn nuôi, chợ, điểm buôn bán, giết mổ, kinh doanh thực phẩm và thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp cách ly khu vực chăn nuôi theo quy định của thú y; 4. Liên kết trong chăn nuôi, giết mổ, chế biến và tiêu thụ để hình thành sản xuất sản phẩm theo chuỗi có truy xuất nguồn gốc, đảm bảo an toàn thực phẩm. Cục Chăn nuôi xin tiếp nhận thông tin trên phạm vi toàn quốc, thông tin xin gửi về Cục Chăn nuôi, số 16 – Thụy Khuê – Tây Hồ – Hà Nội hoặc thư điện tử: cn@mard.gov.vn; Điện thoại: 024.37345447./.   Nơi nhận: – Như­ trên; – Bộ trưởng (để b/c); – Thứ trưởng Phùng Đức Tiến (để b/c); – Cục trưởng (để b/c); – Lưu: VT, GSN.     KT. CỤC TRƯỞNG PHÓ CỤC TRƯỞNG     (Đã ký)     Nguyễn Văn Trọng …

Công vănadmin26/02/2019
Công văn số 23/CN-VP ngày 07 tháng 01 năm 2019 về việc triển khai chính thức thủ tục miễn, giảm kiểm tra chất lượng TĂCN nhập khẩu theo Cơ chế một cửa quốc gia từ ngày 09/01/2019
Công văn số 23/CN-VP ngày 07 tháng 01 năm 2019 về việc triển khai chính thức thủ tục miễn, giảm kiểm tra chất lượng TĂCN nhập khẩu theo Cơ chế một cửa quốc gia từ ngày 09/01/2019

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CỤC CHĂN NUÔI Số: 23 /CN-VP V/v triển khai chính thức thủ tục miễn, giảm kiểm tra chất lượng TĂCN nhập khẩu theo Cơ chế một cửa quốc gia từ ngày 09/01/2019 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc   Hà Nội, ngày 07 tháng 01 năm 2019   Kính gửi: – Tổng cục Hải quan;- Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel;- Trung tâm Tin học và Thống kê Bộ NN&PTNT;- Tổ chức chứng nhận sự phù hợp chất lượng TĂCN;- Các Doanh nghiệp nhập khẩu thức ăn chăn nuôi.            Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai Quyết định số 2185/QĐ-TTg ngày 14 tháng 11 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN giai đoạn 2016 – 2020, Cục Chăn nuôi được giao thực hiện 02 thủ tục “Kiểm tra giảm chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có thời hạn”, “Miễn kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có thời hạn” theo Cơ chế một cửa quốc gia. Đến nay, Cục Chăn nuôi đã phối hợp với Tổng Cục hải quan, Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel hoàn thiện phần mềm và triển khai vận hành chính thức từ ngày 09/01/2019. Cục Chăn nuôi đề nghị Tổng Cục hải quan, Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel, Trung tâm Tin học và Thống kê Bộ NN&PTNT, các Doanh nghiệp nhập khẩu thức ăn chăn nuôi, các Tổ chức chứng nhận sự phù hợp chất lượng thức ăn chăn nuôi chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật để nộp, tiếp nhận, xử lý hồ sơ miễn, giảm kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu theo yêu cầu của hệ thống một cửa quốc gia./.   Nơi nhận: – Như trên; – Bộ trưởng (để b/c); – Thứ trưởng Hà Công Tuấn (để b/c); – Vụ TCCB (VPTTCCHC); – Cục CNTT&TK Hải quan; – Lưu: VT. Q. CỤC TRƯỞNG (Đã ký) Nguyễn Xuân …

Tin mớiadmin08/01/2019
Lãnh đạo Bộ NN-PTNT kiểm tra công tác phòng, chống rét cho gia súc tại Yên Bái
Lãnh đạo Bộ NN-PTNT kiểm tra công tác phòng, chống rét cho gia súc tại Yên Bái

Trước tình hình rét đậm, rét hại trên diện rộng ở các tỉnh phía Bắc, đoàn công tác của Bộ NN-PTNT do Thứ trưởng Phùng Đức Tiến dẫn đầu đã đi kiểm tra công tác phòng, chống rét trên đàn gia súc tại tỉnh Yên Bái. Chủ động chống rét Từ TP Yên Bái (tỉnh Yên Bái), đoàn công tác di chuyển hơn 100 km đến các xã Nậm Búng và Gia Hội (huyện Văn Chấn) trong cái lạnh cắt da cắt thịt. Nằm dưới chân đèo Khau Phạ (một trong “tứ đại đỉnh đèo” của Việt Nam), đời sống của đồng bào miền sơn cước nơi đây còn khá khó khăn. Đất đai cằn cỗi, các hộ dân tập trung phát triển đàn trâu để nâng cao sinh kế. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến (ngoài cùng bên phải) kiểm tra công tác phòng, chống rét cho đàn gia súc tại Yên Bái Tuy nhiên, trước sự khắc nghiệt của thời tiết những năm qua, tỷ lệ trâu chết vì đói, rét trong mùa đông khá cao. Ông Đặng Duy Hiển – Phó Chủ tịch UBND huyện Văn Chấn (tỉnh Yên Bái) thống kê: Đầu năm 2018, chỉ hai đợt rét đậm, rét hại kéo dài đã cướp đi sinh mạng của 154 con trâu, bò già yếu và bê, nghé mới sinh, khiến đời sống của một số hộ dân lâm vào cảnh khó khăn. Địa phương đã hỗ trợ mỗi con trâu, bò bị chết 6 triệu đồng. Còn trên địa bàn toàn tỉnh, chỉ tính riêng vụ đông xuân 2017 – 2018 đã có 1.264 con gia súc (trong đó có 831 con trâu; 181 con bò và 200 con dê) bị chết. Ông Trần Đức Lâm – Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Yên Bái thông tin: Gia súc bị thiệt hại do giá rét chủ yếu tập trung ở 3 huyện Trạm Tấu (538 con), Mù Căng Chải (397 con) và Văn Chấn. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trâu chết phần lớn là do tập quán chăn thả dông gia súc của bà con. Bên cạnh đó, người dân cũng chưa tuân thủ các nguyên tắc chống rét, chống đói, phòng bệnh cho đàn vật nuôi.   Người dân dự trữ rơm khô chống đói cho trâu Rất mừng là trong vụ đông xuân năm 2018 – 2019, đến nay tỉnh Yên Bái chưa ghi nhận trường hợp trâu, bò bị chết rét. Có được kết quả đó là do các cấp, chính quyền địa phương đã tập trung triển khai mạnh mẽ các giải pháp để bảo vệ đàn vật nuôi nhằm hạn chế tốt nhất thiệt hại do rét và dịch bệnh gây ra… Thay đổi nhận thức của người dân Thứ trưởng Phùng Đức Tiến đã đến thăm gia đình chị Lò Thị Hoà (thôn Nam Vai, xã Gia Hội). Hiện chị Hoà đang nuôi 10 con trâu. Năm ngoái, trong một đợt rét hại, 1 con trâu và 1 con nghé đã chết khiến kinh tế gia đình tổn thất lớn. Năm nay, được sự hỗ trợ (15 triệu đồng xây chuồng gia súc) của tỉnh Yên Bái, chị Hoà đã xây dựng một khu chuồng kiên cố, xung quanh được che chắn bạt, ni lông. Trước mùa đông, gia đình đã dự trữ sẵn thức ăn, không để đàn trâu bị đói.   Những ngày nhiệt độ dưới 12oC, bà con không thả trâu, bò Nhìn thấy nền chuồng vẫn bị đọng nước, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến lưu ý, phải xử lý dứt điểm để nền chuồng thật khô ráo, vì trâu có tập tính nhai lại, khi chúng ăn xong sẽ thường nằm để nhai, nếu nền chuồng ướt thì trâu sẽ bị lạnh. Bên cạnh đó, với thời tiết khắc nghiệt ở khu vực miền núi phía Bắc trong mùa đông, vào những ngày nhiệt độ xuống quá thấp, ngoài che chắn bạt (ni lông) hai lớp xung quanh, cần đốt lửa xung quanh để sưởi ấm cho đàn trâu. Bà con cũng nên rắc vôi bột quanh chuồng để tiêu diệt các nguồn lây bệnh, đồng thời bổ sung thức ăn tinh với khẩu phần cho trâu 1 – 1,5  kg/con/ngày, cho trâu uống nước ấm pha muối, bổ sung vitamin và khoáng chất thiết yếu để tăng sức đế kháng cho cơ thể. Tốt nhất là nên nấu cháo để vật nuôi dễ tiêu hoá. Đoàn cũng đến thăm gia đình bà Hà Thị Vân, có hai con trâu đang được chăm sóc. Bà Vân cho biết, khi trời chuyển lạnh, bà lập tức lùa trâu về nhốt ở chuồng. Trước đó, bà đã dự trữ một kho rơm khô để đàn trâu chống đói. Đồng thời hàng ngày đều băm cây chuối, trộn bột ngô, sắn nấu cháo cho Trâu. Tuy nhiên, Thứ trưởng Tiến lưu ý chuồng nuôi trâu của bà Vân vẫn chưa đạt tiêu chuẩn, gió vẫn bị lùa và xung quanh chuồng nuôi vẫn chưa được vệ sinh sạch sẽ, có nhiều nước đọng, phân thải. Đây là nguy cơ lây bệnh. Tại địa bàn thôn Nậm Pươi, xã Nậm Búng, mấy năm trở lại đây phong trào nuôi trâu phát triển kinh tế khá sôi động. Đi kèm với đó, công tác phòng, chống đói rét cho vật nuôi cũng được các hộ chú trọng hơn. Gia đình anh Triệu A Nhị (thôn Nậm Pươi) có 5 con trâu cái, mỗi năm có 5 con nghé được sinh ra, ông nuôi vỗ rồi bán bớt 4 con trang trải sinh hoạt, mua máy nông cụ, tích luỹ xây nhà. Con còn lại được giữ để phát triển quy mô đàn.   Nuôi trâu đang là hướng phát triển sinh kế của nhiều hộ dân ở huyện Văn Trấn   Thứ trưởng Phùng Đức Tiến đánh giá cao tỉnh Yên Bái đã có nhiều chính sách hỗ trợ người dân trong phát triển chăn nuôi (hỗ trợ 100%  vacxin tiêm phòng các bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc; 15 – 20 triệu đồng để bà con xây dựng chuồng nuôi; hỗ trợ thụ tinh nhân tạo cho trâu, bò; hỗ trợ 300.000 đồng/cây rơm cho các hộ chăn nuôi gia súc gặp khó khăn về diện tích chăn thả; tuyên truyền, phát động phong trào trồng cỏ, ngô sinh khối… Đồng thời, Thứ trưởng cũng lưu ý, tỉnh Yên Bái phải làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động các hộ dân đầu tư cơ sở vật chất phục vụ chăn nuôi. Bởi trong tổng số 42.000 hộ chăn nuôi trâu, bò trên địa bàn toàn tỉnh, vẫn còn khoảng 2.200 hộ chưa có chuồng đảm bảo chống rét (chiếm tỷ lệ 5%). Bên cạnh đó, số hộ có thức ăn dự trữ mới chỉ đạt 83%; Tổng diện tích trồng cỏ  toàn tỉnh đạt khoảng 2.700 ha, sản lượng hàng năm ước khoảng 500.000 tấn, chỉ đáp ứng được khoảng 35% thức ăn xanh cho đàn gia súc lớn. Bổ sung thức ăn tinh cho đàn trâu ngày giá rét MINH …

Tin mớiadmin02/01/2019
Cải cách hành chính thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nông nghiệp
Cải cách hành chính thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nông nghiệp

Ngày 19/12, Cổng thông tin Điện tử Chính phủ tổ chức Giao lưu trực tuyến “Cải cách hành chính – Thủ tục hành chính: Thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nông nghiệp” Thực hiện Nghị định số 123/2018/NĐ-CP ngày 17/9/2018 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, thời gian qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có những cải cách tích cực, quyết liệt nhằm đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí đáng kể cho cho người dân và doanh nghiệp. Năm 2018, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thực hiện cắt giảm 173/345 điều kiện (đạt tỷ lệ 50%). Bộ cũng đã cắt giảm, đơn giản hóa hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành từ 7.698 dòng hàng xuống còn 1.768 dòng hàng (tỷ lệ cắt giảm trên 77%). Việc cắt giảm, đơn giản hóa hàng hóa có ý nghĩa quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của người dân, doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính có liên quan tới nhập khẩu hàng hóa. Theo bà Nguyễn Kim Anh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc cắt giảm các điều kiện kinh doanh cũng như cắt giảm các thủ tục hành chính là một trong những công việc trọng tâm của Bộ nhiều năm gần đây. Tất cả các đơn vị liên quan đến thủ tục hành chính đều được giao thực hiện công việc này và đây là công việc thường xuyên, bắt buộc phải làm. Tất cả các thủ tục hành chính, các điều kiện cắt giảm đầu tư kinh doanh đều thể hiện trong văn bản pháp luật. Việc thực hiện cắt giảm này bắt đầu từ nhận thức của cán bộ công chức từ các cấp lãnh đạo sau đó được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật. Việc cắt giảm này có sự phản biện của xã hội, các cộng đồng doanh nghiệp để bảo đảm thực chất cũng như góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cho nông nghiệp cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia. Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Kim Anh, đây là công việc khó. Chặng đường này còn khá dài, ngành sẽ phải có sự nỗ lực hơn nữa trong duy trì và tiếp tục cải cách theo thực hiện chỉ đạo của Chính phủ. Đứng trước áp lực hội nhập, ông Nguyễn Xuân Dương, quyền Cục trưởng cục Chăn nuôi cho biết, ngành sẽ phải triệt để cải cách hành chính và áp dụng công nghệ thông tin. Sản phẩm chăn nuôi phải hướng đến xuất khẩu, vì nhu cầu trong nước đã đáp ứng đủ. Do vậy, phải thực hiện tái cơ cấu ngành chăn nuôi. Ông Dương cho biết, Quốc Hội cũng thông qua Luật Chăn nuôi trong đó quy định việc quản lý theo chuỗi, từ khâu giống đầu vào tới khâu thị trường, tổ chức theo các chuỗi liên kết, phát huy vai trò của hợp tác xã để nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm và truy suất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi. “Do vậy, cải cách hành chính sẽ tiếp tục phải được áp dụng, đồng thời thực hiện tốt Luật Chăn nuôi, kê khai chăn nuôi, áp dụng công nghệ thông tin để quản lý”, ông Nguyễn Xuân Dương nhấn mạnh. Bảo vệ thực vật là đơn vị thường xuyên làm việc với các doanh nghiệp thực hiện cấp giấy chứng nhận nhập khẩu và quá cảnh sản phẩm thực vật. Ông Nguyễn Quý Dương, Phó cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật cho biết, với trên 130.000 lô hàng/năm; trong đó trên 85% lô hàng thực hiện qua cơ chế 1 cửa quốc gia đã đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và lực lượng cán bộ. Cụ thể, về phía doanh nghiệp giảm được chi phí đi lại, công sức, về phía Cục Bảo vệ thực vật lực lượng cán bộ cũng được giảm áp lực vì số doanh nghiệp đến chi cục làm thủ tục giảm. Ông Nguyễn Quý Dương hi vọng, thời gian tới, việc thực hiện hải quan một cửa được áp dụng trên sản phẩm xuất khẩu và có sự công nhận lẫn nhau giữa các thị trường thì rất tốt. Khi các các nước có sự công nhận lẫn nhau sẽ tránh được hồ sơ giả. Như hiện nay, khi chưa có sự công nhận, có dấu hiệu giấy tờ giả, sẽ gây mất nhiều thời gian cho cả cán bộ và doanh nghiệp. Còn theo ông Nguyễn Xuân Dương, hội nhập là cả một quá trình cần có thời gian để có sự tương đồng. Thực tế, việc áp dụng hồ sơ giấy thì có thể biết được ngay đây là giấy tờ thật hay giả, còn giấy tờ điện tử thì khó phân biệt ngay. Do vậy, cần tăng cường hoạt động kiểm tra, đánh giá sự thừa lẫn nhau và tránh kiểm tra hai lần để tiết kiệm chi phí, hạn chế bất cập./. Bích …

Tin mớiadmin21/12/2018
Xuất khẩu nông, lâm và thủy sản 11 tháng qua tăng hơn 9%
Xuất khẩu nông, lâm và thủy sản 11 tháng qua tăng hơn 9%

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản tháng 11 năm nay ước đạt 3,61 tỷ USD. Như vậy, tổng giá trị xuất khẩu 11 tháng qua đạt 36,3 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt gần 18,1 tỷ USD, tăng 3,1%; thủy sản đạt 8,1 tỷ USD, tăng 6,8%; chăn nuôi đạt 0,51 tỷ USD, tăng 13%; các mặt hàng lâm sản chính đạt 8,6 tỷ USD, tăng 18%. Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 11 này ước đạt 496.000 tấn với giá trị đạt 241 triệu USD. Như vậy, khối lượng xuất khẩu gạo 11 tháng qua ước đạt 5,7 triệu tấn với 2,9 tỷ USD, tăng 5,6% về khối lượng và tăng 17,7% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng gạo tuy xuất khẩu sang Trung Quốc giảm mạnh (30%) song Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với 24,1% thị phần. Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản dự báo năm nay, gạo xuất khẩu giữ vững đà tăng trưởng, kỳ vọng có thể đạt 6,15 triệu tấn với kim ngạch đạt 3,15 tỷ USD, tăng 5,7% về lượng và 19,6% về trị giá so với năm ngoái. Mục tiêu này có thể đạt được bởi thị trường gạo trong những tháng cuối năm đang có tín hiệu nhập khẩu từ Indonesia và Philippines. Trong phiên mở thầu nhập 500.000 tấn gạo loại 25% tấm ngày 20/11 của Philippines, Việt Nam đã giành được hợp đồng xuất khẩu với khối lượng 118.000 tấn. [Infographics] 11 tháng năm 2018: Việt Nam xuất siêu hơn 6,8 tỷ USD Dự báo Ai Cập sẽ phải nhập khẩu 500.000 tấn gạo trong đầu năm tới do giảm diện tích canh tác. Trong phiên thầu mua gạo quốc tế đầu tiên của Ai Cập trong năm nay, có một mẫu gạo từ Việt Nam đã qua được vòng kiểm nghiệm. Về càphê, xuất khẩu mặt hàng này 11 tháng qua ước đạt 1,73 triệu tấn với 3,3 tỷ USD, tăng 23,4% về khối lượng và tăng 3,2% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 11 này, thị trường càphê trong nước biến động giảm theo xu hướng thị trường thế giới. Giá càphê vối nhân xô tại các tỉnh Tây Nguyên giảm từ 700-900 đồng/kg với tháng trước, xuống còn 34.600-35.200 đồng/kg. Giá càphê giảm do thị trường càphê Robusta tiếp tục chịu sức ép từ hoạt động bán phòng hộ hàng vụ mới của các nước sản xuất. Bên cạnh đó, giá càphê còn giảm do các nhà đầu cơ và các quỹ đã quay lại bán ròng trên sàn London khi áp lực nguồn cung bắt đầu có dấu hiệu gia tăng. Dự báo, giá càphê thời gian tới sẽ khó khởi sắc do sản lượng vụ càphê Conilon Robusta mới năm nay của Brazil, sau khi đáp ứng đủ cho nhu cầu trong nước dự báo sẽ dư thừa khoảng 4-5 triệu bao cho xuất khẩu, đang chảy mạnh về sàn London để đăng ký bán đấu giá. Với hồ tiêu, do giá xuất khẩu hạt tiêu giảm liên tục (38%) nên dù xuất khẩu có tăng về sản lượng, đạt 220.000 tấn nhưng giá trị chỉ đạt 718 triệu USD, giảm 32,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá hạt tiêu thế giới được kỳ vọng sẽ tăng nhẹ trong thời gian tới nhờ thặng dư cung-cầu giảm. Năm 2019, dự báo sản lượng của một số nước sản xuất chính như Việt Nam và Ấn Độ đều không khả quan do ảnh hưởng từ dịch bệnh và thiên tai. Trong dài hạn, chất lượng sẽ là yếu tố quyết định lên giá hạt tiêu. Do đó nông dân, doanh nghiệp cần thúc đẩy sản xuất hạt tiêu theo hướng hữu cơ. Đồng thời, xây dựng và quảng bá thương hiệu tiêu của từng địa phương đến các thị trường trên thế giới. Tình hình tương tự cũng diễn ra với mặt hàng cao su. Khối lượng và giá trị xuất khẩu cao su 11 tháng qua ước đạt 1,37 triệu tấn với 1,87 tỷ USD, tăng 13,2% về khối lượng nhưng giảm 6,5% về giá trị do giá xuất khẩu giảm 20%. Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, hiện giá cao su trên thế giới đang chịu áp lực giảm do thị trường thiếu các yếu tố hỗ trợ giá cao su; giá dầu trên thị trường thế giới giảm mạnh. Bên cạnh đó, căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ-Trung Quốc có tác động rõ hơn đối với xuất khẩu lốp xe của Trung Quốc. Trong ngắn hạn, giá cao su thế giới dự báo vẫn sẽ duy trì ở mức thấp do căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc chưa được giải quyết và tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chậm lại. Các doanh nghiệp xuất khẩu cao su của Việt Nam có thể sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn trong thời gian tới do nhu cầu thấp từ thị trường xuất khẩu cao su chủ chốt là Trung Quốc. Do đó, các doanh nghiệp cần đa dạng thị trường để tránh phụ thuộc vào thị trường truyền thống. Cũng tăng về lượng nhưng giảm về giá trị trong xuất khẩu, mặt hàng điều xuất khẩu 11 tháng qua đạt 342.000 tấn với kim ngạch 3,1 tỷ USD. Hoa Kỳ, Hà Lan và Trung Quốc vẫn duy trì là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam với trên 60% thị phần. Trong 11 tháng qua, giá trị xuất khẩu rau quả đạt 3,5 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2017. Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản cũng cho biết, ước giá trị nhập khẩu nông, lâm, thủy sản 11 tháng qua đạt 28,8 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm …

Tin mớiadmin03/12/2018
Hiệp định CPTPP tác động ra sao tới các ngành hàng nông, thủy sản?
Hiệp định CPTPP tác động ra sao tới các ngành hàng nông, thủy sản?

Là quốc gia có lợi thế tương đối về nông nghiệp so với hầu hết các quốc gia trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Việt Nam sẽ có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như gỗ, sản phẩm gỗ và thủy sản. Tuy nhiên, những rào cản thuế quan được dỡ bỏ, Việt Nam cũng có những sản phẩm sẽ chịu sự cạnh tranh quyết liệt hơn ngay ở thị trường trong nước. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như gỗ, sản phẩm gỗ, thủy sản, rau quả… chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp đều được xem là sẽ có nhiều lợi thế khi Việt Nam tham gia CPTPP. Điển hình gỗ, sản phẩm gỗ là nhóm hàng được đánh giá sẽ có lợi thế lớn nhờ CPTPP. Hầu hết các quốc gia trong CPTPP đều cam kết loại bỏ thuế quan đối với gỗ và sản phẩm từ gỗ của Việt Nam ngay khi CPTPP có hiệu lực. Điều này kỳ vọng sẽ có làn sóng tăng trưởng mới đối với các doanh nghiệp ngành này. Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), với CPTPP cơ hội đối với ngành gỗ nhiều hơn là thách thức. Trong số 10 nước còn lại trong CPTPP, ngành gỗ Việt Nam đã có quan hệ lâu đời và có thị trường mạnh như Nhật Bản, New Zealand, Australia, Singapore… Những năm gần đây, ngành gỗ Việt Nam cũng đã có quan hệ tốt với Canada, Peru, Chile… Kim ngạch xuất khẩu gỗ vào các nước này cũng rất lớn. Rất nhiều dòng thuế xuất nhập khẩu các sản phẩm gỗ về bằng 0 sẽ là lợi thế để giảm giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam. “Nhưng thuế với sản phẩm gỗ không quan trọng bằng các thiết bị chế biến gỗ cũng bằng 0. Đây chính là kỳ vọng lớn của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ với hiệp định này,” ông Quyền cho biết. Ngoài ra, với CPTPP dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sẽ được mở ra mạnh hơn. Trước đây, thường các nguồn vốn đến với ngành gỗ từ Trung Quốc nhưng nay Nhật Bản đã bắt đầu tìm đến Việt Nam để đầu tư. Việc ký kết CPTPP cũng sẽ là cơ hội lớn để các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt là các thị trường mới như Canada, Peru, Mexico… Điển hình với mặt hàng cá ngừ, Thái Lan, Trung Quốc đang là hai đối thủ lớn nhất của Việt Nam nhưng không phải là thành viên của CPTPP. Như vậy, mặt hàng cá ngừ của Việt Nam có lợi thế về thuế so với hai nước trên tại thị trường lớn trong khối CPTPP. Với mặt hàng tôm, đối thủ đứng đầu là Ấn Độ cũng không phải thành viên CPTPP nên đây được xem là cơ hội để sản phẩm tôm xuất khẩu Việt Nam vươn lên cạnh tranh vị trí xuất khẩu hàng đầu. Bên cạnh những sản phẩm Việt Nam có thế mạnh, cũng có các sản phẩm như chăn nuôi sẽ phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt ngay chính tại thị trường trong nước. Các sản phẩm chăn nuôi của những nước có thế mạnh như Canada, Australia… sẽ khả năng ồ ạt vào Việt Nam. Điều này sẽ tác động tiêu cực đến ngành sản xuất chăn nuôi trong nước. [Thực thi CPTPP: “Tránh tâm lý cộng đồng doanh nghiệp thụ động”] Theo ông Hoàng Thanh Vân, nguyên Cục trưởng Cục Chăn nuôi, nếu không nhanh cải tiến và lựa chọn những sản phẩm lợi thế, đặc trưng để tập trung phát triển thì ngành chăn nuôi sẽ gặp nhiều bất lợi. Bởi sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam hiện có chi phí sản xuất cao hơn so với các nước có ngành chăn nuôi phát triển. Bởi vậy, các doanh nghiệp trong nước bắt buộc phải thay đổi phương thức quản lý để hội nhập. Tận dụng việc giảm thuế các trang thiết bị phục vụ cho ngành chăn nuôi để làm giảm chi phí sản xuất. Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn cho rằng, một trong những thách thức lớn đối với xuất khẩu nông sản Việt Nam là các nước tham gia có thể giảm thuế suất nhưng họ sẽ nâng cao các hàng rào phi thuế quan và có sự kiểm soát nghiêm ngặt hơn. Để xâm nhập và chiếm lĩnh được những thị trường giá trị cao và quy mô lớn như Nhật Bản, Australia… những nông sản Việt Nam đang có lợi thế xuất khẩu như gạo, càphê, tiêu, điều, thủy sản… cần vượt qua được các hàng rào kỹ thuật và các biện pháp kiểm dịch vệ sinh, an toàn thực phẩm để chiếm lĩnh được các thị trường này. Nếu không, dù thuế suất nhập khẩu của các thị trường này bằng 0%, sản phẩm nông nghiệp Việt Nam cũng không thể tiếp cận, mở rộng thị trường. Theo các chuyên gia, với những sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế xuất khẩu cần thúc đẩy các hoạt động mở rộng thương mại, xúc tiến đầu tư giữa nhà đầu tư thuộc CPTPP với Việt Nam, giữa nhà đầu tư Việt Nam với đối tác thuộc các nước CPTPP để tìm kiếm cơ hội hợp tác, liên kết hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu. Các ngành chức năng cần rà soát kỹ các ngành hàng dễ bị tổn thương như chăn nuôi, mía đường… để có những chính sách hỗ trợ kịp thời, giúp người sản xuất giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh cho sản phẩm. Đồng thời, giảm thấp nhất thiệt hại khi phải cạnh tranh với nông sản từ các nước CPTPP. Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn cho rằng, các điều kiện về kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và quy tắc xuất xứ sẽ là yêu cầu đầu tiên để nông sản Việt mở rộng thị trường. Do đó, ngành nông nghiệp cần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp; trong đó đẩy mạnh xây dựng các vùng sản xuất tập trung, ứng dụng khoa học công nghệ, gắn chặt với các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm và chất lượng theo các cam kết. Các doanh nghiệp cũng cần nâng cao năng lực phòng vệ trước sự thâm nhập hàng hóa, sự cạnh tranh với hàng ngoại thông qua việc đẩy mạnh liên kết sản xuất, xây dựng mạng lưới phân phối nội địa cũng như tận dụng môi trường kinh doanh thuận lợi từ chính sách Nhà …

Tin mớiadmin22/11/2018
Thông báo số 7680/TB-BNN-VP ngày 02 tháng 10 năm 2018 Ý kiến chỉ đạo của Thứ trưởng Thường trực Hà Công Tuấn về việc triển khai thực hiện Quyết định số 3346/QĐ-BNN-TCCB ngày 23/8/2018 điều chỉnh phân công nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành đối với một số sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu trước thông quan
Thông báo số 7680/TB-BNN-VP ngày 02 tháng 10 năm 2018 Ý kiến chỉ đạo của Thứ trưởng Thường trực Hà Công Tuấn về việc triển khai thực hiện Quyết định số 3346/QĐ-BNN-TCCB ngày 23/8/2018 điều chỉnh phân công nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành đối với một số sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu trước thông quan

Thông báo, Tin mớiadmin03/10/2018
Nông nghiệp thông minh: Tạo chuỗi giá trị sản xuất khép kín
Nông nghiệp thông minh: Tạo chuỗi giá trị sản xuất khép kín

Từ một người tay trắng nhưng sau 10 năm, ông Vũ Mạnh Hùng là người đưa thịt gà nuôi tại xã Thuận Lợi (huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước  xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản khó tính và trở thành “ đại gia” của ngành nông nghiệp tỉnh Bình Phước. Mô hình chăn nuôi tự động theo công nghệ CHLB Đức của doanh nghiệp Hùng Nhơn. (Ảnh: Dương Chí Tưởng/TTXVN) Thành công này phải kể đến việc nhạy bén đầu tư trong việc chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp đơn thuần sang đầu tư nông nghệ áp dụng công nghệ cao, tạo ra chuỗi giá trị sản xuất khép kín thông qua liên kết của nhiều đơn vị trong và ngoài nước và được kiểm soát bằng tiêu chuẩn châu Âu. Tay trắng thành “đại gia” Từng trải qua nghề phụ lơ xe, làm thợ hồ để kiếm sống, nhưng ông Vũ Mạnh Hùng luôn xem những nghề nghiệp này là long đong, lận đận. Chính vì vậy, ông Hùng tìm đến vùng đất Bình Phước tìm vận may khởi nghiệp. Sau thời gian trích góp ít vốn, nhìn thấy nông nghiệp là hướng đi phù hợp với bản thân ông Hùng nhanh nhạy ứng dụng mô hình nuôi gà trong nhà lạnh – lĩnh vực đang phát triển ở vùng đất Đông Nam Bộ. Không may cho ông, khi bắt đầu mon men khởi nghiệp, ông Vũ Mạnh Hùng đã nhận ngay thất bại ê chề khi gặp trận dịch bệnh hồi năm 2009-2010 đã cướp sạch vốn liếng làm ăn của ông. “Thất bại là mẹ thành công,” ông Hùng không nản chí, vay vốn tiếp tục đầu tư. Và lần này ông đầu tư bài bản áp dụng theo công nghệ của Đức để đáp ứng theo xu thế của thị trường. Tầm nhìn đúng đắn đó đã mở ra con đường đi đúng hướng và phát triển lên tầm cao mới. Ông Vũ Mạnh Hùng cho biết: “Thấy tôi dốc toàn bộ vốn liếng, vay mượn để làm nông nghiệp, nhiều người nghĩ tôi mất trí vì làm nông nghiệp luôn đối diện rủi ro quá lớn. Nhưng tôi đã quyết cái gì tôi không biết thì tôi sẽ không làm và chỉ tập trung làm nông nghiệp.” Sau lần thất bại đó, ông Hùng bắt tay làm lại và đã thành công với mỗi năm đơn vị tăng trưởng bình quân 20%/năm. Từ một nông hộ nông dân kinh doanh gia cầm nhỏ lẻ, hiện mô hình của ông đã trưởng thành một tập đoàn hàng đầu với nhiều sản phẩm nông nghiệp thịt gà xuất khẩu sang thị trường nước ngoài. Đột phá thành công nhất của ông Hùng là hồi tháng Chín năm 2017, hơn 300 tấn thịt gà xuất khẩu chính ngạch đầu tiên của Việt Nam được xuất sang thị trường nước ngoài. Số gà này được nuôi tại trang trại Hùng Nhơn do ông Hùng làm chủ. Ông Hùng là một trong số các doanh nghiệp mạnh tay đầu tư hàng triệu USD cho hệ thống trang trại công nghệ cao theo tiêu chuẩn Global Gap tại tỉnh Bình Phước. Trong chuyến đến thăm và làm việc tại tỉnh Bình Phước mới đây, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường thôn cho biết, mỗi năm, ngành nông nghiệp Việt Nam xuất khẩu đạt kim ngạch trên 30 tỷ USD. Hiện cả nước có 10 ngành hàng, đạt giá trị xuất khẩu trên dưới 1 tỷ USD. Tuy nhiên, điều trăn trở đối với ngành nông nghiệp là trong 10 ngành hàng trên, không hề có sản phẩm thực phẩm chăn nuôi. Trong khi đó, Việt Nam có một tiềm năng, khả năng sản xuất rất lớn. Bình quân mỗi năm, cả nước có thể sản xuất đạt khoảng 30 triệu con lợn, 300 triệu con gia cầm, nửa triệu con bò sữa… Tức là mỗi năm, Việt Nam đủ sản xuất ra 5,2 triệu tấn thịt, bình quân đạt 60kg thịt/người, bên cạnh mức bình quân 100 quả trứng/người, 10 lít sữa/người, 80 kg cá/người… Tuy nhiên, nhiều năm qua, sản phẩm của người nông dân làm ra vẫn lận đận đầu ra. Lĩnh vực xuất khẩu nông sản lại càng kém cỏi. Đến tìm hiểu mô hình nông nghiệp áp dụng công nghệ cao tự động hóa hoàn toàn của Hùng Nhơn, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường tận mắt chứng kiến một doanh nghiệp đầu tư hệ thống thiết bị máy móc hiện đại của Tập đoàn Big Dutchman (Đức) cho 28 trại chăn nuôi, tạo ra hệ thống chuồng trại gà lạnh khép kín, tự động hóa… Nhờ ứng dụng “quản lý trang trại và truy xuất nguồn gốc,” quy trình nuôi trồng được số hóa toàn bộ hoạt động; truy xuất nguồn gốc nhà cung cấp thức ăn, nước uống cho vật nuôi. Riêng với gà thịt nuôi trong 20 trang trại quy mô 20ha cung cấp ra thị trường 3 triệu con/năm; 8 trại nuôi gà đẻ trứng được áp dụng nuôi theo công nghệ nuôi lạnh tiên tiến nhất hiện nay. Sản lượng trứng đạt 320.000 quả trứng/ngày, tương đương 130 triệu quả trứng/năm. Sau khi xem mô hình đầu tư này – “Tư lệnh” ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã đánh giá đây là đơn vị đầu tiên Việt Nam đã làm chủ được công nghệ chăn nuôi hiện đại. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đánh giá cao mô hình chăn nuôi hiệu quả, giảm rủi ro là nhờ hình thành được chuỗi chuỗi giá trị khép kín để đưa sản phẩm xuất khẩu của tập đoàn Hùng Nhơn.   Trang trại Hùng Nhơn hiện có 20 trang trại nuôi gà thịt với tổng quy mô 20ha và 8 trại nuôi gà đẻ trứng áp dụng công nghệ nuôi lạnh tiên tiến nhất hiện nay. (Ảnh: Dương Chí Tưởng/TTXVN) Cụ thể, kết quả liên kết thành chuỗi giá trị sản xuất bằng hợp tác giữa Hùng Nhơn với các đối tác Công ty Trách nhiệm hữu hạn De Heus (Hà Lan) cung cấp thức ăn; Công ty Cổ phần Bel Gà (Bỉ) bán giống; và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Koyu & Unitek (Đồng Nai) thu mua, giết mổ và xuất khẩu sang Nhật Bản. Chuỗi liên kết này tạo nên một dây chuyền khép kín sản xuất sản phẩm thịt gà sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng khắt khe của châu Âu và đáp ứng được thị trường khó tính nhất là Nhật Bản. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhận định: “Nhật Bản là thị trường rất khắt khe nên việc chuỗi liên kết các doanh nghiệp sản xuất và xuất được thịt gà sang Nhật do Tập đoàn Hùng Nhơn đứng đầu, là một thành công mang ý nghĩa chiến lược, mở lối ra cho nông nghiệp Việt Nam. Điều này mở ra một triển vọng, khi thị trường Nhật Bản (khó tính nhất) tiếp cận được thì các nước khác cũng sẽ vào được. Sau thịt gà, thịt lợn, sữa và thịt bò Việt… cũng có thể xuất khẩu”. Đột phá về nông nghiệp Với mục tiêu lấy nông nghiệp công nghệ cao làm kinh tế mũi nhọn phát triển, tỉnh Bình Phước đang thu hút các doanh nghiệp có năng lực đầu tư làm hình mẫu về mô hình phát triển kinh tế. Theo Bí thư Tỉnh ủy Bình Phước Nguyễn Văn Lợi cho biết tỉnh đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp áp dụng công nghệ cao tạo ra nhiều sản phẩm mang thương hiệu của Bình Phước. “Thủ phủ” tỉnh này vốn nối tiếng các loại nông sản như điều, hồ tiêu, cao su… Theo đó, đến năm 2020 Bình Phước quy hoạch hình thành 4 khu nông nghiệp công nghệ cao tại thị xã Đồng Xoài với diện tích 50ha; huyện Lộc Ninh 500ha; huyện Hớn Quản 500ha và huyện Đồng Phú 50ha. Các quy hoạch này sẽ hình thành cho được mô hình nông nghiệp có hiệu quả chất lượng nhất làm hình mẫu để dẫn dắt, liên kết và làm đầu mối để xây dựng các thương hiệu sản phẩm nông nghiệp chủ lực tại địa phương gắn sản xuất với tiêu thụ xây dựng chuỗi giá trị nhằm gia tăng hiệu quả.   Mô hình chăn nuôi tự động theo công nghệ CHLB Đức của doanh nghiệp Hùng Nhơn. (Ảnh: Dương Chí Tưởng/TTXVN) Cùng với đó, tỉnh đẩy mạnh hợp tác chuyển giao công nghệ trong và ngoài tỉnh, kể cả hợp tác với nước ngoài để hình thành chuỗi cung ứng sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm có truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đồng thời, liên kết thị trường giữa doanh nghiệp, nhà nông, hợp tác xã kiểu mới, nhà tiêu thụ và ngân hàng để xây dựng thành vùng sản xuất nguyên liệu và tiêu thụ bền vững. Mới đây, tại buổi làm việc với lãnh đạo chủ chốt tỉnh Bình Phước hồi cuối tháng Tám, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo về phát triển kinh tế tỉnh nhà phải tranh thủ xu hướng phát triển nền nông nghiệp 4.0; trong đó tập trung cho nông nghiệp thông minh, nông nghiệp công nghệ cao đạt hiệu quả kinh tế để tạo đột phá cho Bình Phước. Ngoài ra, Thủ tướng cũng định hướng cho tỉnh Bình Phước cần tập trung phát triển nông nghiệp thông minh và chế biến chuyên sâu các sản phẩm nông nghiệp. Bên cạnh đó, tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, có sự cạnh tranh khác biệt so với các địa phương khác trong cả nước. Hơn nữa, theo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, tỉnh Bình Phước phải phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, tạo hình mẫu của cả nước, góp phần thực hiện thành công mục tiêu xóa đói giảm nghèo, tiến lên thành tỉnh khá tự chủ được nguồn thu ngân sách cho địa …

Tin mớiadmin27/09/2018
Nghị định số 123/2018/NĐ-CP của Chính phủ : Sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp

Nghị định số 123/2018/NĐ-CP của Chính phủ : Sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực nông …

Nghị địnhadmin24/09/2018
Không để xảy ra ổ dịch lớn, không để dịch tả lợn châu Phi xâm nhập
Không để xảy ra ổ dịch lớn, không để dịch tả lợn châu Phi xâm nhập

(Chinhphu.vn) – Đây là nhiệm vụ được Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng giao cho ngành nông nghiệp tại Hội nghị trực tuyến triển khai công tác phòng, chống dịch bệnh động vật vụ Thu Đông, triển khai giải pháp ngăn chặn bệnh dịch tả lợn châu Phi xâm nhiễm vào Việt Nam. Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng phát biểu tại Hội nghị – Ảnh: VGP/Đoàn Bắc Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng ghi nhận nỗ lực, sự nhanh nhạy, kịp thời của Bộ NN&PTNT trong việc chủ động tham mưu, tổ chức Hội nghị rất quan trọng này để có thể ứng phó hiệu quả trước nguy cơ bệnh dịch tả lợn châu Phi từ nước ngoài xâm nhiễm vào nước ta, cũng như phòng, chống hiệu quả các dịch bệnh trong vụ Thu Đông. “Đây là Hội nghị quan trọng, chính xác, đúng thời điểm. Nếu chúng ta chủ quan, lơ là thì hậu quả khi dịch bệnh xảy ra sẽ rất nặng nề, đe dọa ngành chăn nuôi, tăng trưởng của ngành nông nghiệp, ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống của người nông dân”, Phó Thủ tướng nói. Theo Phó Thủ tướng, sản xuất chăn nuôi trong nước đã tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, đáp ứng cơ bản nhu cầu thực phẩm thiết yếu cho tiêu dùng trong nước và một phần cho xuất khẩu. Bước đầu đã hình thành nền tảng cho phát triển công nghiệp ngành chăn nuôi, như công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, chế biến sữa, công nghiệp chuồng trại và chọn tạo giống. Tốc độ tăng trưởng của ngành chăn nuôi thời gian qua luôn ở mức cao, trung bình từ 5-6%/năm. Tính từ năm 2005 đến nay, sản lượng thịt các loại tăng trên 3 lần (từ 1,6 triệu tấn lên 5,3 triệu tấn), trứng tăng 3,9 lần (từ 3,0 tỷ quả lên 11,8 tỷ quả), sữa tươi tăng 18,6 lần (từ 51.500 tấn lên 960.000 tấn), thức ăn chăn nuôi công nghiệp tăng gần 4,8 lần (từ 4,3 triệu tấn lên 21,0 triệu tấn) đưa Việt Nam trở thành nước đứng vị trí số 1 trong các nước ASEAN về công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi. Hiện nay, tổng đàn lợn của Việt Nam đạt 27 triệu con (đứng thứ 7 trên thế giới), tổng đàn gia cầm khoảng 385 triệu con, bò là 5,6 triệu con, trâu là 2,5 triệu con, dê đạt 2,6 triệu con. Đề cập mục tiêu đến năm 2025 phần lớn sản phẩm chăn nuôi hàng hóa đều được sản xuất theo mô hình trang trại và trong các hộ chăn nuôi chuyên nghiệp với chất lượng tốt, độ an toàn cao và giá thành thấp nhất so với các nước trong khu vực; đến năm 2030, tỉ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đạt trên 40%, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nhấn mạnh, “khi quy mô chăn nuôi ngày càng lớn hơn, đồng nghĩa yêu cầu đối với công tác phòng chống dịch bệnh cho vật nuôi cũng phải đặt ra ở mức cao hơn rất nhiều so với trước đây”. Trong thời gian qua, nhiều địa phương đã chủ động xây dựng kế hoạch và bố trí ngân sách địa phương triển khai các hoạt động phòng, chống dịch bệnh động vật. “Nhìn chung tình hình dịch bệnh trên gia súc, gia cầm đã được kiểm soát tốt hơn, hạn chế được dịch bệnh nguy hiểm xảy ra, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ sản xuất và phát triển chăn nuôi bền vững”, Phó Thủ tướng nói. Nhấn mạnh tình hình dịch bệnh vẫn đang diễn biến rất phức tạp, khó lường, xuất hiện nhiều loại dịch bệnh đặc biệt nguy hiểm, chưa từng có tại Việt Nam như dịch tả lợn châu Phi, đe doạ sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi và đời sống của người nông dân, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu Bộ NN&PTNT, các bộ, ngành Trung ương, các địa phương tuyệt đối không được chủ quan. “Hội nghị hôm nay không chỉ có ý nghĩa chuyên môn thuần tuý, mà còn là dịp để các ngành, các cấp thống nhất quyết tâm, thống nhất hành động để ứng phó kịp thời, hiệu quả với dịch bệnh”, Phó Thủ tướng nói. Không để dịch tả lợn châu Phi xâm nhập Trước diễn biến phức tạp của dịch tả lợn châu Phi, ngày 12/9, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Công điện số 1194/CĐ-TTg gửi các bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc tập trung triển khai các biện pháp ngăn chặn bệnh dịch này xâm nhiễm vào Việt Nam. Bộ NN&PTNT cũng chủ động đề ra các giải pháp ngăn chặn nguy cơ xâm nhiễm bệnh dịch tả lợn châu Phi vào Việt Nam. Ngành thú ý đã phối hợp với FAO tổ chức tập huấn và cung cấp nguyên vật liệu chẩn đoán xét nghiệm bệnh dịch tả lợn châu Phi. Hiện tại, các phòng thí nghiệm thuộc Cục Thú y đã có đủ nguyên liệu xét nghiệm trên 2.000 mẫu, có kết quả sau 3 giờ. Ảnh: VGP/Đoàn Bắc Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đề nghị các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung toàn lực chỉ đạo, triển khai ngay các biện pháp ngăn chặn bệnh dịch tả lợn châu Phi xâm nhiễm vào Việt Nam, theo các nội dung của Công điện số 1194 của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, Phó Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu của thông tin về diễn biến dịch bệnh. “Trước hết phải có thông tin chi tiết, chính xác về diễn biến dịch bệnh. Bộ NN&PTNT chủ động phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quốc tế, các cơ quan chuyên môn để kịp thời nắm bắt, phản ảnh đầy đủ thông tin về dịch bệnh đến cơ quan chức năng và người dân”, Phó Thủ tướng yêu cầu. Phó Thủ tướng cũng đề nghị nghiêm cấm mọi hình thức vận chuyển, buôn bán, giết mổ, tiêu thụ lợn, sản phẩm của lợn nhập lậu, nghi nhập lậu, không rõ nguồn gốc, kể cả hình thức cho, tặng của các tổ chức, cá nhân và cư dân khu vực biên giới. “Tổ chức giám sát chặt chẽ tại cửa khẩu, đường mòn, lối mở khu vực biên giới đối với người và phương tiện vận chuyển xuất phát từ các nước có bệnh dịch tả lợn châu Phi nhập cảnh vào Việt Nam”, Phó Thủ tướng yêu cầu. Đồng thời, phải triển khai vệ sinh, khử trùng, tiêu độc tại các khu vực chăn nuôi, các chợ, điểm buôn bán, giết mổ lợn và các sản phẩm của lợn; nhanh chóng tổ chức hướng dẫn người chăn nuôi, thú y cơ sở tăng cường theo dõi, giám sát đàn lợn; tổ chức giám sát chặt chẽ nơi buôn bán, giết mổ, trung chuyển lợn; thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc sau mỗi buổi họp chợ, mỗi ca giết mổ lợn. Phó Thủ tướng cũng yêu cầu thành lập và phân công trách nhiệm cụ thể cho các đoàn công tác đi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các biện pháp ngăn chặn bệnh dịch tả lợn châu Phi xâm nhiễm vào Việt Nam. Chủ động phòng chống dịch bệnh vụ Thu Đông Đối với công tác phòng chống dịch bệnh động vật vụ Thu Đông năm 2018-2019, Phó Thủ tướng yêu cầu trước hết phải tiếp tục đẩy mạnh công tác chủ động phòng chống dịch bệnh động vật, nhất là các dịch bệnh động vật nguy hiểm, thường xảy ra ở Việt Nam như cúm gia cầm, lở mồm long móng gia súc, tai xanh lợn, bệnh dại động vật. Các địa phương phải sớm rà soát, cập nhật kế hoạch chi tiết để thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án, kế hoạch quốc gia của Chính phủ, của Bộ NN&PTNT về chủ động phòng chống dịch bệnh động vật. Phó Thủ tướng cũng yêu cầu tăng cường công tác giám sát chặt địa bàn, nhằm phát hiện sớm và xử lý kịp thời các ổ dịch trên gia súc, gia cầm, không để lây lan ra diện rộng. “Mục tiêu đặt ra là không để xảy ra ổ dịch lớn, không để dịch tả lợn châu Phi xâm nhập vào Việt Nam để bảo vệ sản xuất, đời sống của người dân”, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nhấn mạnh. Xuân Tuyến – Đoàn …

Tin mớiadmin18/09/2018
Vinamilk ký thỏa thuận hợp tác đầu tư vào Nông trường Sông Hậu
Vinamilk ký thỏa thuận hợp tác đầu tư vào Nông trường Sông Hậu

Ngày 10/8, tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư năm 2018 tại Cần Thơ, Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) đã chính thức ký thỏa thuận hợp tác đầu tư vào Nông trường Sông Hậu, tỉnh Cần Thơ. Hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2018 với chủ đề “Chia sẻ tiềm năng, cùng nhau phát triển” được tổ chức với sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, lãnh đạo các bộ ngành. Hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2018 của Cần Thơ nhằm giới thiệu những thành tựu kinh tế-xã hội; tiềm năng, cơ hội đầu tư và các chính sách hỗ trợ đầu tư của thành phố để kêu gọi thu hút các nguồn lực đầu tư, khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của địa phương, với sự tham gia của hơn 500 doanh nghiệp trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, hội nghị cũng tôn vinh các doanh nghiệp có đóng góp đầu tư tại địa phương và trao quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 10 doanh nghiệp với tổng giá trị gần 8.000 tỷ đồng. Đặc biệt, thành phố Cần Thơ đã ký kết thỏa thuận hợp tác với 19 nhà đầu tư, tổng số vốn gần 85.000 tỷ đồng, đồng thời ký kết với 4 ngân hàng thương mại về tài trợ vốn. Với những điều kiện tự nhiên thuận lợi và sự ủng hộ nhiệt thành của các cấp chính quyền thành phố, tại hội nghị, Vinamilk quyết định chọn Cần Thơ là nơi tập trung các trang trại của mình tại khu vực miền Tây. Thông qua việc hợp tác cùng Nông trường Sông Hậu, Vinamilk đã quy hoạch “Tổ hợp các trang trại bò sữa công nghệ cao” với tổng quy mô lên đến 22.000 con trên diện tích 6.000ha, với tổng vốn đầu tư khoảng 4.000 tỷ đồng. Dự án này của Vinamilk được xây dựng trên mô hình trang trại kết hợp với nhà máy chế biến và hệ thống phân phối sẵn có của Vinamilk tại thành phố Cần Thơ để mang lại chuỗi sản xuất khép kín, chất lượng quốc tế với giá bán cạnh tranh. Trang trại sử dụng các công nghệ mới nhất và được tối ưu hóa các hoạt động với hệ thống robot và hệ thống quản trị hiện đại trên nền tảng mạng máy tính, đáp ứng những đòi hỏi, cạnh tranh trong kỷ nguyên chuyển đổi và đón nhận công nghệ 4.0. Sự kết hợp giữa mô hình sản xuất chăn nuôi tiên tiến của Vinamilk với kinh nghiệm canh tác lâu đời, nguồn thức ăn dồi dào trong khu vực tạo nên sự ổn định và hiệu quả, tận dụng tốt thế mạnh của các bên liên kết. Ngoài ra, dự án cũng tạo hiệu ứng lan tỏa khắp trong khu vực để hình thành một ngành nghề mới: ngành chăn nuôi bò sữa, bò thịt, thủy sản và canh tác thức ăn cho gia súc. Các sản phẩm đầu ra của bà con nông dân được bao tiêu với giá cả hợp lý, ổn định. Tại Cần Thơ, cách đây 18 năm, Vinamilk cũng đã xây dựng nhà máy chế biến sữa tại khu công nghiệp Trà Nóc và có chi nhánh kinh doanh hoạt động hiệu quả trong suốt hơn 10 năm qua với doanh thu 3 năm gần nhất 2015-2016-2017 là gần 17.000 tỷ đồng và nộp ngân sách Nhà nước 1.030 tỷ đồng. Tại hội nghị, ông Trịnh Quốc Dũng – Giám đốc Điều hành Vinamilk phát biểu: “Khi dự án triển khai và đi vào hoạt động đầy đủ, sẽ hình thành một khu vực chuyên canh với những cánh đồng mẫu lớn hàng nghìn ha canh tác thức ăn cho bò sữa và gia súc xung quanh các trang trại, tạo ra hàng nghìn việc làm. Với hạt nhân là các trang trại của Vinamilk hiệu ứng tiếp theo sẽ là sự ra đời của hàng trăm trang trại vệ tinh của bà con nông dân, cùng tham gia vào trong chuỗi liên kết do Vinamilk làm đầu tàu dẫn dắt. Mô hình này sẽ góp phần giữ vững ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân và phát triển tam nông một cách bền vững.” Với vị trí hết sức thuận lợi, nằm giữa trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Cần Thơ là trung tâm kinh tế, giáo dục-đào tạo, khoa học-kỹ thuật và y tế của khu vực. Trong thời gian qua, bên cạnh việc đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội, Cần Thơ còn tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, nhằm đưa Thành phố trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn của nhà đầu tư. Trong những năm gần đây, Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Cần Thơ luôn được xếp loại Tốt. Đặc biệt đã tăng lên hạng 10/63 tỉnh thành cả nước trong năm 2017. Bên cạnh đó, Cần Thơ với tốc độ tăng trưởng hàng năm cao còn là trung tâm kinh tế cho các tỉnh miền Tây. Dân số trong khu vực xấp xỉ 18 triệu người, chiếm khoảng 19% dân số cả nước sẽ đảm bảo đầu ra cho sản phẩm trong một thời gian dài. Ngoài ra, việc tiếp cận các thị trường trong khu vực ASEAN bằng đường thủy từ đây cũng hết sức thuận lợi, tạo điều kiện phát triển cho việc kinh doanh, xuất-nhập khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn địa …

Tin mớiadmin13/08/2018
Mỹ giải ngân gói trợ cấp 12 tỷ USD cho nông dân từ cuối tháng 9
Mỹ giải ngân gói trợ cấp 12 tỷ USD cho nông dân từ cuối tháng 9

Nông dân Mỹ có thể bắt dầu nhận được tiền mặt từ kế hoạch trợ cấp 12 tỷ USD của chính phủ sớm nhất từ cuối tháng Chín tới. Thông tin này đã được Bộ trưởng Nông nghiệp Mỹ Sonny Perdue đưa ra ngày 28/7 bên lề hội nghị bộ trưởng nông nghiệp G20 diễn ra tại thủ đô Buenos Aires của Argentina. Nông dân thu hoạch hành tây tại Texas, Mỹ. (Nguồn: AFP/TTXVN) Trả lời phỏng vấn hãng tin Reuters, Bộ trưởng Perdue cho hay kế hoạch trợ cấp nông nghiệp của chính phủ sẽ gồm 11 tỷ USD hỗ trợ những nông dân chịu tác động từ các biện pháp trả đũa thương mại sau khi Washington áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. [Mỹ hỗ trợ 12 tỷ USD cho nông dân bị thiệt hại do trả đũa thương mại] Trong số đó, khoảng 7 đến 8 tỷ USD tiền mặt sẽ được phát trực tiếp, song không phải nông dân nào cũng được trợ cấp. Bộ trưởng Perdue cho biết đây là biện pháp tạm thời, được áp dụng trong thời gian Tổng thống Trump và nhóm đàm phán giải quyết được những tranh chấp thương mại hiện nay. Theo kế hoạch, ngoài việc hỗ trợ tiền mặt cho nông dân trồng đậu nành, cao lương, ngô, lúa mạch, bông, chăn nuôi lợn và sản xuất sản phẩm bơ sữa, chính phủ Mỹ cũng sẽ thu mua trái cây, gạo, quả đậu, thịt bò, lợn và sữa, đồng thời thúc đẩy một chương trình xúc tiến thương mại trị giá 200 triệu USD để phát triển các thị trường mới cho nông sản Mỹ. Kế hoạch mới này được Tổng thống Donald Trump thông báo hôm 24/7 nhằm xoa dịu nông dân và giới lập pháp vùng Trung Tây nước Mỹ cho rằng mình là đối tượng chịu tác động từ các biện pháp trả đũa thương mại của Trung Quốc. Từ ngày 4/9 tới, những nông dân này có thể nộp đơn yêu cầu hỗ trợ, dựa trên sản lượng vụ mùa thực …

Tin mớiadmin30/07/2018
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: Quản lý ATTP theo xu hướng thế giới
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: Quản lý ATTP theo xu hướng thế giới

(Chinhphu.vn) – Theo Phó Thủ tướng, công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm cần thực hiện điều chỉnh theo quy trình quản lý rủi ro của thế giới, hướng tới phấn đấu đưa về cùng mặt bằng các sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu. Việc này cần được triển khai mạnh ở các khu đô thị lớn, điển hình là TPHCM. Sáng 20/7, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Trưởng ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về vệ sinh an toàn thực phẩm  (VSATTP) chủ trì cuộc họp của Ban Chỉ đạo triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2018. Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long báo cáo công tác bảo đảm ATTP tại cuộc họp. Ảnh: VGP Vẫn còn đùn đẩy trách nhiệm Báo cáo tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết từ đầu năm cả nước đã tiến hành thanh, kiểm tra được 351.128 cơ sở, phát hiện 68.362 cơ sở vi phạm ATTP, chiếm 19,47%; đã xử lý 15.707 cơ sở (chiếm 22,98% số cơ sở vi phạm), trong đó, phạt tiền 13.017 cơ sở với số tiền hơn 35 tỷ đồng. Ngoài các hình thức xử phạt chính, các đoàn kiểm tra còn áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như đình chỉ lưu hành sản phẩm 167 cơ sở; yêu cầu 330 cơ sở có nhãn phải khắc phục; tiêu hủy sản phẩm của 2.822 cơ sở; tiêu hủy 3.121 loại thực phẩm do không bảo đảm an toàn. Các nội dung vi phạm chủ yếu được phát hiện trong quá trình thanh, kiểm tra là: Vi phạm về điều kiện vệ sinh cơ sở, về trang thiết bị dụng cụ; về con người; về ghi nhãn, quảng cáo thực phẩm, thực phẩm không bảo đảm chất lượng; sản xuất kinh doanh thực phẩm không công bố theo quy định… Ngoài thanh, kiểm tra theo kế hoạch, các bộ, ngành đã tiến hành nhiều đợt thanh, kiểm tra đột xuất theo chuyên ngành, phát hiện xử lý nhiều vụ vi phạm pháp luật về ATTP. Báo cáo của Bộ NN&PTNT cho biết công tác kiểm nghiệm, giám sát ATTP lưu thông trong nước được đặc biệt quan tâm, chỉ đạo. Công tác này đã góp phần khống chế tốt việc sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; giảm thiểu lạm dụng hóa chất, kháng sinh trong chăn nuôi; giảm ô nhiễm vi sinh vật trong các sản phẩm chăn nuôi. Riêng chương trình giám sát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản phẩm nguồn gốc thực vật (gạo, hồ tiêu, rau, củ, quả), Cục Bảo vệ thực vật đang triển khai, chưa có kết quả phân tích… Công tác phòng chống ngộ độc và các bệnh lan truyền qua thực phẩm được triển khai quyết liệt, đồng bộ (số vụ, số người mắc, đi viện và số người tử vong đều giảm), bảo đảm ATTP tại các sự kiện, hội nghị. Tính đến 30/6, toàn quốc ghi nhận 53 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 1.301 người mắc, 1.079 người đi viện và 11 trường hợp tử vong. So với cùng kỳ năm 2017, giảm 27 vụ, số mắc giảm 446 người (35,3%), số đi viện giảm 579 người (34,9%), số tử vong giảm 6 người (35,3%)… Tuy nhiên, theo đánh giá của các thành viên Ban Chỉ đạo, ở nhiều địa phương mặc dù tổ chức thanh, kiểm tra nhiều nhưng tỷ lệ xử lý thấp, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, vẫn còn sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các ngành có liên quan. Điển hình như việc chậm xử lý dứt điểm một số tồn tại như lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hóa chất, kháng sinh trong sản xuất nông sản, thủy sản; sử dụng thuốc, phụ gia thực phẩm trong chế biến thực phẩm, giết mổ không bảo đảm ATTP… Tình hình buôn lậu thực phẩm qua biên giới, đặc biệt là đối với các thực phẩm sinh lời cao như thực phẩm chức năng rất dễ dẫn đến làm giả và buôn lậu. Thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, vi phạm về chất lượng , hết hạn sử dụng… chưa được kiểm soát chặt chẽ, đang có nguy cơ đưa vào tiêu thụ tại các chợ truyền thống, vùng sâu, vùng xa. Tử vong do ngộ độc rượu và độc tố tự nhiên còn chiếm tỷ lệ cao. Tình trạng một số tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ sức khỏe nhưng không đăng ký bản công bố, bán hàng online quảng cáo, tư vấn lừa dối người tiêu dùng vẫn diễn biến phức tạp… Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho rằng thời gian tới cần đẩy mạnh công tác hậu kiểm; tăng cường trách nhiệm của người sản xuất kinh doanh tập thể; phối hợp tốt với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, coi đó là cánh tay nối dài trong công tác bảo đảm ATTP. Bên cạnh đó, Bộ Y tế sẽ sớm xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về ATTP. Bộ cũng đang soạn thảo Luật Phòng, chống tác hại của rượu bia.. Quang cảnh cuộc họp. Ảnh: VGP Quản lý ATTP phải theo xu hướng thế giới Kết luận buổi làm việc, Phó Thủ tướng đánh giá thời gian qua công tác bảo đảm ATTP đã được triển khai tốt hơn. Công tác thanh, kiểm tra được làm quyết liệt. Tuy nhiên, vẫn chưa đạt yêu cầu bởi tình trạng các mẫu xét nghiệm nhiễm vi sinh không giảm. Khâu chế biến thực phẩm chưa tốt do thói quen của người tiêu dùng. Quy trình thủ tục hướng dẫn các biện pháp bảo đảm ATTP của cả hệ thống còn nhiều vướng mắc. Tình trạng quảng cáo thực phẩm chức năng sai vẫn tràn lan. Ngoài ra, xu hướng các doanh nghiệp đầu tư vào các trang trại theo đúng quy trình có xu hướng giảm, cần tiếp tục khơi dậy trong thời gian tới… Theo Phó Thủ tướng, công tác an toàn vệ sinh thực phẩm cần thực hiện điều chỉnh theo quy trình quản lý rủi ro của thế giới, hướng tới phấn đấu đưa về cùng mặt bằng các sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu. Việc này cần được triển khai mạnh ở các khu đô thị lớn, điển hình là TPHCM. Bên cạnh đó, việc thực hiện mô hình ban quản lý ATTP đã được triển khai tốt ở TPHCM và một số địa bàn ở Hà Nội cần được đánh giá, nhân rộng. Công tác truyền thông gắn với tập huấn đã được thực hiện tốt ở TPHCM nhưng tại một số địa phương còn chưa làm tốt. Các bộ ngành liên quan cần đẩy mạnh việc tập huấn trong triển khai thực hiện nhiệm vụ. Đánh giá cao các phương tiện thông tin đại chúng thời gian qua đã tập trung tuyên truyền tốt công tác bảo đảm ATTP không chỉ qua các chuyên mục mà còn lồng ghép trong các chương trình thời sự, bài viết người tốt việc tốt…, Phó Thủ tướng cho rằng công tác này cần tiếp tục được đẩy mạnh. Bên cạnh đó, các bộ ngành liên quan có thể tổ chức các cuộc thi gắn với việc tuyên truyền ATTP, phòng chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng… Phó Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ ngành liên quan cần sớm soạn thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 178/2013/NĐ-CP để các thành viên Chính phủ cho ý kiến, trình Chính phủ để sớm ban hành, trong đó, cần chú ý đến quy trình tiêu hủy; tập trung quản lý, chấn chỉnh các hoạt động bán hàng đa cấp, quảng cáo về thực phẩm chức năng, mỹ phẩm bởi đây là những sản phẩm trực tiếp liên quan đến sức khỏe con người… Đình …

Tin mớiadmin23/07/2018
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp

(Chinhphu.vn) – Chiều 11/7, tại trụ sở Văn phòng Chính phủ (VPCP), Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng đã có buổi làm việc với đoàn doanh nghiệp của Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN (USABC) do ông Michael Michalak, Phó Chủ tịch cấp cao kiêm Giám đốc Điều hành Khu vực của USABC làm Trưởng đoàn Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng và đoàn doanh nghiệp Hoa Kỳ. Ảnh: VGP Tại buổi làm việc, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng nhấn mạnh quyết tâm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động và phục vụ. Hiện Việt Nam đang tích cực cải thiện môi trường kinh doanh, hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh để tiếp tục là điểm đến đầu tư hấp dẫn cho cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong đó có nhà đầu tư Hoa Kỳ. Đánh giá cao các nhà đầu tư Hoa Kỳ quan tâm đầu tư vào nhiều lĩnh vực tại Việt Nam, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào nông nghiệp có vai trò quan trọng thúc đẩy sản xuất hàng hoá nông nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh nông sản Việt Nam. Vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, như sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ (2017), Nghị định 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, không phân biệt doanh nghiệp trong nước hay nước ngoài. Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh, Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, liên kết với các doanh nghiệp khác và người dân theo chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ nông sản. Theo Chương trình công tác của Chính phủ, từ nay đến cuối năm 2018, VPCP sẽ tiến hành thẩm tra một số dự án luật và Nghị định do Bộ NN&PTNT được giao chủ trì xây dựng, trình Quốc hội, Chính phủ phê duyệt, trong đó có: Dự án Luật Chăn nuôi, Luật Trồng trọt, Nghị định sửa đổi, bổi sung các Nghị định quy định điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp; Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuỷ sản (sửa đổi). Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cũng cho biết sáng mai (12/7), Tổ công tác của Thủ tướng sẽ tiến hành kiểm tra 17 bộ trong việc thực hiện các chỉ đạo, nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao liên quan đến công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hoá xuất nhập khẩu và việc đơn giản hoá, cắt giảm điều kiện kinh doanh. Do đó, những kiến nghị của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp Hoa Kỳ nói riêng sẽ được Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP đặt câu hỏi trực tiếp đến các bộ, ngành. Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh luôn sẵn sàng lắng nghe những ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp. Hiện nay, VPCP đã xây dựng Hệ thống tiếp nhận, trả lời kiến nghị của doanh nghiệp (tại địa chỉ doanhnghiep.chinhphu.vn trên Cổng TTĐT Chính phủ), các doanh nghiệp có thể gửi kiến nghị của mình trực tiếp trên hệ thống này hoặc gửi văn bản đến VPCP để xử lý và trả lời các kiến nghị của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, VPCP cũng thường xuyên tổ chức các cuộc họp với các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp để lắng nghe những phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp trong việc thực hiện cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính. Thay mặt các doanh nghiệp Hoa Kỳ, ông Michael Michalak cho biết, các doanh nghiệp Hoa Kỳ đánh giá Việt Nam là điểm đến đầu tư hấp dẫn. Hiện đã có nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư thành công ở Việt Nam. Đoàn doanh nghiệp lần này của USABC có 9 doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, có doanh nghiệp đầu tư tại Việt Nam từ lâu, những cũng có doanh nghiệp mới vào Việt Nam gần đây. Phát biểu tại buổi làm việc, đại diện các doanh nghiệp Hoa Kỳ đều đánh giá cao môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam đã có sự cải thiện rõ rệt thời gian qua, trong đó có việc đề cao tính cạnh tranh. Các doanh nghiệp trong đoàn bày tỏ mong muốn đầu tư hoặc mở rộng đầu tư tại Việt Nam trong các lĩnh vực sản xuất và phân phối thức ăn chăn nuôi, chế biến thực phẩm, sản xuất thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật… Nhân dịp này, các nhà đầu tư Hoa Kỳ bày tỏ cảm ơn Chính phủ và các cơ quan chức năng của Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp này mở rộng sản xuất, mạng lưới phân phối tại Việt Nam và cam kết tiếp tục tuân thủ pháp luật Việt Nam, thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội và các hoạt động cộng đồng. Kết luận buổi làm việc, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng đề nghị Bộ NN&PTNT, Viện Kinh tế Nông nghiệp Hữu cơ tiếp tục nghiên cứu, mở rộng hợp tác hơn nữa với các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp Hoa Kỳ nói riêng để xây dựng chiến lược phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp, xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam hội nhập vào các thị trường lớn của thế giới; thu hút thêm nguồn lực đầu tư để nhân rộng mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp đến các địa phương trong cả nước. Đồng thời, đề nghị USABC tiếp tục khuyến kích, hỗ trợ doanh nghiệp Hoa Kỳ sang Việt Nam tìm hiểu các cơ hội đầu tư, kinh doanh. Về một số khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp Hoa Kỳ, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng ghi nhận kiến nghị và sẽ đề nghị Bộ NN&PTNT cũng như các bộ, ngành liên quan có thông báo ý kiến chính thức bằng văn bản để doanh nghiệp biết. Nhiều tiềm năng phát triển ngành rau củ quả chế biến Tại buổi làm việc, ông Lê Thành, Viện trưởng Viện Kinh tế nông nghiệp hữu cơ (trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM) cho biết, hiện nay Việt Nam đang phát triển chuỗi giá trị rau củ quả hướng ra thị trường thế giới. Ông Lê Thành phân tích: Doanh thu của sản phẩm rau quả chế biến trên thế giới được dự đoán sẽ tăng đến 317,1 tỷ USD vào năm 2021. Tại Việt Nam, năm 2017, rau củ quả lập kỷ lục kim ngạch xuất khẩu 3,5 tỷ USD, tăng hơn 43% so với năm 2016. Việt Nam lại có 14 triệu ha diện tích đất nông nghiệp. Đây là cơ hội rất lớn cho ngành rau củ quả Việt Nam tiếp cận ra thị trường thế giới. Ông Lê Thành cũng nhấn mạnh tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm là một trong những vấn đề quan trọng nhất trên sân chơi thương mại thế giới. Hiện Viện Kiện Kinh tế nông nghiệp hữu cơ đang kết hơp với các cơ quan chức năng phát triển ngành rau củ quả theo chuỗi giá trị. “Nông nghiệp công nghệ cao là một phương thức sản xuất chứ không phải mô hình kinh tế, nó phải gắn liền với chuỗi giá trị mới gọi là nông nghiệp công nghệ cao. Đơn cử như Lavifood đầu tư nhà máy ở Tây Ninh trị giá 75 triệu USD theo LEED-Silver do US. Green Building Council (USGBC) cấp dựa trên những tiêu chí thân thiện với môi trường; sở hữu toàn chuỗi giá trị: nhà máy chế biến cộng với nhà máy phân bón, nhà máy vật tư nông nghiệp, nhà máy logistic, và hàng chục nghìn nông dân tham gia”, ông Thành phân tích.   Hoàng …

Tin mớiadmin13/07/2018
Chiến tranh thương mại Mỹ tác động gì tới nông sản Việt?
Chiến tranh thương mại Mỹ tác động gì tới nông sản Việt?

Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung đã chính thức bắt đầu. XNK nông sản Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng ra sao bởi cuộc chiến tranh này? XK chưa có mấy cơ hội Theo Bộ Công thương, trong danh sách mới nhất các mặt hàng mà Mỹ áp đặt mức thuế 25% đối với 34 tỷ USD giá trị NK từ Trung Quốc, chưa có các mặt hàng nông nghiệp. Cụ thể: máy bơm/tuabin (4,3 tỷ USD); thiết bị điện (2,9 tỷ USD); thiết bị sản xuất (2,6 tỷ USD); thiết bị văn phòng (2,6 tỷ USD); đồ điện (2,5 tỷ USD); xe máy (2,2 tỷ USD); máy móc (2,2 tỷ USD); máy móc vận chuyển đất (2,1 tỷ USD); thiết bị radio – tivi (2 tỷ USD); dụng cụ (1,8 tỷ USD); xe gắn máy (1,7 tỷ USD); thiết bị y tế (1,4 tỷ USD); kính hiển vi (1,3 tỷ USD); dụng cụ máy móc (0,9 tỷ USD); thiết bị in ấn (0,8 tỷ USD); máy bay và phụ tùng (0,5 tỷ USD); động cơ (0,3 tỷ USD); thiết bị đường ray (0,2 tỷ USD)… Hạt điều Việt Nam có khả năng được Trung Quốc tăng mua để thay hạt vỏ cứng NK từ Mỹ Trong danh mục các mặt hàng nông sản NK từ Mỹ mà Trung Quốc áp thuế trả đũa, có một số mặt hàng nông sản. Trong đó, mặt hàng có giá trị NK lớn nhất từ Mỹ (giá trị NK năm 2016) là đậu nành (13,764 tỷ USD); thịt lợn (403 triệu USD); trái cây (356 triệu USD); hạt vỏ cứng (318 triệu USD) và thực vật (15 triệu USD). Còn lại là các mặt hàng công nghiệp, y tế… như máy bay (12,584 tỷ USD), ô tô (11,876 tỷ USD), linh kiện máy tính (8,696 tỷ USD), động cơ máy bay (3,025 tỷ USD), vàng (2,384 tỷ USD), dụng cụ y tế (2,32 tỷ USD), linh kiện sản xuất máy móc (2,274 tỷ USD), giấy phế liệu (2,263 tỷ USD), dụng cụ hóa học (1,984 tỷ USD)… Như vậy, có thể thấy, trước mắt, việc XK nông sản Việt Nam sang Mỹ gần như chưa có tác động gì từ cuộc chiến tranh thương mại này. Tuy nhiên, theo ý kiến của một số chuyên gia kinh tế, nếu cuộc chiến tranh thương mại này kéo dài hơn 1 năm, có thể sẽ khiến cho nền kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm lại. Qua đó, ảnh hưởng tới sức mua của người tiêu dùng Mỹ và tác động ít nhiều tới hàng NK vào nước này, trong đó có nông sản. Mặt khác, việc Mỹ áp thuế trả đũa với 34 tỷ USD giá trị NK từ Trung Quốc mới chỉ là khởi đầu. Theo những tuyên bố của TT Donald Trump, nhiều khả năng Mỹ sẽ nâng giá trị hàng hóa NK từ Trung Quốc bị áp thuế trả đũa trong thời gian tới. Khi ấy có thể sẽ có những nhóm hàng nông sản của Trung Quốc XK sang Mỹ bị đưa vào danh sách này. Với thị trường Trung Quốc, tuy nước này áp thuế trả đũa với một số nhóm mặt hàng nông sản quan trọng NK từ Mỹ, nhưng đa số đều không phải là những mặt hàng thế mạnh của Việt Nam. Đậu nành thì Việt Nam vẫn đang rất thiếu cho nhu cầu trong nước và đang phải NK khá nhiều. Thịt lợn Việt Nam vừa chưa cạnh tranh được về giá thành, chất lượng với thịt lợn của các nước khác, lại chưa được cấp phép XK sang Trung Quốc. Trái cây mà Trung Quốc NK từ Mỹ là các loại trái cây ôn đới như anh đào, táo…, đều là những sản phẩm mà Việt Nam không có để XK. Còn trong nhóm hạt vỏ cứng mà Trung Quốc áp thuế trả đũa với Mỹ, Việt Nam có một sản phẩm chủ lực, đang XK mạnh sang cả Trung Quốc và Mỹ là hạt điều. Trong 5 tháng đầu năm nay, Mỹ là thị trường lớn nhất của hạt điều Việt Nam với lượng NK 53.935 tấn, trị giá 532,657 triệu USD; Trung Quốc đứng thứ 3 với 15.772 tấn, trị giá 152,893 triệu USD. Hạt điều NK vào Mỹ và Trung Quốc hầu như phục vụ cho tiêu dùng tại những thị trường này. Trung Quốc lại ở ngay sát nước XK hạt điều lớn nhất thế giới là Việt Nam. Vì thế, trong nhóm mặt hàng hạt vỏ cứng mà Mỹ đang XK sang Trung Quốc, gần như không có mặt hàng hạt điều. Ông Đặng Hoàng Giang, PCT Hiệp hội Điều Việt Nam, cho biết, trong nhóm hạt vỏ cứng, Mỹ XK chủ yếu các loại hạt như hạnh nhân, óc chó… Nhóm hạt vỏ cứng có đặc điểm là có thể thay thế cho nhau. Do đó, nếu hạnh nhân, óc chó… của Mỹ nếu khó vào Trung Quốc, hay vào được nhưng giá bán cao do bị áp thuế trả đũa, các nhà NK Trung Quốc sẽ có thể tăng mua hạt điều để thay thế. Đặt trường hợp hạt hạnh nhân, óc chó… của Mỹ do khó cạnh tranh được trên thị trường Trung Quốc, buộc phải tăng tiêu thụ trên thị trường nội địa, thì có ảnh hưởng gì tới XK hạt điều Việt Nam sang Mỹ? Ông Giang cho rằng quyết định cuối cùng vẫn thuộc người tiêu dùng Mỹ. Hiện nay, giá hạt điều đang rất cạnh tranh so với các loại hạt vỏ cứng khác. Mặt khác, nhiều sản phẩm từ hạt điều như sữa điều, bơ điều, snack điều… đã được người tiêu dùng Mỹ ưa chuộng. Do đó, nhiều khả năng việc tiêu thụ hạt điều trên thị trường Mỹ cũng như NK hạt điều vào Mỹ vẫn diễn ra bình thường trong thời gian tới. Thịt lợn NK sẽ vào nhiều? Ở thị trường nội địa, một số mặt hàng nông sản Việt Nam, nhất là thịt lợn nhiều khả năng sẽ bị ảnh hưởng bởi hàng NK từ Mỹ. Do bị Trung Quốc áp thuế bổ sung tới 25%, khiến cho thuế NK thịt lợn Mỹ vào Trung Quốc lên tới 71%. Với mức thuế đó, thịt lợn Mỹ gần như không còn cơ hội thâm nhập vào Trung Quốc. Giá thịt lợn cao ở Việt Nam là cơ hội để thịt lợn Mỹ tràn vào Bên cạnh đó, cũng nhằm trả đũa chính sách thuế quan của Mỹ, Mexico đã áp thuế 20% đối với thịt chân và thịt vai lợn NK từ Mỹ. 2 sản phẩm này chiếm tới 90% tổng giá trị NK thịt lợn hàng năm của Mexico (khoảng 1,07 tỷ USD năm 2017). Cần lưu ý rằng Mexico chính là thị trường XK lớn nhất của thịt lợn Mỹ. Do đó, với việc bị trả đũa thuế quan tại Mexico và Trung Quốc, một lượng không nhỏ thịt lợn Mỹ sẽ phải chuyển hướng vào những thị trường khác, trong đó có Việt Nam. Theo một số chuyên gia ngành chăn nuôi, hiện tại, giá lợn hơi Việt Nam đang ở mức từ 48.000-50.000 đ/kg, thuộc vào hàng cao nhất thế giới. Trong khi đó, giá thịt lợn Mỹ NK vào Việt Nam chỉ vào khoảng hơn 1,5 USD/kg, tương đương với khoảng 35.000 đồng. Đây là cơ hội tốt để thịt lợn ngoại, nhất là thịt lợn Mỹ tràn vào Việt Nam. Không chỉ phải cạnh tranh gay gắt hơn với thịt lợn NK từ Mỹ, với giá lợn hơi đang ở mức cao hiện nay, thịt lợn Việt Nam sẽ phải đối mặt với lợn Trung Quốc nhập lậu qua biên giới. Theo Bộ Công thương, vào cuối tuần qua, giá lợn hơi ở Trung Quốc ở mức bình quân 11,72 NDT/kg, tương đương với 40.637 VNĐ/kg. Giá lợn hơi cụ thể tại một số tỉnh ở Trung Quốc vào ngày 8/7 như sau: Hồ Nam 10,6-12,6 NDT/kg; Trùng Khánh 11-12,2 NDT/kg; Giang Tây 11,6-13,6 NDT/kg; Vân Nam 10-12 NDT/kg; Quảng Đông 11,9-13,1 NDT/kg; Quảng Tây 10,5-12,8 NDT/kg (1 NDT = 3.467,35 VNĐ). Như vậy, giá lợn hơi ở Trung Quốc đang thấp hơn khá nhiều so với giá lợn hơi ở Việt Nam. Trung Quốc lại đang có sản lượng thịt lợn khá dồi dào. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho hay, trong năm nay, dự kiến sản lượng thịt lợn Trung Quốc vào khoảng gần 54,65 triệu tấn, chiếm tới 48,2% sản lượng thịt lợn toàn cầu và Trung Quốc là nước sản xuất thịt lợn lớn nhất thế giới. Với sản lượng lớn như trên và giá đang rẻ hơn nhiều so với giá lợn ở Việt Nam, lợn Trung Quốc được nhập lậu vào Việt Nam qua đường biên giới là khó tránh khỏi. THANH …

Tin mớiadmin11/07/2018
Khởi công Nhà máy giết mổ - chế biến gia cầm XK hiện đại nhất Việt Nam
Khởi công Nhà máy giết mổ – chế biến gia cầm XK hiện đại nhất Việt Nam

Chiều 6/7, tại xã Hoằng Quỳ (Hoằng Hoá, Thanh Hóa), Công ty CP thực phẩm Viet Avis đã tổ chức Lễ khởi công xây dựng Nhà máy giết mổ – chế biến gia cầm xuất khẩu áp dụng dây chuyền công nghệ hiện đại nhất Việt Nam. Lễ khởi công xây dựng Nhà máy giết mổ – chế biến gia cầm xuất khẩu Tham dự có ông Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT; ông Dr Nagy Istvan, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Hungary. Cty cổ phần thực phẩm Viet Avis được thành lập bởi sự hợp tác đầu tư giữa Cty CP nông sản Phú Gia và Tập đoàn Master Good của Nước Cộng hòa Hungary. Dự án Nhà máy giết mổ – chế biến gia cầm xuất khẩu triển khai trên diện tích gần 6ha tại địa bàn xã Hoằng Quỳ với hệ thống thiết bị, công nghệ tự động tiên tiến hàng đầu. Theo kế hoạch, công suất giết mổ giai đoạn 1 đạt 2.500 con/giờ gắn với chuỗi liên kết chăn nuôi gà công nghệ cao 4A, sản phẩm làm ra cung cấp cho các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore và khu vực Châu Âu cũng như thị trường nội địa. Thay mặt lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa, Phó Chủ tịch Nguyễn Đức Quyền cho biết, dự án là kết quả từ quá trình chuẩn bị và nghiên cứu kỹ lưỡng của nhà đầu tư, sự quan tâm, giúp đỡ của các Bộ, ngành Trung ương; các Bộ, ngành của nước bạn Hungary; sự cố gắng, nỗ lực của các ngành, các cấp trong tỉnh và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân. Dự án Nhà máy giết mổ – chế biến gia cầm xuất khẩu triển khai trên diện tích gần 6ha tại địa bàn xã Hoằng Quỳ.. Tham dự có ông Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT; ông Dr Nagy Istvan, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Hungary. VIỆT KHÁNHCty cổ phần thực phẩm Viet Avis được thành lập bởi sự hợp tác đầu tư giữa Cty CP nông sản Phú Gia và Tập đoàn Master Good của Nước Cộng hòa Hungary. Dự án Nhà máy giết mổ – chế biến gia cầm xuất khẩu triển khai trên diện tích gần 6ha tại địa bàn xã Hoằng Quỳ với hệ thống thiết bị, công nghệ tự động tiên tiến hàng đầu. Theo kế hoạch, công suất giết mổ giai đoạn 1 đạt 2.500 con/giờ gắn với chuỗi liên kết chăn nuôi gà công nghệ cao 4A, sản phẩm làm ra cung cấp cho các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore và khu vực Châu Âu cũng như thị trường nội địa. Thay mặt lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa, Phó Chủ tịch Nguyễn Đức Quyền cho biết, dự án là kết quả từ quá trình chuẩn bị và nghiên cứu kỹ lưỡng của nhà đầu tư, sự quan tâm, giúp đỡ của các Bộ, ngành Trung ương; các Bộ, ngành của nước bạn Hungary; sự cố gắng, nỗ lực của các ngành, các cấp trong tỉnh và sự đồng tình, ủng hộ của nhân …

Tin mớiadmin09/07/2018
Nắng nóng ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi
Nắng nóng ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi

(Chinhphu.vn) – Lãnh đạo các đơn vị chức năng của Bộ NN&PTNT có những khuyến cáo để bà con nông dân lưu ý nhằm bảo đảm hoạt động sản xuất trong điều kiện trời nắng nóng, khô hạn Đối với chuồng kín cần cải tạo cho thông thoáng hoặc đặt quạt hút gió để tăng cường đối lưu không khí, giảm nhiệt độ và khí độc trong chuồng Theo ông Trần Xuân Định, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), trong giai đoạn này, nắng nóng không ảnh hưởng nhiều tới lĩnh vực trồng trọt. Trời nắng nóng, bà con nên tranh thủ làm đất, vì rơm rạ đang phân hủy nhanh. Thứ hai là giữ nước mặt ruộng. Thứ ba là không nên bón nhiều đạm khi trời nắng nóng, vì có thể làm chết cây mạ. Khi gieo mạ không nên bón thúc đạm, mạ dễ bị chột. Đối với các loại cây ăn quả, ông Định cho biết, cây vải đã vào cuối mùa thu hoạch, sau đó bà con để cây nghỉ ngơi và tiến hành chăm sóc cây cho vụ năm sau. Đối với cây nhãn, đang trong giai đoạn nuôi quả, nắng nóng chỉ ảnh hưởng tới việc vận chuyển và tiêu thụ nhãn của bà con. Bên cạnh đó, bà còn cần tưới nước bổ sung cho nhãn vào buổi tối và sáng sớm. Theo ông Tống Xuân Chinh, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), nắng  nóng như hiện nay sẽ có ảnh hưởng nhất định tới ngành chăn nuôi, ảnh hưởng tới sinh lý của vật nuôi. Tuy nhiên, ảnh hưởng nhiều nhất có lẽ là các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn nuôi trâu, bò theo kiểu chăn thả. Đối với lợn, ông Chinh cho biết, hầu hết các trang trại lớn đều có hệ thống làm mát. Do vậy, không ảnh hưởng nhiều tới chăn nuôi lợn. Tuy nhiên, đối với các hộ chăn nuôi nhỏ, chưa có hệ thống làm mát cần tăng cường quạt, hệ thống phun sương. Đối với trâu bò chăn thả, cần bổ sung nước và muối để tăng cường sức đề kháng. Lường trước được diễn biến của thời tiết, Cục Chăn nuôi đã có công văn gửi các tỉnh, thành phố, địa phương để chủ động ứng phó với nắng nóng cho gia súc, gia cầm. Theo đó, các địa phương tập trung nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy, đào ao tích nước cho gia súc. Hướng dẫn người dân chăm sóc vật nuôi, gia súc, gia cầm… trong điều kiện khô hạn, tiết kiệm nước, chuẩn bị thức ăn, nước uống, tận dụng mọi nguồn nước dùng để làm nước uống cho gia súc, gia cầm Chủ động xây dựng kế hoạch dự trữ và chế biến các loại phụ phẩm sau khi thu hoạch (đặc biệt là rơm khô) làm thức ăn cho gia súc, gia cầm trước và trong mùa khô hạn. Theo ông Chinh, những ngày khô hạn, thực hiện chế độ chuyển bữa ăn, thức ăn tinh, thức ăn hỗn hợp sang cho ăn vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Tăng cường khẩu phần ăn xanh như rau cỏ tươi, củ, quả và các loại vitamin… tăng cường đạm, giảm tinh bột, mỡ, đường trong khẩu phần đối với từng loại gia súc, gia cầm. Đảm bảo thường xuyên có đủ nước cho gia súc, gia cầm uống, không làm ẩm ướt nền chuồng và khống chế lượng nước uống cho đàn gia súc, gia cầm vừa đủ để tránh lãng phí. Lắp các thiết bị van nước tự động để luôn cấp đủ nước sạch cho gia súc, gia cầm uống nếu có điều kiện. Đặc biệt, theo Cục Chăn nuôi cần tăng cường vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh tẩy uế chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi. Tiêm đầy đủ các loại vaccine cho gia súc, gia cầm để tăng cường khả năng miễn dịch. Định kỳ tẩy giun, sán cho vật nuôi. Định kỳ phun thuốc sát trùng để diệt ve, mòng, ruồi, muỗi, bọ mạt… là những tác nhân truyền và gây bệnh. Đồng thời, phát hiện sớm các loại gia súc, gia cầm bị ốm, bị bệnh để cách ly, điều trị, xử lý kịp thời tránh để bệnh lây lan rộng, cần quan tâm nhất là các bệnh đường ruột và tiêu hóa bằng cách chủ động cho gia súc ăn, uống thuốc ở liều phòng bệnh. Sau những đợt khô hạn kéo dài, đàn gia súc thường mệt mỏi, tăng tỉ lệ mắc bệnh, giảm lượng sữa, trứng… Vì vậy cần có kế hoạch bổ sung khoáng, vitamin và dinh dưỡng theo tiêu chuẩn. Đỗ …

Tin mớiadmin04/07/2018
Hà Nội phòng chống nắng nóng đảm bảo sản xuất nông nghiệp
Hà Nội phòng chống nắng nóng đảm bảo sản xuất nông nghiệp

Nhiệt độ ngoài trời tại Hà Nội hiện lên tới 50 độ C, thậm chí nhiều nơi tới 53-55 độ C làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi. Thông thường, sau những đợt nắng nóng thời tiết thường biến đổi khó lường, xuất hiện mưa, giông bão, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe gia súc, gia cầm, nguy cơ bùng phát dịch bệnh rất cao. Trước thực tế này, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội đưa ra các giải pháp kỹ thuật hướng dẫn người nuôi chủ động phòng chống nắng nóng đối với đàn gia súc gia cầm. Tắm cho đàn trâu. (Ảnh minh họa. Quốc Khánh/TTXVN) Để phòng chống nắng nóng trên diện rộng, người nuôi chú ý tới vấn đề nhập giống tăng đàn và vận chuyển gia súc gia cầm, nên nhập giống ở những cơ sở sản xuất giống có uy tín, đủ điều kiện, không nhập ở những nơi đang có dịch bệnh. Các cơ sở cần kiểm tra, xem xét kỹ về chất lượng giống cũng như tiêm phòng đủ thời gian miễn dịch mới vận chuyển đi. Trâu bò, lợn nên đưa vào nơi mát để nghỉ ngơi không nên dùng nước tắm ngay để tránh cho trâu bò, lợn bị cảm do thay đổi nhiệt độ đột ngột. [Phòng ngừa và xử lý các vấn đề sức khỏe ở trẻ em khi nắng nóng] Bên cạnh đó, nông dân chú ý vệ sinh chuồng trại. Hệ thống làm mát hàng ngày phải đảm bảo vệ sinh cơ giới sạch sẽ từ trong ra ngoài xung quanh khu vực chuồng nuôi, khu chăn thả, sân vận động với trâu bò. Người nuôi thực hiện phun thuốc sát trùng. Diện tích phun thuốc sát trùng nên phun trên diện rộng cả trong và ngoài chuồng nuôi (một số loại thuốc sát trùng có chất lượng tốt, an toàn khi sử dụng như Vikol, Haniodin, Halamit…). Ông Chu Phú Mỹ, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội, cho biết Sở yêu cầu các phòng, ban, đơn vị trực thuộc, phối hợp với các địa phương, chỉ đạo nông dân làm tốt thu hoạch cây trồng vụ xuân, xây dựng và triển khai kế hoạch sản xuất vụ mùa 2018, vụ Đông 2018-2019; rà soát các giống lúa có năng suất, chất lượng cao để khuyến cáo nông dân. Thời tiết nắng nóng dễ xảy ra cháy rừng làm tốt công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, phòng chống cháy rừng; quản lý chặt chẽ các sản phẩm lâm sản và động vật quý hiếm trên địa bàn theo đúng quy định… Ước tính, hiện Hà Nội có 25.400 con trâu, 130.250 con bò; trong đó, bò sữa 14.650 con, đàn lợn gần 2 triệu …

Tin mớiadmin04/07/2018
Ngành chăn nuôi với hướng đi mới
Ngành chăn nuôi với hướng đi mới

(Chinhphu.vn) – Các sản phẩm chăn nuôi sản xuất theo chuỗi và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, đáp ứng được các điều kiện về an toàn thực phẩm và các điều kiện về kiểm dịch, sẽ được định hướng để xuất khẩu (XK). Cùng với đó, chăn nuôi nông hộ sẽ tổ chức thành các tổ hợp tác, hợp tác xã, hướng dẫn họ để kết nối với các doanh nghiệp (DN), các tập đoàn lớn để đáp ứng được các yêu cầu về an toàn thực phẩm. Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám – Ảnh: VGP/Đỗ Hương Sau những biến động của lĩnh vực chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn có nhiều thăng trầm thời gian qua, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám đã có những chia sẻ về hướng phát triển mới của lĩnh vực này. Thưa ông, mới đây Việt Nam đã chính thức xuất khẩu thịt lợn sang thị trường Myanmar. Đây là dấu mốc của sự phát triển trong chăn nuôi nói chung và nuôi lợn nói riêng. Vậy để mở rộng hơn nữa việc XK này thì ngành chăn nuôi được định hướng như thế nào thời gian tới? Thứ trưởng Vũ Văn Tám: Trước hết, xuất phát từ chủ trương của Chính phủ trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Mục tiêu là tìm kiếm những sản phẩm có lợi thế không chỉ chỉ sản xuất cung ứng trong nước mà quan trọng là hướng đến xuất khẩu. Muốn xuất khẩu thì chúng ta phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường nhập khẩu, đặc biệt là các rào cản kỹ thuật, an toàn thực phẩm và kiểm dịch động vật. Đối với các sản phẩm chăn nuôi có lợi thế của Việt Nam như lợn, gia cầm chúng ta vẫn chưa XK nhiều, vì vậy, vừa qua Chính phủ đã có nhiều cơ chế chính sách, đặc biệt là khuyến khích các tập đoàn lớn, các DN đầu tư vào lĩnh vực này. Định hướng XK các sản phẩm chăn nuôi sẽ tác động đến sản xuất của lĩnh vực này như thế nào, thưa ông? Thứ trưởng Vũ Văn Tám: Không chỉ đối với trong nước mà đối với XK, chúng ta tổ chức lại sản xuất nông sản theo chuỗi và gắn với thị trường, truy xuất được nguồn gốc sản phẩm. Các DN đầu chuỗi sẽ tiếp cận với thị trường chế biến XK. Việc sản xuất sẽ căn cứ vào các hợp đồng đã ký với các nhà nhập khẩu, không d dể xảy ra tình trạng ế thừa. Còn đối với những người chăn nuôi nhỏ lẻ, các hộ dân thì sẽ tập hợp lại thành các tổ hợp tác, hợp tác xã, hướng dẫn họ để kết nối với các DN, các tập đoàn lớn để đáp ứng được các yêu cầu về an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật có truy xuất nguồn gốc. Hiện nay, thông qua dự án Lifsap, Ngân hàng Thế giới đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi, chúng ta cũng đã hình thành lên các chuỗi như vậy và tập trung chủ yếu vào các nông hộ. Như vậy, ngành chăn nuôi đi bằng hai chân và có các cơ chế chính sách khuyến khích các tập đoàn lớn kể cả nước ngoài và trong nước đầu tư vào chăn nuôi, từ đó sẽ hình thành các chuỗi, các tập đoàn rất lớn như  Masan, Phú Gia (Thanh Hóa), Mavin, CP… Tập đoàn Mavin được Bộ NN&PTNT chứng nhận là DN Nông nghiệp Công nghệ cao – Ảnh: VGP/Đỗ Hương Thế mạnh trong lĩnh vực chăn nuôi của Việt Nam được xác định là gì thưa ông? Thứ trưởng Vũ Văn Tám: Chăn nuôi Việt Nam xác định con lợn vẫn là một lợi thế, thứ hai là gia cầm, đặc biệt là thủy cầm. Hiện nay, trứng vịt của Việt Nam ngon nhất Đông Nam Á và thế giới. Đối với các sản phẩm gia cầm, hiện nay có gà công nghiệp hiện chúng ta có các tập đoàn lớn bắt tay vào chăn nuôi. Cùng với đó, ngành nông nghiệp cũng đang khuyến khích phát triển gà lông màu và các giống bản địa khác theo hướng sản xuất hữu cơ như gà đồi Yên Thế, các vật nuôi khác có giá trị kinh tế cao. Cần phải khuyến khích phát triển các giống bản địa và khuyến khích chăn nuôi theo hướng hữu cơ, đảm bảo an toàn thực phẩm, hướng đến phát triển các đặc sản. Sau việc công bố chính thức xuất khẩu chính ngạch thịt lợn sang Myanmar, kế hoạch mở rộng thị trường cho XK thịt lợn thời gian tới sẽ được hướng tới như thế nào, thưa ông? Thứ trưởng Vũ Văn Tám: Trước hết sẽ tập trung vào việc nhà nước đồng hành hỗ trợ các DN lớn, các tập đoàn lớn để họ tìm kiếm thị trường đồng thời trên cơ sở yêu cầu của các tập đoàn để xây dựng các vùng nguyên liệu. DN Mavin là 1 ví dụ, tới đây thông qua đề xuất của các DN, Bộ sẽ thành lập 1 tổ công tác do Cục trưởng Cục Thú y làm tổ trưởng và các đơn vị liên quan để gắn bó và hỗ trợ các DN xây dựng vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, hợp tác với Chi cục Thú y của các nước nhập khẩu để có thể thống nhất được các tiêu chuẩn, thúc đẩy việc XK. Tới đây, Tổ chức Thú y thế giới (OIE) sẽ cử chuyên gia sang giúp hỗ trợ các DN xây dựng các vùng cơ sở an toàn dịch bệnh. Cùng với đó sẽ xem xép cấp các chứng chỉ của OIE chứng nhận các vùng cơ sở an toàn dịch bệnh cũng như toàn bộ chuỗi, đây là cơ sở để chúng ta có thể mở rộng XK. Thứ hai, chúng ta sẽ phối hợp cùng OIE để khống chế, kiểm soát dịch hại trên vật nuôi trong đó có cúm gia cầm, tai xanh, đặc biệt là lở mồm long móng. Xin cảm ơn những chia sẻ của Thứ trưởng! Đỗ Hương (Thực …

Tin mớiadmin02/07/2018
'Tìm những dự án sản xuất công nghệ cao hiệu quả thực sự rất khó'
‘Tìm những dự án sản xuất công nghệ cao hiệu quả thực sự rất khó’

Chương trình tín dụng 100.000 tỷ đồng dành cho nông nghiệp công nghệ cao từ hồi đầu năm 2017 được thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Mặc dù trong thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức nhiều cuộc họp với các ngân hàng thương mại có dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn lớn để bàn về việc triển khai chương trình nhưng đến nay con số cho vay ra vẫn còn rất khiêm tốn. Chăn nuôi thỏ công nghệ cao tại Yên Bái để cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy công nghệ sinh học chế dược phẩm từ thỏ tại Quế Võ, Bắc Ninh. (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN) Phóng viên VietnamPlus đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quốc Hùng, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế Ngân hàng Nhà nước để hiểu rõ hơn về quá trình triển khai của chương trình này. – Xin ông cho biết một số kết quả cho vay nông nghiệp công nghệ cao đến thời điểm hiện nay? Ông Nguyễn Quốc Hùng: Tính đến cuối tháng Năm, dư nợ cho vay nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch đạt hơn 38.700 tỷ đồng, với hơn 18.000 khách hàng đang có dư nợ (hơn 17.800 khách hàng cá nhân và 272 khách hàng doanh nghiệp). [100.000 tỷ đồng vốn công nghệ cao: ‘Đóng băng’ dưới tầng lớp quy định] Nguồn vốn này chủ yếu cho vay đối với nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chiếm khoảng 89%; cho vay kỳ hạn dài chiếm khoảng 55% dư nợ cho vay nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, phù hợp với thực tế đầu tư lĩnh vực này cần vốn lớn và đầu tư dài hạn. Lãi suất cho vay ngắn hạn khoảng 5,3-6,5%/năm, cho vay trung dài hạn khoảng 8,5-10%/năm. – Có vẻ như tốc độ cho vay vẫn diễn ra chậm thưa ông? Ông Nguyễn Quốc Hùng: Đúng là như vậy, hiện nay nguồn tín dụng cho vay công nghệ cao luôn sẵn sàng nhưng lại chưa có nhiều dự án phù hợp để cho vay. Những dự án lớn, làm ăn hiệu quả như TH True milk, Vinamilk, Công ty trứng gà sạch Ba Huân… hoặc một số hộ trồng hoa ở Lâm Đồng ngân hàng muốn cho những doanh nghiệp này vay nhưng họ lại không có nhu cầu nhiều về vốn ngân hàng mà chủ yếu dùng vốn tự có của mình. Cũng có một số công ty chuyên về chăn nuôi như bò, lợn… đến đặt vấn đề với ngân hàng cho vay nhưng phương án đầu tư chăn nuôi theo hình thức ứng dụng công nghệ cao nhưng đầu ra sản phẩm lại không theo con đường chính ngạch mà lại là tiểu ngạch khá bấp bênh nên ngân hàng không dám mạo hiểm cho vay. Nếu như xuất khẩu sang các nước châu Âu, nước Mỹ hay Nhật Bản thì ngân hàng hoàn toàn yên tâm và sẵn sàng cho vay. Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước đang rà soát đánh giá dự án đầu tư công nghệ cao trong nông nghiệp xem tiến độ triển khai đến đâu, hiệu quả như thế nào. Nếu hiệu quả thì tiếp tục được cho vay. Ứng dụng công nghệ cao giúp tăng năng suất lao động hiệu quả cao chẳng có lý gì ngân hàng không đầu tư. Bản thân các ngân hàng rất muốn tìm những doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp để cho vay. Nhưng giờ tìm doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả quả thực là rất khó. Nhất là những dự án mới càng phải thận trọng. Vấn đề ở đây là ngân hàng và doanh nghiệp cùng đồng hành, chia sẻ. Đồng vốn ngân hàng cho vay ra phải thu về cả gốc và lãi tiếp tục quay vòng vốn cho vay, cũng như sản phẩm doanh nghiệp làm ra phải tiêu thụ được mới đảm bảo có lợi nhuận bù đắp đủ chi phí để tiếp tục đầu tư tái sản xuất. – Điều đó chứng tỏ vẫn còn nhiều khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai chương trình này đúng không thưa ông? Ông Nguyễn Quốc Hùng: Đúng là còn nhiều vướng mắc như: Số lượng các doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn hạn chế. Cả nước hiện mới có 40 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, 3 khu, 4 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Bên cạnh đó, các tiêu chí xác định dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chưa rõ ràng, không phù hợp, gây khó khăn cho ngân hàng xác định đối tượng thụ hưởng chính sách. Nhiều doanh nghiệp chưa thực sự tham gia sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao một cách bài bản, chưa có phương án sản xuất, trả nợ vay khả thi, thị trường tiêu thụ không ổn định dẫn đến chưa đảm bảo khả năng hoàn vốn vay ngân hàng. Đặc biệt, người dân chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất nông nghiệp để làm thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm thế chấp vay vốn ngân hàng mặc dù tại Thông tư 33/2017/TT-BTNMT đã giao cho Ủy ban Nhân dân các tỉnh triển khai thực hiện. – Vậy ông có kiến nghị gì với các Bộ ngành để chương trình này được triển khai nhanh và hiệu quả hơn không? Ông Nguyễn Quốc Hùng: Ngân hàng Nhà nước đề nghị Chính phủ sớm hoàn tất thủ tục để ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 55/2015/NĐ-CP, trong đó có một số quy định giúp tăng khả năng tiếp cận vốn phục vụ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Còn Bộ Tài nguyên và Môi trường, các địa phương cần báo cáo đánh giá tình hình triển khai Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ đó có các giải pháp để tháo gỡ khó khăn về cấp giấy chứng nhận tài sản hình thành trên đất nông nghiệp cho người dân sản xuất nông nghiệp công nghệ cao để người dân có thể làm thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm, thế chấp vay vốn. – Xin cảm ơn …

Tin mớiadmin29/06/2018
Sóc Trăng xúc tiến đầu tư gắn với phát động khởi nghiệp
Sóc Trăng xúc tiến đầu tư gắn với phát động khởi nghiệp

(Chinhphu.vn) – Ban Kinh tế Trung ương cho biết, Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Sóc Trăng năm 2018 và Phát động khởi nghiệp tại Sóc Trăng dự kiến sẽ được khai mạc sáng ngày 19/6. Hội nghị xúc tiến đầu tư 2018 với sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ là dịp để Sóc Trăng quảng bá giới thiệu tiềm năng, cơ hội đầu tư và các chính sách hỗ trợ đầu tư của tỉnh, thu hút tối đa các nguồn lực đầu tư để khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Đồng thời, cũng là dịp để các nhà đầu tư, các tổ chức quốc tế gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với chính quyền và các cơ quan chức năng của tỉnh; tiếp cận các thông tin, danh mục dự án và các lĩnh vực mời gọi đầu tư của Sóc Trăng. Sóc Trăng có nhiều tiềm năng thế mạnh thu hút đầu tư. Theo Ban Kinh tế Trung ương, Sóc Trăng là tỉnh nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá là địa phương có tiềm năng lớn về phát triển nông nghiệp nhờ những điều kiện thuận lợi về thời tiết và thổ nhưỡng, thích hợp cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi. Kinh tế nông nghiệp với những sản phẩm nông sản chủ lực đã có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế địa phương. Thế mạnh của Sóc Trăng là lúa, với đặc sản và lúa thơm. Tổng sản lượng lúa cả năm 2017 đạt 2,11 triệu tấn, trong đó tỉ lệ lúa đặc sản chiếm 46,07%. Tình hình liên kết tiêu thụ lúa giữa nông dân và doanh nghiệp cũng đạt được những kết quả tích cực. Nông dân trồng lúa có lãi, lợi nhuận 43,66-57,8%, đạt mức cao ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đối với thủy sản, tổng giá trị xuất khẩu hàng thủy sản và nuôi trồng và khai thác biển đạt 570 triệu USD. Hành tím ở Sóc Trăng cũng là một đặc sản có thương hiệu với sản lượng năm 2017 là 99.575 tấn. Sản phẩm hành tím Sóc Trăng có thị trường xuất khẩu chủ yếu ở Thái Lan, Ấn Độ, Philippines, Malaysia, Indonesia… Đối với chăn nuôi, Sóc Trăng đang phát triển rất mạnh nghề chăn nuôi tại tất cả các huyện, thị xã, thành phố. Tổng đàn gia súc đến cuối năm 2017 có 340.790 con; trong đó đàn trâu có 2.983 con, đàn bò có 47.637 con, đàn heo có 290.170 con và đàn gia cầm có 6,89 triệu con. Đặc biệt, Dự án phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2013-2020 được triển khai thực hiện liên tục và mở rộng ở một số huyện với tổng đàn đạt 9.720 con, sản lượng sữa hằng năm đạt 2.880 tấn. Đặc biệt bên cạnh nông nghiệp, Sóc Trăng có ưu thế vượt trội hơn so với các địa phương trong vùng đồng bằng sông Cửu Long nhờ tiềm năng về phát triển tổng hợp kinh tế biển với các ngành như năng lượng sạch, cảng biển, dịch vụ vận tải biển… Trong đó, tiềm năng điện gió của Sóc Trăng được đánh giá là rất lớn. Theo ông Trần Văn Chuyện – Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng, nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương, hiện nay Sóc Trăng ưu tiên thu hút đầu tư ở ba lĩnh vực: Nông nghiệp công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến, Năng lượng tái tạo và Du lịch. Bên cạnh đó, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu, cụm công nghiệp, trung tâm thương mại, siêu thị, chợ; cảng biển, vận tải biển cũng được tỉnh quan tâm kêu gọi, tìm kiếm các nhà đầu tư. Hiện toàn tỉnh quy hoạch 6 khu công nghiệp nằm ở các vị trí thuận lợi về giao thông; trong đó Khu công nghiệp An Nghiệp (huyện Châu Thành) đã lấp đầy trên 90% diện tích, các khu còn lại đang được tiếp tục kêu gọi đầu tư như khu công nghiệp Trần Đề, khu công nghiệp Sông Hậu, khu công nghiệp Đại Ngãi… Bên cạnh những tiềm năng, lợi thế có thể khai thác tại địa phương, các nhà đầu tư sẽ được sự hỗ trợ trong suốt quá trình từ khi tìm hiểu dự án cho đến khi hoạt động, sản xuất kinh doanh. Trong đó, thủ tục hành chính là nội dung đầu tiên mà tỉnh cam kết thực hiện một cách thông thoáng và thuận lợi cho nhà đầu tư. Ngoài ra, tỉnh sẽ hỗ trợ tạo quỹ đất sạch để các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận và triển khai thực hiện các dự án; đồng thời đảm bảo đầu tư đồng bộ về hạ tầng đến chân hàng rào dự án. Sóc Trăng có rất nhiều tiềm năng, lợi thế nhưng chưa được khai thác, phát huy hiệu quả đúng mức. Qua Hội nghị lần này, với những tiềm năng, lợi thế của mình, cùng sự quyết tâm của chính quyền địa phương và thiện chí của nhà đầu tư, tỉnh Sóc Trăng kỳ vọng sẽ thu hút được nhiều dự án đầu tư khả thi, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh và cả khu vực. Cũng trong khuôn khổ Hội nghị dự kiến sẽ diễn ra nhiều hoạt động như: Trao quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản cam kết đầu tư với các doanh nghiệp và nhà đầu tư. Bên cạnh đó, tỉnh và một số ngành ký cam kết trong việc phát triển nông nghiệp, thương mại, mạng lưới điện; tiếp nhận quỹ an sinh xã hội… Dự kiến, tỉnh đã lập danh sách trao Quyết định chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, Bản ghi nhớ hợp tác đầu tư cho 47 dự án với tổng mức vốn đầu tư khoảng 122.880 tỷ đồng, trong đó: Quyết định chủ trương đầu tư và Giấy Chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng số vốn đăng ký đầu tư 22.646 tỷ đồng; trao văn bản cam kết đầu tư với tổng số vốn đăng ký đầu tư 100.234 tỷ đồng. Tỉnh Sóc Trăng ưu tiên kêu gọi đầu tư 83 dự án trên các lĩnh vực mà tỉnh có tiềm năng, lợi thế như: năng lượng tái tạo, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu, cụm công nghiệp; thương mại, dịch vụ và xây dựng; du lịch; giao thông vận tải; xây dựng chợ.     Huy …

Tin mớiadmin19/06/2018
Cấp phát gà giống cho nông dân
Cấp phát gà giống cho nông dân

Công việc cấp phát được thực hiện trong cùng một ngày, một địa điểm do vậy, công tác lên kế hoạch, hướng dẫn, phân công nhiệm vụ công việc cho từng bộ phận, thành viên có liên quan được chuẩn bị từ trước. Vừa qua, Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO), Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Trung tâm Khuyến nông Ninh Thuận phối hợp với các Trạm KN, Hội Phụ nữ, Ban Phòng chống thiên tai, cán bộ 3 xã Phước Thắng, huyện Bác Ái; xã Phước Kháng, huyện Thuận Bắc; xã Phước Ninh, huyện Thuận Nam cấp phát 12.600 con gà giống và 25.200kg thức ăn cho 630 hộ bị ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn của tỉnh Ninh Thuận. Dự án hỗ trợ khẩn cấp nhằm khôi phục sinh kế của những người chăn nuôi gia cầm nghèo bị ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn do hiện tượng El Nino. Dự án thực hiện tại 6 tỉnh: Gia Lai, Đắk Lắk, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kiên Giang, Bến Tre. Tỉnh Ninh Thuận có 630 hộ của 3 huyện được hưởng lợi, kế hoạch mỗi hộ được nhận 20 con gà giống (21 ngày tuổi ) và 40 kg thức ăn cho gà. Số gà cấp phát cho bà con được nhỏ mũi mắt, tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin Gumboro, Newcalse. Số gà con được cấp phát thuộc giống gà Ri lai, đàn gà đều khỏe mạnh, lanh lợi. Mỗi xã có 210 hộ được nhận gà giống và thức ăn. Công việc cấp phát được thực hiện trong cùng một ngày, một địa điểm do vậy, công tác lên kế hoạch, hướng dẫn, phân công nhiệm vụ công việc cho từng bộ phận, thành viên có liên quan được chuẩn bị từ trước. Để chuẩn bị tốt cho việc cấp phát được diễn ra thuận tiện, đúng đối tượng, trước đó Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Ninh Thuận mời các thành viên trong tổ cấp phát của các xã họp để triển khai kế hoạch. Tại buổi cấp phát hầu hết bà con đến nhận gà đều mang theo giấy mời của UBND xã, các hộ nhận gà đều đúng đối tượng, đi đúng giờ. Nhờ sự hướng dẫn của chính quyền địa phương và các ban ngành đoàn thể nên bà con đến nhận gà giống đều diễn ra nhanh chóng. Bà con chủ động mang theo vật dụng để chứa và phương tiện vận chuyển thức ăn về nhà. Công tác cấp phát diễn ra xuyên suốt trong một buổi, đảm bảo trật tự. Tháng trước, 630 hộ này đã được tập huấn về kỹ thuật nuôi gà an toàn, số gà được nhận các hộ mang về chăm sóc và nuôi dưỡng, trong quá trình nuôi khuyến nông viên xã, cán bộ phụ trách sẽ theo dõi để hỗ trợ thêm cho bà con. Sau 4 tháng nuôi, các hộ có thể bán để có lãi… CƠ …

Tin mớiadmin18/06/2018
Ngành chăn nuôi: Cần có thống kê chặt chẽ
Ngành chăn nuôi: Cần có thống kê chặt chẽ

(Chinhphu.vn) – Giữa năm 2017, giá thịt lợn đã giảm sâu kỷ lục trong hàng chục năm qua, đến nay giá thịt lợn lại chạm ngưỡng 50.000 đồng/kg – một con số cao cũng ở mức kỷ lục trong nhiều năm trở lại đây. Biên độ dao động quá lớn này đang phản ánh những bất cập trong lĩnh vực chăn nuôi hiện nay. Chăn nuôi nông hộ nên chuyển hướng chăn nuôi hữu cơ để phù hợp trong giai đoạn tới – Ảnh:VGP/Đỗ Hương Nông hộ thiếu thông tin Chăn nuôi nông hộ được xác định là một hình thức chăn nuôi vẫn có những giá trị riêng trong quá trình hướng đến công nghiệp hóa chăn nuôi. Tuy vậy, sau thời kỳ giá giảm kỷ lục vào cuối năm 2017, tình trạng nông hộ “treo chuồng” đã diễn ra và ngày càng phổ biến hơn ở các vùng quê. Ông Nguyễn Xuân Dương, Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT) nhìn nhận, hiện nay các hộ chăn nuôi thiếu thông tin về tín hiệu thị trường, thiếu hiểu biết thị trường nếu chăn nuôi rời rạc, nhỏ lẻ thì họ sẽ không biết bán cho ai. “Về thống kê, chúng ta có Tổng cục Thống kê, mỗi năm họ thống kê 4 kỳ để nắm được số lượng trong chăn nuôi, tuy nhiên cũng chỉ ở mức tương đối. Để thống kê sát nhất số đầu gia súc, chúng ta nên phối hợp với Tổng cục Thống kê để có số liệu chính xác, từ đó đưa ra chỉ đạo sát thực hơn. Chúng tôi cũng đã xác định chỉ cần 3 triệu nái với năng suất 1 nái là 21-24 con, như thế chúng ta vẫn đủ lượng thịt cung cấp cho thị trường”, ông Dương nhấn mạnh. Ông Dương cũng đưa ra khuyến cáo: “Đối với các hộ chăn nuôi nhỏ tôi cho rằng cần chuyển hướng sang chăn nuôi lợn hữu cơ, đặc sản phù hợp cho nhu cầu tiêu dùng tại chỗ. Nếu các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ không theo được con đường chăn nuôi chuyên nghiệp thì phải có chính sách chuyển nghề cho họ hơn là buộc họ phải chăn nuôi. Còn trường hợp nào có năng lực thì tiếp tục hỗ trợ để phát triển, đặc biệt hỗ trợ cho các doanh nghiệp có ký hợp đồng với nông dân, sản xuất theo chuỗi”. Dưới góc độ là doanh nghiệp hàng đầu trong thị trường chăn nuôi Việt Nam hiện nay, Ông Montri Suwanposri, Tổng giám đốc công ty cổ phần chăn nuôi C.P. Việt Nam cũng đưa ra nhận định: “Ước tính nền công nghiệp hóa chăn nuôi Việt Nam mới đi được nữa chặng đường, vẫn còn một tỉ lệ khá lớn chăn nuôi nông hộ nhỏ. Ưu thế của chăn nuôi nông hộ nhỏ là linh hoạt, dễ dàng giảm đàn để cắt lỗ cũng như tái đàn khi thuận lợi. Sự biến động này dẫn đến việc thống kê tổng đàn của cả nước còn khó khăn, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất và dễ mất cân đối cung cầu sản phẩm chăn nuôi”. Do thiếu thông tin nên mặc dù giá lợn tăng cao, nhưng theo ông Nguyễn Đăng Vang, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi hiện nay bà con chăn nuôi lại không được hưởng nhiều lợi ích. “Vì thời điểm này, đại đa số các hộ nuôi lợn nhỏ đã không còn lợn để bán do tác động của đợt khủng hoảng thừa trước đó. Đối tượng hưởng lợi lớn nhất lại là các trang trại lớn, các công ty, tập đoàn chăn nuôi bởi họ có nguồn cung dồi dào”, ông Vang nhìn nhận. Giá thịt vẫn cao đến cuối năm Dự báo về giá thịt lợn từ nay đến cuối năm, ông Nguyễn Đăng Vang, cho rằng giá sẽ vẫn ở mức cao. “Mức giá này có thể cao hơn trong thời gian tới, tuy nhiên cũng không thể cao hơn nhiều so với mức giá hiện tại nhiều do vào mùa nóng, nhu cầu tiêu dùng thịt lợn giảm đi. Còn mức giá cao thế này có thể duy trì đến bao giờ thì chưa thể dự báo được”, ông Vang đánh giá. Cùng với đó, ông Vang cũng cảnh báo nếu thịt lợn trong nước tiếp tục tăng giá, khả năng phải nhập khẩu thịt lợn rất cao. Bởi hiện nay giá lợn ở các tỉnh phía nam Trung Quốc giáp ranh với Việt Nam, giá lợn đang ở mức 35.000-36.000 đồng/kg. Ông Vang cũng đưa ra lời khuyên, người chăn nuôi đang có xu hướng tái đàn, nhưng do lợn thịt sốt giá khiến cho giá lợn giống cũng tăng cao. Do vậy, người chăn nuôi không nên tăng đàn ồ ạt, nếu mua con giống với giá cao thì chi phí chăn nuôi lớn, ngoài ra cần theo dõi thêm biến động của thị trường để quyết định việc mở rộng sản xuất cho phù hợp. Một trong những “kênh” dự báo được người chăn nuôi nghe ngóng nhất là từ các doanh nghiệp lớn có thể tạo được “cú hích” cho thị trường. Ông Montri Suwanposri, Tổng giám đốc công ty cổ phần chăn nuôi C.P. Việt Nam, nhìn nhận: “Các yếu tố sản xuất để cung cấp sản phẩm chăn nuôi cho thị trường từ nay đến cuối năm 2018 đã được hình thành tại thời điểm hiện tại, do vậy mức độ biến động giá cả do thay đổi nguồn cung là không nhiều. Người chăn nuôi heo hiện đang có lãi thì không ai giảm đàn, mà có thể sẽ tăng đàn heo nái, nhưng tăng đàn heo nái bây giờ thì một năm sau mới làm thay đổi nguồn cung cho thị trường”. Ông Nguyễn Xuân Dương, Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi cũng khuyến cáo: “Trước mắt cần tăng năng suất, tăng khối lượng thịt, đưa các sản phẩm ra thị trường nhanh nhất có thể. Đối với lợn thịt, người chăn nuôi cần có biện pháp vỗ béo tốt, như thế chúng ta sẽ có một khối lượng thịt đáng kể. Chúng ta cần tăng cao ngay năng suất sinh sản lợn giống thương phẩm phục vụ giết thịt. Để tăng cao năng suất chúng ta cần cho lợn ăn thức ăn tốt và sử dụng vắc xin đầy đủ làm cho lợn khoẻ, có như thế lợn sinh sản mới cao”. Cụ thể, với lợn hậu bị, ông Dương cho rằng không nên vào giống ồ ạt bởi vì vào giống bây giờ thì 15 tháng sau mới có lợn con, lúc đó giá có còn cao hay không. “Chúng tôi khuyến cáo nông dân chỉ vào giống từ 10-15%, nếu chúng ta vào giống như thế sẽ không phá vỡ quy mô đàn nái”, ông Dương khẳng định. Đỗ …

Tin mớiadmin14/06/2018
Thị trường trong nước tiếp tục được duy trì ổn định trong tháng 5
Thị trường trong nước tiếp tục được duy trì ổn định trong tháng 5

Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho biết, trong tháng 5 thị trường trong nước tiếp tục được duy trì ổn định, các mặt hàng nông sản, thực phẩm sản xuất thuận lợi, nguồn cung tăng và giá giảm.   Đáng lưu ý, riêng đối với mặt hàng thịt lợn quy mô chăn nuôi giảm mạnh, mặt dù nguồn cung đủ nhưng tâm lý giữ hàng khiến giá thị lợn tăng so với cùng kỳ năm 2017. Hơn nữa, công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường được đẩy mạnh nhằm ngăn chặn các hành vi tăng giá bất hợp lý, buôn bán, vận chuyển hàng cấm, hàng nhập lậu, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm. Theo đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội tháng 5 đạt 354.049 tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2017. Như vậy, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của cả nước 5 tháng đầu năm đạt 1.752,689 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2017. Đáng lưu ý mức tăng chủ yếu vẫn tập trung ở các nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, hàng may mặc, đồ dùng gia đình (các nhóm chiếm tỷ trọng lớn). Đặc biệt nhóm du lịch tăng mạnh 23% so với cùng kỳ năm trước do bắt dầu vào mùa du lịch và ảnh hưởng của sự phục hồi kinh tế cùng với nỗ lực phát triển của ngành du lịch Việt Nam. Tuy nhiên theo giới phân tích, mặc dù 5 tháng đầu năm đã đạt được kết quả rất tích cực nhưng trong thời gian tới áp lực lạm phát là rất lớn. Không những thế, rủi ro về áp lực tăng giá chủ yếu đến từ yếu tố thị trường như xu hướng phục hồi của giá xăng dầu và một số nguyên liệu chính trên thị trường thế giới, gắn với đó là việc tiếp tục thực hiện lộ trình giá thị trường đối với một số dịch vụ công (dịch vụ y tế, giáo dục, dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước…). Hơn nữa, giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng dự báo sẽ tăng do ảnh hưởng thời tiết chuyển mùa nóng tác động lên giá điện và giá nước lũy tiến… Đặc biệt, việc điều chỉnh lương cơ bản từ ngày 1/7 tới sẽ tác động đến giá các mặt hàng và nhu cầu tiêu dùng trong nước. Do vậy, các chuyên gia cho rằng những tháng còn lại của năm 2018, điều quan trọng nhất vẫn phải bám sát để điều hành bảo đảm ổn định vĩ mô. Đồng thời, phải làm tiền đề, dư địa cho bước phát triển của năm 2019 và những năm tiếp theo. Để duy trì ổn định cho thị trường trong nước, Bộ Công Thương cho biết, Liên Bộ Tài chính-Công Thương tiếp tục điều hành giá xăng dầu trong nước hài hòa, sử dụng hợp lý Quỹ Bình ổn giá với liều lượng thích hợp. Cùng đó, chủ động có kịch bản ứng phó nếu giá xăng dầu tăng cao trong quý II nhằm tạo dư địa thuận lợi cho việc kiểm soát mặt bằng giá cả năm 2018. Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng tiếp tục củng cố và kiện toàn hệ thống phân phối hàng hóa, nhất là một số mặt hàng thiết yếu còn chậm. Mặt khác, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành bán buôn, bán lẻ cũng như xây dựng chuỗi tiêu thụ nông sản, từ sản xuất đến hệ thống phân phối. Đặc biệt, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại nội địa và khuyến khích tiêu dùng nội địa và thực hiện có hiệu quả Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, Đề án phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam.” Bộ cũng sẽ triển khai có hiệu quả Chiến lược phát triển thương mại trong nước giai đoạn đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035 sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm tạo sự chuyển biến căn bản và bền vững hơn cho khu vực thị trường trong nước, tiếp tục làm trụ đỡ quan trọng cho tăng trưởng kinh tế những năm tiếp …

Tin mớiadmin12/06/2018
Người Thái nuôi vịt trời ở lòng hồ thuỷ điện Sơn La
Người Thái nuôi vịt trời ở lòng hồ thuỷ điện Sơn La

Vùng lòng hồ thuỷ điện Sơn La có nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào cho vịt trời và vịt nuôi ở đây ít bị dịch bệnh. Xã Chiềng Bằng (Quỳnh Nhai) là nơi tập trung nhiều hộ dân người Thái thuộc diện tái định cư thủy điện Sơn La. Gần đây, người dân phát triển mô hình nuôi vịt trời trên sông Đà bước đầu đạt kết quả tốt. Trong lòng hồ thuỷ điện Sơn La, người dân nuôi vịt trời theo bè và mỗi bè thả hàng trăm con vịt trời. Gia đình ông Lò Văn Khặn, người dân tộc Thái ở bản Co Trặm (xã Chiềng Bằng, Quỳnh Nhai) là hộ dân đầu tiên phát triển mô hình này vào năm 2015. Mỗi ngày người nuôi cho vịt ăn 2 lần. “Nuôi vịt trời trên vùng lòng hồ rất thuận lợi. Vịt ít bệnh, nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào. Sau một năm, từ 100 con ban đầu tôi đã nhân giống được 2.000 con”, anh Lò Văn Khặn chia sẻ. Cùng với nuôi con vịt thương phẩm, anh Khặn còn bán giống cho bà con trong vùng. Thức ăn chính của vịt là ngô, sắn, cây chuối và cá tép đánh bắt trên lòng hồ; vịt lớn rất nhanh. Mỗi ngày đàn vịt đẻ hàng trăm trứng, quả trứng dài to là con đực, thon nhỏ là con cái và sẽ được đưa vào ấp riêng. Trung bình mỗi lồng nuôi 50 con cái sẽ có 5 con đực để nhân giống. Nhiều con vịt tự phá lưới bay ra ngoài nhưng chỉ vài hôm sau lại tìm cách bay về kiếm ăn quanh bè nuôi, bởi nó đã quen với nguồn thức ăn hàng ngày. Vịt thương phẩm bán cho các nhà hàng ở Điện Biên, Sơn La. Trung bình mỗi gia đình nuôi vịt trời ở lòng hồ thuỷ điện Sơn La bán một lứa mỗi năm với khoảng hơn 2.000 con, thu hơn 300 triệu …

Tin mớiadmin07/06/2018
Hà Giang: Nâng cao hiệu quả dạy nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Hà Giang: Nâng cao hiệu quả dạy nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn

Qua công tác đào tạo nghề đã góp phần nâng cao nguồn nhân lực cho lao động nông thôn của tỉnh; nâng tỷ lệ lao động nông thôn của Hà Giang qua đào tạo nghề từ 26,8% đầu năm 2012 lên 37,9% vào cuối năm 2017. Trong 5 năm (từ 2013- 2017), tỉnh Hà Giang đã đào tạo nghề cho trên 75 nghìn người, trong đó có trên 67 nghìn lao động nông thôn được đào tạo sơ cấp nghề; trong các ngành nghề được đào tạo đã có gần 30.500 nông dân được học các nghề phi nông nghiệp như điện dân dụng, sửa chữa xe máy, kỹ thuật gò hàn, các nghề truyền thống… và khoảng 36,6 nghìn người được đào tạo các nghề nông nghiệp; tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề của lao động nông thôn đạt trên 62%. Có thể kể đến một số mô hình đào tạo nghề cho nông dân điển hình như: Đào tạo kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái và chế biến chè cho nông dân tại huyện Vị Xuyên; đào tạo về kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại cây cam sành tại huyện Bắc Quang; đào tạo kỹ thuật trồng rau an toàn cho nông dân tại huyện Quản Bạ và TP Hà Giang; đào tạo kỹ thuật trồng, thu hái và sơ chế cây dược liệu tại 6 huyện 30a…. Qua công tác đào tạo nghề đã góp phần nâng cao nguồn nhân lực cho lao động nông thôn của tỉnh; nâng tỷ lệ lao động nông thôn của Hà Giang qua đào tạo nghề từ 26,8% đầu năm 2012 lên 37,9% vào cuối năm 2017. Đây chính là nền tảng quan trọng giúp Hà Giang đẩy nhanh quá trình xóa đói giảm nghèo, xây dựng NTM trong giai đoạn trước mắt và lâu dài. Cũng qua khảo sát, trên 58% những người nông dân đã qua đào tạo nghề nông nghiệp đã tự vay vốn để xây dựng các trang trại trồng trọt kết hợp với chăn nuôi cho thu nhập cao; gần 50% nông dân được đào tạo các nghề phi nông nghiệp đã tự mở cửa hàng, liên kết với cơ sở khác hoặc tham gia làm công cho các cửa hàng sửa xe máy, gò hàn, sửa chữa điện dân dụng… Hà Giang đề ra mục tiêu trong 5 năm, từ năm 2018 đến năm 2012 sẽ đào tạo nghề cho trên 65 nghìn lao động nông thôn, trong đó đào tạo trình độ sơ cấp nghề cho 55 nghìn người; số lao động nông thôn được học các nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp đạt 57%, lao động nông thôn được các nghề phi nông nghiệp đạt 43%. PHẠM VĂN …

Tin mớiadmin07/06/2018
Tiến sỹ sử học lập trang trại nuôi gà sạch đẹp như khu du lịch
Tiến sỹ sử học lập trang trại nuôi gà sạch đẹp như khu du lịch

Là giảng viên Bộ môn Lịch sử, TS Thông Thanh Khánh (dân tộc Chăm, Bình Thuận) lại có niềm say mê với ngành nông nghiệp. Nghỉ dạy học, thất bại với lần khởi nghiệp nuôi heo rừng, TS Khánh chuyển hướng nghiên cứu để phát triển mô hình nuôi gà sạch… Gà con được nuôi trong chuồng úm   Trang trại gà của anh Khánh tại khu Tắc Cá Cháy, ấp Dơi Lầu, xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ, TP.HCM với diện tích hàng chục ha. Đặt chân vào trang trại, tôi cứ ngỡ mình tới nhầm khu du lịch, bởi một không gian thoáng đãng, với dãy nhà ở, nhà ăn và cả sân chơi bóng, đều sạch sẽ, mát mẻ dành cho công nhân cũng như các đoàn khách đến tham quan, trao đổi kinh nghiệm nuôi gà. Trước khi bước vào khu nuôi, tôi phải rửa chân tay, xịt khuẩn, mặc áo bảo hộ, đi ủng. Bước vào khu vực nuôi, tôi ngạc nhiên bởi không hề thấy mùi hôi của phân gà… Anh Khánh kể, năm 2009, vợ chồng anh bắt đầu xây dựng mô hình nuôi heo rừng tại Cần Giờ, với mong muốn đem đến một sản phẩm sạch, dòng heo lạ cung cấp cho thị trường TP.HCM. Anh Khánh nuôi 1.000 con heo rừng, khi xuất chuồng bán thì lại gặp khó khăn ở đầu ra. Cuối cùng phải bán đổ bán tháo và nghỉ nuôi heo rừng. “Gà giò” được tự do chạy nhảy trong chuồng “Đặc trưng của con gà nòi Bến Tre là chống chịu được với môi trường của phía Nam, thịt không dai, chất lượng ngon, thơm, trọng lượng gà tầm 1,2 – 1,8 kg/con nuôi trong vòng 5 tháng”, anh Khánh chia sẻ. Tại khu nuôi gà với diện tích 10ha, anh Khánh phân chia theo từng khu như: khu chuồng úm gà con, khu chuồng nuôi gà thịt, khu cách ly gà bệnh, xử lý gà chết, khu xử lý nước uống cho gà, khu xử lý đệm lót sinh học và ủ phân vi sinh… Quy trình nuôi gà cũng rất cầu kỳ: trứng được đưa vào lò ấp nở tại cơ sở ở Bến Tre, gà ra đời sẽ được tiêm vắc xin và được đưa trở lại Cần Giờ. Sau đó, gà con được đưa vào chuồng úm, cách ly dịch bệnh. Thời gian này, thức ăn của gà gồm tấm, gạo lức, bột ngô, đậu nành, bột cá, bánh cá trộn lẫn và được nấu chín. Năm 2011 – 2012, anh Khánh xách cặp đi học hỏi từ Nam ra Bắc, kể cả sang tận Ma rốc để nghiên cứu về gà. Sau khi nuôi thử nghiệm nhiều giống, cuối cùng anh chọn được giống gà nòi Bến Tre. Anh Khánh về vùng Ba Tri, Bến Tre kết hợp với những hộ còn nuôi gà thuần, không bị lai tạp, rồi lấy trứng về ấp và nhân giống. Sau 21 ngày, gà được đưa sang chuồng nuôi “gà giò”. Đây là giai đoạn rất quan trọng, cần liều lượng thức ăn đúng để chúng phát triển tốt nhất. Cụ thể, đậu nành được mua từ Campuchia (trồng theo yêu cầu của anh Khánh), đậu xanh của Bình Thuận không xịt thuốc, bắp không biến đổi gen, tất cả được ngâm và nấu lên cùng với bã hèm cho gà ăn. Sau 55 ngày tuổi, thức ăn cho gà gồm 3 loại chính là lúa, bắp, đậu tương nấu chín, ngoài ra còn bổ sung thêm cỏ voi, củ sắn, củ khoai lang, trái quýt. Để phòng và điều trị bệnh, anh Khánh chỉ sử dụng tỏi, nghệ, gừng, sả, hoa hồi và một số vị thuốc nam trộn lại ngâm rượu làm thuốc. Nước uống được lọc xử lý và thường xuyên đem đi kiểm nghiệm. Đặc biệt, công nhân ở đây nếu có đi ra ngoài tiếp xúc với người khác thì phải nghỉ 2 ngày để được cách ly các dịch bệnh. Áo mặc hàng ngày trong trang trại đều phải qua khử trùng tiêu độc. “Đó là lý do vì sao tôi cải tạo nơi đây thành một môi trường trong lành, để công nhân là người dân tộc Chăm quê tôi cảm thấy thoải mái nhất khi chăm sóc gà. Nông nghiệp là phải xanh, phải sạch”, anh Khánh vui vẻ nói. Thức ăn của gà được nấu chín Buồng chứa thức ăn cho gà Khu xử lý nước sạch cho gà và nơi khử trùng dụng cụ Các đoàn khách tham quan tại trang trại gà của anh Khánh Trung bình một chu kỳ nuôi gà nòi tại trang trại của anh Khánh là 15.000 con/ha trong vòng 5 tháng, chi phí đầu tư khoảng 2 tỷ đồng, lãi khoảng 300 triệu đồng cho mỗi chu kỳ nuôi. Trong thời gian tới, anh sẽ tiếp tục hoàn chỉnh mọi công đoạn để phát triển thêm lượng gà nuôi mỗi chu kỳ, đồng thời đăng ký bảo hộ cho thương hiệu Gà Rừng …

Tin mớiadmin07/06/2018
Cập nhật danh sách cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước và cơ quan kiểm tra nhà nước về thực phẩm nhập khẩu
Cập nhật danh sách cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước và cơ quan kiểm tra nhà nước về thực phẩm nhập khẩu

Thực hiện quy định tại Thông tư liên tịch số 20/2013/TTLT-BYT-BCT-BNNPTNT ngày 01/8/2013 quy định điều kiện, trình tự thủ tục chỉ định cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước và Thông tư số 28/2013/TT-BCT ngày 06/11/2013 quy định kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương, Vụ Khoa học và Công nghệ thông báo 02 danh sách các đơn vị đã được Bộ Công Thương chỉ định, tính đến ngày 31/5/2018, còn hiệu lực gồm: – Cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước (tại đây). – Cơ quan kiểm tra nhà nước về thực phẩm nhập khẩu (tại đây). Vụ Khoa học và Công nghệ – Bộ Công …

Tin mớiadmin06/06/2018
Sản phẩm hữu cơ Việt đi 'chinh phục' thị trường Thái
Sản phẩm hữu cơ Việt đi ‘chinh phục’ thị trường Thái

Thông tin từ hội chợ ThaiFex 2018 cho biết, trong 3 ngày qua các doanh nghiệp của Việt Nam tại hội chợ đã đón tiếp nhiều đoàn khách quốc tế đến tham quan, trao đổi tại các gian hàng trưng bày. Gian hàng của đoàn Việt Nam được trưng bày ấn tượng tại ThaiFex 2018 (Ảnh: BSA) Tới Thái Lan lần này, đoàn Việt Nam đem đến những sản phẩm nông sản, thực phẩm mới độc đáo, thiên về thiên nhiên. Đại diện VinEco cho biết, chỉ trong ngày đầu tiên VinEco đã tiếp 25 khách hàng là các doanh nghiệp quan tâm đến sản phẩm của VinEco. Tuy nhiên, điều bất lợi là Thái Lan bảo trợ cho sản phẩm nông nghiệp rất chặt chẽ, hải quan cũng làm căng với nông sản VN. Bên cạnh đó, Thái có luật bảo vệ nông dân và nông sản họ đến cùng. Do đó, nếu thực hiện tất cả các thủ tục như là kiểm dịch… thì chi phí xuất hàng sang Thái Lan sẽ rất cao. Trong khi đó, anh Nguyễn Xuân Hiếu, phụ trách thị trường khu vực châu Á, châu Phi của cà phê Trung Nguyên cho biết, khách hàng ở đây đến từ rất nhiều nước như Mỹ, Úc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan… “ThaiFex 2017 đem về cho Trung Nguyên 1,5 triệu USD, năm nay chúng tôi muốn phát triển lên khoảng 3 triệu USD. Chúng tôi đã nhận được những phản hồi rất tích cực của khách hàng với sản phẩm cà phê G7. Tuy nhiên, người Thái chưa rõ về sản phẩm cà phê rang xay, đến ThaiFex chúng tôi mong sẽ tìm được những nhà phân phối mới cho sản phẩm cà phê rang xay này”. Có thể nói, những sản phẩm của Việt Nam thu hút khách tại ThaiFex 2018 nhất là gạo, dừa và trái cây sấy. Gạo trưng bày trên những chiếc thuyền thúng khổng lồ đường kính 1,5m được khách tham quan và doanh nghiệp các nước thích thú. Nhiều khách hàng cũng rất quan tâm đến từng loại gạo hữu cơ của Sóc Trăng, Cà Mau, Cần Thơ. Năm nay, Vinamit mang sang Thái những sản phẩm mới phát triển thiên về hữu cơ như gạo organic, xoài organic, chuối organic… đặc biệt còn có sữa chua sấy thiên về sức khỏe và có sự khác biệt so với sản phẩm các nước Thái Lan, Malaysia… Bà Đặng Thị Diễm Thúy, phụ trách mảng kinh doanh nội địa, Cty CP Vinamit cho biết, khi khách hàng đến gian hàng và dùng thử sản phẩm của Vinamit, họ có nhiều ấn tượng về chất lượng và sản phẩm có vị rất khác biệt với sản phẩm cùng loại ở Thái Lan. Vị sản phẩm không quá ngọt và màu sắc không đậm như sản phẩm của Thái. Phụ trách Marketing Cty Betrimex, bà Lê Phương Thảo chia sẻ: “Từng sản phẩm Betrimex tạo ra đều 100% tự nhiên, đây là điểm mà chúng tôi tự tin giới thiệu với khách hàng Mỹ, châu Âu, châu Á… Với thị trường châu Á, nước dừa vẫn đang là sản phẩm chủ lực của chúng tôi và ThaiFex là nơi chúng tôi tìm thêm những bạn hàng mới”. Theo bà Alice Sim Bee Oui, giám đốc phát triển Cty Tai Foong USA, trước nay mua gạo của Thái Lan thông qua đối tác CJ để làm đồ ăn tiện lợi, nhưng nguồn gạo từ Thái Lan không ổn định về một số mặt. Bà Alice đã tìm đến gian hàng gạo hữu cơ Việt Nam đặt vấn đề để qua CJ mua gạo hữu cơ Việt Nam đưa vào trong thành phần đồ ăn tiện lợi của Tai Foong USA. Qua các gian hàng của các nước tại hội chợ ThaiFex 2018, bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hội DN HVNCLC nhận xét: “Có thể nói bao bì sản phẩm Việt, nhìn chung còn thua các nước, chuyện ấy không mới. Cái mới là chúng ta đang đua kịch liệt về thay đổi chất liệu và kỹ thuật. Về chất lượng, độ tinh tế thì sản phẩm Việt Nam khá nổi trội. Như trái cây sấy thì công nghệ sấy lạnh và sinh học của Vinamit không thua gì quốc gia nào. Khách Nhật vào nếm thử miếng sầu riêng thì tròn mắt tâm phục, còn yaourt đông khô dòn và thơm, tan trong miệng hấp dẫn hơn hẳn các sản phẩm của Thái cùng loại”. NGUYỄN …

Tin mớiadmin06/06/2018
Thị trường bán lẻ Thành phố Hồ Chí Minh đang phát triển mạnh
Thị trường bán lẻ Thành phố Hồ Chí Minh đang phát triển mạnh

Ngày 5/6, Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh công bố doanh thu bán lẻ hàng hóa sáu tháng đầu năm 2018 ước đạt hơn 328.582 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 65,38% trong tổng mức bản lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ, tăng 12,9% so cùng kỳ năm 2017 (cùng kỳ tăng 12,1%). Khách hàng chọn mua các mặt hàng nông sản thực phẩm tại siêu thị. (Ảnh: Mỹ Phương/TTXVN) Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường bán lẻ đang tạo cơ hội lớn cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và cung ứng trong nước đưa hàng vào kênh bán lẻ hiện đại. Đánh giá về tình hình thị trường, giá cả, ông Nguyễn Phương Đông, Phó Giám đốc Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng thị trường sáu tháng đầu năm trên địa bàn thành phố nhìn chung tương đối ổn định, không xảy ra hiện tượng khan hàng, sốt giá. Riêng mặt hàng thịt lợn trong tháng 4-5/2018, thị trường nguyên liệu (lợn hơi) bắt đầu biến động tăng lên mức 40.000-45.000 đồng/kg. Nguyên nhân chủ yếu do sau hơn một năm duy trì giá thấp, nhiều người chăn nuôi đã chủ động giảm đàn, tác động đến nguồn cung. Trước tình hình đó, giá thịt lợn bình ổn thị trường được điều chỉnh hợp lý, đúng thời điểm, tác động thị trường thịt lợn diễn biến tương đối ổn định, khách quan, phản ánh đúng quy luật thị trường. Trong sáu tháng đầu năm 2018, Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai Chương trình bình ổn gắn với việc thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam,” hàng hóa trong chương trình phải đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm. Chương trình có 90 đơn vị tham gia, gồm 78 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và 12 tổ chức tín dụng (tăng ba đơn vị so năm 2017). [Chỉ số sản xuất công nghiệp TP Hồ Chí Minh có xu hướng chững lại] Mặt khác, các mặt hàng tham gia chương trình bình ổn phong phú, đa dạng, sản lượng hàng hóa của từng nhóm mặt hàng chiếm khoảng 25-40% nhu cầu thị trường và tăng bình quân 15-35% so với kết quả thực hiện năm 2017. Bên cạnh đó, tổng nguồn vốn đăng ký hỗ trợ doanh nghiệp vay thực hiện bốn chương trình bình ổn là 19.650 tỷ đồng, tăng 8,14% (1.480 tỷ đồng) so năm 2017; lãi suất tương đương năm 2017 (ngắn hạn 5,5-7%/năm, trung và dài hạn 9-10%/năm). Đặc biệt, từ đầu năm 2018 đến nay, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thúc đẩy xây dựng thương hiệu, nâng cao uy tín cho các chương trình nói chung và doanh nghiệp, sản phẩm bình ổn thị trường nói riêng, thông qua việc đẩy mạnh truyền thông, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường trên cả nước. Đồng thời, hỗ trợ các địa phương thực hiện chương trình bình ổn thị trường, trọng tâm là các tỉnh, thành Đông-Tây Nam bộ; doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư, xây dựng cơ sở sản xuất, nuôi trồng theo hướng hiện đại, năng suất cao. Song song đó, Thành phố Hồ Chí Minh tăng cường thực hiện các hoạt động kết nối cung – cầu đối với sản phẩm đạt chuẩn an toàn. Từ đó, thúc đẩy phát triển mạng lưới điểm bán hàng bình ổn thị trường, kinh doanh 100% hàng Việt Nam và là điểm bán thực phẩm an toàn được sản xuất, nuôi trồng theo các quy trình VietGAP, GlobalGAP, HACCP… phù hợp với nhu cầu thị trường. Ngoài ra, thành phố tiếp tục đưa logo của chương trình vào các mặt hàng bình ổn nhằm nâng cao khả năng nhận diện cho người tiêu dùng trong quá trình mua sắm; qua đó, góp phần tạo sức lan tỏa sâu rộng trong nhân dân về hiệu quả và ý nghĩa của chương …

Tin mớiadmin06/06/2018
'Nữ hoàng' cỏ khô
‘Nữ hoàng’ cỏ khô

Sau gần 4 năm dày công khảo nghiệm và chọn lọc, Viện Cây lương thực – Cây thực phẩm (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam) đang đi tới thành công trong việc nghiên cứu giống cỏ Alfalfa thích hợp để đưa ra SX tại Việt Nam. Giống cỏ Alfalfa AF1 trồng thử nghiệm tại TH True Milk Cỏ cây Alfalfa (Medicago sativa L.) hay còn có tên là cỏ cây Linh lăng, thuộc họ Đậu (Fabaceae) là cây thức ăn chăn nuôi (TĂCN) đặc biệt quan trọng bởi khả năng cung cấp đa dạng các thành phần dinh dưỡng như Acid amin, Vitamin, Protein, Betacaroten, Acid hữu cơ, Ancaloid, Fitoleid… Tất cả 12 acid amin không thay thế đều có hàm lượng khá cao trong Alfalfa. Vì vậy với ngành chăn nuôi gia súc, cỏ Alfalfa được mệnh danh là “nữ hoàng cỏ khô”. Đặc biệt đối với chăn nuôi bò sữa, đây là thành phần thức ăn không thể thiếu bởi cỏ Alfalfa có khả năng cho năng suất cũng như hàm lượng dinh dưỡng của sữa tăng lên đáng kể. Theo các nghiên cứu, chỉ cần chiếm 15 – 20% khẩu phần thức ăn thô, loài cỏ này có thể giúp bò sữa tăng thêm 15 – 20% lượng sữa/ngày với chất lượng tuyệt hảo. Mặc dù là thành phần tối quan trọng trong chăn nuôi bò sữa, nhưng cho tới nay, tại Việt Nam vẫn chưa có đơn vị nào thành công trong việc nghiên cứu, khảo nghiệm loài cỏ này để đưa ra SX. Vì vậy, các Cty sữa lớn như Vinamilk, TH True Milk, Mộc Châu… hàng năm vẫn phải NK khoảng 900 nghìn tấn cỏ Alfalfa và nhu cầu ngày càng tăng. Đánh giá được nhu cầu bức thiết của cỏ Alfalfa tại Việt Nam, từ năm 2015, Viện CLT – CTP đã bắt tay triển khai đề tài nghiên cứu, chọn tạo giống cỏ Alfalfa nhập nội làm nguyên liệu TĂCN. Theo TS Nguyễn Văn Thắng, Phó Viện trưởng Viện CLT – CTP, sau gần 4 năm triển khai đề tài nghiên cứu, Viện đã nhập nội và tiến hành khảo nghiệm đối với trên 45 giống cỏ Alfalfa từ nhiều quốc gia khác nhau có điều kiện khí hậu tương đồng nhất với Việt Nam như Trung Quốc, Argentina, Mỹ, Úc, Ấn Độ, Jordan, Đài Loan… Đến thời điểm hiện tại, Viện đã lựa chọn và khẳng định được ít nhất 1 giống cỏ Alfalfa có khả năng thích nghi, phù hợp cao với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng tại Việt Nam (tạm đặt tên là giống AF1). Giống có khả năng cho năng suất, hàm lượng dinh dưỡng rất cao. Đặc biệt qua 4 năm khảo nghiệm, giống cho thấy thích nghi với đặc thù khí hậu tại các tỉnh phía Bắc, nhất là khu vực Bắc Trung Bộ, nơi có vùng chăn nuôi bò sữa lớn. TS Nguyễn Văn Thắng cho biết: Cuối năm 2017, TH True Milk đã thí điểm đưa vào trồng giống cỏ AF1 và AF2 do Viện nghiên cứu chọn tạo trên diện tích 2.000m2 tại vùng nguyên liệu TĂCN ở Nghĩa Đàn (Nghệ An), áp dụng chủ động tưới tiêu. Kết quả cho thấy, giống cỏ này phát triển rất tốt vào vụ đông và đông xuân. Sau gieo 2 tháng, có thể cho thu hoạch lứa đầu, sau đó trung bình cho thu hoạch các lứa tái sinh trong vòng 30 – 35 ngày/lần. Đặc biệt, giống có khả năng tái sinh rất mạnh, trong đó từ lứa tái sinh thứ 2 và thứ 3 cho năng suất cao nhất trong chu kỳ. Giống cỏ AF1 trồng khảo nghiệm năm thứ 4 tại Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Trên diện tích 2.000m2 tại TH True Milk trong vụ đông và đông xuân vừa qua, trong thời gian 5 tháng (gieo từ đầu tháng 12/2017 đến đầu tháng 4/2018), giống AF1 có khả năng cho thu hoạch 3 lứa (1 lứa đầu và 2 lứa tái sinh), với tổng sản lượng cỏ tươi (quy ra tấn/ha) là 37,5 tấn/ha (trung bình từ 12 – 14 tấn/ha/lứa). Theo tính toán của các Cty chăn nuôi bò sữa, chỉ cần năng suất cỏ Alfalfa trồng tại Việt Nam đạt trung bình 25 tấn cỏ tươi/ha/chu kỳ, giá thành đầu tư để trồng có thể rẻ hơn so với việc NK cỏ Alfalfa từ nước ngoài. Vì vậy, với năng suất thực tế của giống AF1 hiện nay xoay quanh 40 tấn/ha/chu kỳ, nếu trừ tỉ lệ hao hụt, đã vượt xa kỳ vọng của các Cty bò sữa. Điều này đang mở ra triển vọng để đưa ra SX giống cỏ Alfalfa đại trà nhằm phục vụ chăn nuôi bò sữa trong thời gian tới. Trên thực tế, TS Nguyễn Văn Thắng đánh giá: Các kết quả khảo nghiệm đối với nhiều giống cỏ Alfalfa tại nhiều vùng sinh thái của Việt Nam thời gian qua (gồm Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ, ĐBSH) cho thấy, cỏ Alfalfa không phù hợp với điều kiện tại các tỉnh Nam Trung Bộ, mà phù hợp hơn với các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là vùng Bắc Trung Bộ và ĐBSH trong khoảng thời vụ từ cuối năm trước tới giữa năm sau (kéo dài từ 6 – 8 tháng). Trong khoảng thời gian này, riêng giống cỏ AF1 có thể cho thu hoạch trung bình 5 lứa. Nếu có thâm canh, chủ động tưới, năng suất cỏ tươi bình quân có thể đạt 20 tấn/lứa, tương đương 100 tấn/chu kỳ, vượt xa rất nhiều lần so với năng suất kỳ vọng mà các DN bò sữa đặt ra hiện nay. Trước những kết quả rất khả quan này, được biết trong năm 2018, TH True Milk sẽ có kế hoạch đưa giống cỏ AF1 ra SX trên diện rộng, với diện tích dự kiến khoảng 10 – 20ha tại Nghĩa Đàn, áp dụng cơ giới hóa 100% trong quá trình canh tác và thu hoạch nhằm từng bước thay thế nguồn cỏ NK. Bên cạnh đó, Vinamilk cũng đã có kế hoạch đưa vào SX thử giống cỏ này tại một số địa phương. LÊ …

Tin mớiadmin05/06/2018
Các ngành cần xử lý kịp thời khi các mặt hàng tăng giá đột biến
Các ngành cần xử lý kịp thời khi các mặt hàng tăng giá đột biến

Bộ Công Thương cho biết, trong tháng Năm vừa qua thị trường có những biến động về giá và cung cầu của các mặt hàng nhóm nhiên liệu, năng lượng, nông sản trên thị trường thế giới đã ảnh hưởng lớn đến thị trường các nhóm hàng này ở trong nước. Đưa ra minh chứng cụ thể, Bộ cho hay: việc Hoa Kỳ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân được ký giữa Iran và nhóm P5+1 (gồm Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Trung Quốc, Nga và Đức) và nhiều khả năng sẽ tiến hành trừng phạt Iran. Thêm vào đó, Hoa Kỳ thông báo các biện pháp trừng phạt mới trong các lĩnh vực dầu lửa và tài chính nhắm vào Venezuela sau cuộc bầu cử Tổng thống nước này. Những nhân tố trên đã đẩy giá dầu thô tăng mạnh trong tháng Năm vừa qua (dầu Brent đã có lúc đạt mức trên 80 USD/thùng trong ngày 17/5 vừa qua, mức cao nhất kể từ tháng 11/2014). Bên cạnh đó, giá một số nông sản biến động thất thường cũng ảnh hưởng lớn đến giá cả hàng hóa trong nước. Phân tích cụ thể hơn về vấn đề này, theo các chuyên gia thương mại Bộ Công Thương, dù nguồn cung và nhu cầu đối với các mặt hàng xăng dầu, khí hóa lỏng (LPG) trong nước không có biến động lớn nhưng ảnh hưởng từ giá thế giới nên giá các mặt hàng này tăng cao. Ngoài ra, với nhóm hàng nông sản, thực phẩm do nguồn cung mặt hàng thịt lợn giảm khi quy mô chăn nuôi tại các hộ gia đình giảm mạnh nên nguồn hàng cung cấp cho thị trường chủ yếu từ các trang trại. Riêng mặt hàng gạo, nguồn cung trong nước vẫn ổn định nhưng với nhu cầu thu mua phục vụ xuất khẩu tăng khi Việt Nam trúng nhiều gói thầu liên tiếp khiến giá gạo nguyên liệu tăng mạnh. Thống kê từ Bộ Công Thương cho thấy, trong tháng Năm vừa qua mức bán lẻ hàng hóa đạt 354.049 tỷ đồng, tăng 1,51% so với tháng trước. [Xuất khẩu rau quả Việt Nam và mục tiêu cán mốc 10 tỷ USD] Theo đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ từ đầu năm đến nay đạt 1.752.689 tỷ đồng, tăng 10,05% so với cùng kỳ năm trước. Đáng lưu ý, mức tăng chủ yếu vẫn nhờ các nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, hàng may mặc, đồ dùng gia đình và du lịch. Nhận định từ các chuyên gia thương mại cho rằng, thị trường hàng hóa sẽ chịu tác động của các yếu tố như giá các mặt hàng nhóm nhiên liệu, năng lượng, nông sản trên thị trường thế giới vẫn đang biến động khá mạnh. Đặc biệt, mùa nắng nóng, nhu cầu điện nước sinh hoạt tăng nên mặt bằng giá tăng. Nhu cầu một số mặt hàng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất tăng, tuy nhiên do nguồn cung trong nước vẫn tốt nên giá không có biến động lớn. Để tiếp tục ổn định sản xuất, đảm bảo cân đối cung cầu, các chuyên gia thương mại khuyến cáo Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo dõi sát diễn biến tình hình cung-cầu thóc gạo và có biện pháp xử lý kịp thời khi các mặt hàng này tăng giá đột biến hoặc bất hợp lý. Hơn nữa, yêu cầu Hiệp hội Lương thực Việt Nam chỉ đạo các doanh nghiệp xuất khẩu thường xuyên duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu tương đương 10% số lượng gạo mà thương nhân đã xuất khẩu trong 6 tháng trước đó để đảm bảo nguồn cung. Ngoài ra, các ngành và địa phương nên tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ trong việc điều phối thị trường và giá cả. Mặt khác, đẩy mạnh tuyên truyền nhằm tạo sự đồng thuận trong dư luận đối với điều hành của Nhà nước và bình ổn thị trường hàng …

Tin mớiadmin04/06/2018
Ông Nguyễn Xuân Dương giữ chức quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi
Ông Nguyễn Xuân Dương giữ chức quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi

Phát biểu tại lễ trao quyết định, thay mặt Ban Can sự Bộ NN-PTNT, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Vũ Văn Tám đề nghị ông Nguyễn Xuân Dương tiếp tục phát huy truyền thống…   Trao quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Xuân Dương, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT) giữ chức quyền Cục trưởng   Ngày 30/5, Bộ NN-PTNT đã trao quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Xuân Dương, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT) giữ chức quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi. Đồng thời, Bộ NN-PTNT cũng trao quyết định nghỉ hưu theo chế độ đối với ông Hoàng Thanh Vân, Cục trưởng Cục Chăn nuôi. Phát biểu tại lễ trao quyết định, thay mặt Ban Can sự Bộ NN-PTNT, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Vũ Văn Tám đề nghị ông Nguyễn Xuân Dương tiếp tục phát huy truyền thống của Cục Chăn nuôi, nỗ lực cao nhất để hoàn tốt các nhiệm vụ do Bộ NN-PTNT giao, đặc biệt là trong bối cảnh ngành chăn nuôi nước ta đang trong quá trình triển khai tái cơ cấu, tồn tại những vấn đề hết sức nóng bỏng trong giai đoạn hội nhập, nhất là khối lượng công việc rất lớn trong thời gian tới như Luật Chăn nuôi sắp trình Quốc hội./. LÊ …

Tin mớiadmin31/05/2018
Tận dụng hiệu quả giá lợn hơi tăng như hiện nay
Tận dụng hiệu quả giá lợn hơi tăng như hiện nay

Giá lợn hơi liên tục tăng mạnh gần đây, đã mang tới niềm vui bất ngờ với người chăn nuôi sau gần 2 năm chờ đợi… Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi khảo sát giá lợn tại Hà Nam Trước việc người dân găm lợn hơi lại để chờ giá lên cao mới bán có nguy cơ tạo giá sốt ảo, chiều 17/5 Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi Nguyễn Xuân Dương đã đi khảo sát thực tế tại một số vùng chăn nuôi lợn trọng điểm tại miền Bắc, trong đó có xã Ngọc Lũ, huyện Bình Lục (Hà Nam), nơi được coi là thủ phủ chăn nuôi lợn các tỉnh ĐBSH. Tuy nhiên, thực tế theo khảo sát thì thấy lượng lợn nái, lợn thịt trong dân hiện không còn nhiều. Theo ông Nguyễn Thế Chinh, BQL Chợ đầu mối gia súc gia cầm Hà Nam, hiện giá lợn hơi siêu nạc đang thu mua tại cửa chuồng ở Hà Nam từ 44.000 – 48.000 đồng/kg, riêng lợn lai có giá thấp hơn 3.000 – 4.000 đồng/kg. Ông Chinh khẳng định không có chuyện người dân găm lợn để chờ giá cao, bởi lợn mua bán qua chợ đầu mối vẫn xung quanh 90 – 110 kg/con với lợn siêu nạc, 70 – 80 kg/con với lợn lai. Mặt khác, hàng lợn to từ 1,3 – 1,5 tạ chỉ có Trung Quốc tiêu thụ, trong nước ít ăn loại này, trong khi cả năm nay gần như không bán được lợn sang Trung Quốc. Theo ông Chinh, nếu như trước đây lợn trang trại, lợn của các DN chiếm tỷ trọng nhỏ, còn lại cơ bản là lợn của người dân thì nay ngược lại, chiếm 70% là lợn của CP, Dabaco, Austfeed…, lợn nhỏ lẻ trong dân chỉ còn 30%, hoặc gần như không còn lợn để bán nên ông khẳng định không có chuyện găm lợn đợi giá cao. Về nỗi lo nông dân sẽ ồ ạt tái đàn khi giá lợn tăng, Chủ tịch UBND xã Ngọc Lũ Trần Đình Thiện chia sẻ, chắc phải rất lâu nữa người chăn nuôi lợn mới hết choáng váng. Tại xã này, cao điểm đạt xấp xỉ 200 nghìn đầu lợn/năm, tạo ra một áp lực vô cùng mệt mỏi do ô nhiễm môi trường. Nhưng cơn khủng hoảng giá lợn kéo dài từ năm 2016 đến nay khiến ngành chăn nuôi lợn của xã gần như sụp đổ. Theo ông Thiện, đàn lợn xã Ngọc Lũ giảm tới 80%, song bà con đa phần chưa có ý định tái đàn bởi vẫn còn hoang mang. Bằng chứng là Quỹ tín dụng nhân dân xã đang dư nợ hơn 70 tỷ không có người vay, phải sang chào mời các xã khác vay vốn. Một doanh nghiệp kinh doanh lợn giống tại Bắc Ninh cảnh báo, hiện tại giá lợn giống bắt đầu tăng cao, song do giá rẻ một thời gian dài nên người chăn nuôi lơ là tiêm vacxin khiến một số nơi đã có dấu hiệu bùng phát dịch bệnh. Vào thăm hộ chăn nuôi của bà Trần Thị Cường, thuộc Đội 1 Tân Tùng, xã Ngọc Lũ khi phần lớn chuồng trại đã được dọn dẹp sạch sẽ. Mặc dù rất tiếc khi giá lợn lên 45.000 đồng/kg, nhưng giờ gia đình bà Cường chỉ còn giữ lại được 4 nái và 100 lợn thịt. Cao điểm, bà nuôi hơn 20 nái và 300 lợn thịt, nhưng sau phải bán dần với mức giá 20.000, 30.000 rồi 37.000 đồng/kg. Bà Cường chia sẻ, gia đình bà còn trụ lại được đến ngày hôm nay là nhờ không vay vốn ngân hàng, không mua chịu đại lý cám nên vẫn còn sức cầm cự, trong khi đa phần những hộ vừa vay ngân hàng, vừa mua nợ cám đã phá sản đi làm công nhân. Theo Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi Nguyễn Xuân Dương, việc lợn hơi ở mức giá xung quanh 45.000 đồng/kg tốt cho cả người chăn nuôi và người tiêu dùng. Tuy nhiên, làm sao để duy trì sự ổn định mới quan trọng. Ông khuyến cáo, bà con lúc này nên tăng cường cho lợn ăn uống đầy đủ nhất để sớm xuất chuồng. Cần tận dụng tối đa lợn sữa sinh ra hiện nay để nuôi lên lợn thương phẩm. Phải đặc biệt lưu ý việc tiêm vacxin, vệ sinh chuồng trại, phòng chống dịch bệnh nhằm thu được thành quả cao nhất. Riêng với việc tái đàn lợn hậu bị, đề nghị bà con hết sức cân nhắc, bởi phải sau 15 tháng nữa một con lợn hậu bị mới cho ra lợn con thương phẩm để bán, lúc đó chưa biết giá lợn hơi sẽ như thế nào. Trước mắt, bà con cũng không nên có ý định găm hàng chờ giá lên cao mới bán, bởi rất có thể vừa tốn chí phí thức ăn mà chưa chắc đã bán được giá tốt như hiện tại”, ông Nguyễn Xuân Dương. NGUYÊN …

Tin mớiadmin21/05/2018
Kon Tum: Khuyến khích DN đầu tư vào ‘tam nông’
Kon Tum: Khuyến khích DN đầu tư vào ‘tam nông’

(Chinhphu.vn) – Để thu hút DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tỉnh Kon Tum triển khai nhiều cơ chế ưu đãi cùng các chính sách khuyến khích để “lôi kéo”, “giữ chân” nhà đầu tư. Một cơ sở nuôi cá tầm tại huyện Kon Plông. Ảnh:VGP/Bạch Dương Hiện, toàn tỉnh có 501 DN đăng ký đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, tập trung ở lĩnh vực có thế mạnh của tỉnh như trồng cây công nghiệp, trồng rừng, phát triển dược liệu  và sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (trồng rau, hoa, quả, chăn nuôi…). Tính đến nay, Kon Tum đã cấp phép đầu tư cho 88 dự án nông nghiệp với tổng vốn đăng ký  hơn 19 tỷ đồng, tập trung chủ yếu tại huyện Kon Plông, Ia H’Drai, Sa Thầy, Tu Mơ Rông, Đăk Tô, Kon Rẫy… Ngoài giá trị kinh tế mang lại cho lao động địa phương, thông qua việc liên kết sản xuất với người dân, các DN đã góp phần tạo thu nhập và chuyển giao công nghệ sản xuất cho người dân, đặc biệt là quy trình sản xuất nông nghiệp sạch, hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn. Chính vì vậy, tỉnh Kon Tum đã nỗ lực tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư bằng cơ chế, chính sách thiết thực. Theo đó, để thu hút DN đầu tư vào “tam nông”, bên cạnh việc áp dụng ở mức cao nhất chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng, tỉnh Kon Tum đã dành ưu tiên trong việc bố trí quỹ đất cho các DN xây dựng khu dân cư tập trung để bố trí nhà ở cho các hộ gia đình, cá nhân có hợp đồng lao động. Các dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (ngoài khu nông nghiệp công nghệ cao tập trung) được tỉnh hỗ trợ kinh phí đầu tư nhà kính, nhà lưới với mức 50.000 đồng/m2, diện tích hỗ trợ tối đa không quá 300 m2/nhà đầu tư. Dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong khu nông nghiệp công nghệ cao được miễn tiền thuê nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới phun, tưới nhỏ giọt trong 3 năm và giảm 50% tiền thuê cho 2 năm tiếp theo… Ngoài ra, nhà đầu tư còn được hưởng các chính sách ưu đãi về đất đai; về thuế; về hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường; hỗ trợ đầu tư cơ sở chăn nuôi gia súc có quy mô nuôi tập trung; được thụ hưởng chính sách tín dụng như chính sách đảm bảo tiền vay, chính sách hỗ trợ lãi suất theo chương trình hỗ trợ các huyện nghèo tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP… Doanh nghiệp đầu tư trong hoa lan ở huyện Kon Plông. Ảnh: VGP/Bạch Dương   Để tiếp tục thu hút, mời gọi các DN, nhà đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Ngọc Tuấn cho biết địa phương còn tập trung cải thiện môi trường đầu tư thông qua việc nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; tập trung đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư; hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các DN, trong đó có việc tập trung quỹ đất sạch để giao cho nhà đầu tư. Bạch …

Tin mớiadmin18/05/2018
Thông báo số 3314/TB-BNN-VP ngày 03 tháng 5 năm 2018 Ý kiến kết luận của Thứ trưởng Vũ Văn Tám tại Hội nhị “quản lý và phát triển nuôi chim yến”

Thông báoadmin04/05/2018
Cần tích nước cho chăn nuôi
Cần tích nước cho chăn nuôi

(Chinhphu.vn) – Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đề nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh trên khẩn trương chỉ đạo, phối hợp với các cơ quan chức năng địa phương chủ động triển khai các giải pháp phòng, chống thiếu nước cho vật nuôi, ổn định phát triển sản xuất chăn nuôi. Theo dự báo của Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Quốc gia, tình trạng thiếu nước, khô hạn có khả năng xảy ra trên diện rộng ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Để chủ động, kịp thời phòng, chống thiếu nước, giảm thiểu thiệt hại cho vật nuôi, các địa phương chỉ đạo các ngành chức năng tập trung nạo vét, khơi thông dòng chảy tại các kênh, mương, khe, suối. Vận động nhân dân chủ động nạo vét và đào ao tích nước cho gia súc; đồng thời thực hiện kế hoạch điều tiết nước thuỷ lợi, nước sông hợp lý cho từng vùng; ưu tiên nước sinh hoạt của người dân và gia súc. Đồng thời, kiểm tra, hướng dẫn cho người chăn nuôi về phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gia súc, gia cầm tiết kiệm nước trong điều kiện khô hạn; chủ động xây dựng kế hoạch dự trữ và chế biến các loại phụ phẩm sau khi thu hoạch (đặc biệt là rơm khô) làm thức ăn cho gia súc, gia cầm trước và sau mùa khô hạn. Cụ thể, những ngày khô hạn, thực hiện chế độ chuyển bữa ăn, thức ăn tinh, thức ăn hỗn hợp thường chuyển sang cho ăn vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Tăng cường khẩu phần ăn xanh như cỏ tươi, củ, quả và các loại vitamin… tăng cường khẩu phần ăn đạm, giảm tinh bột, mỡ, đường trong khẩu phần ăn đối với từng loại gia súc, gia cầm. Đảm bảo thường xuyên có đủ nước cho gia súc, gia cầm uống, không làm ẩm ướt nền chuồng và khống chế lượng nước uống cho đàn gia súc, gia cầm vừa đủ để tránh lãng phí. Lắp các thiết bị van nước tự động để luôn cấp đủ nước sạch cho gia súc, gia cầm uống nếu có điều kiện… Đối với trâu, bò, dê cừu chăn thả, những ngày trời nắng nóng, buổi sáng đi chăn thả sớm và về sớm; buổi chiều chăn thả muộn, về muộn, đặc biệt chú ý chăm sóc gia súc non. Nếu có điều kiện nên di chuyển đàn gia súc đến nơi có nguồn nước bổ sung và thức ăn tại chuồng. Đối với gia cầm, nuôi nhốt với mật độ vừa phải. Nếu nóng quá có thể thả ra vườn, gốc cây quanh chuồng. Đối với đàn gà đẻ nên tránh nuôi quá béo bằng cách giảm bớt hàm lượng năng lượng trong khẩu, cho ăn thêm rau xanh. Đối với lợn, mật độ nuôi vừa phải, cho uống đủ nước và tiết kiệm. Ứng dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn nếu có điều kiện có thể tiết kiệm 80% nước tắm lợn và nước rửa chuồng trại kết hợp với các biện pháp chống nóng. Thu gom định kỳ chất thải rắn từ chăn nuôi để ủ compost sử dụng nuôi giun quế, giun đỏ để có nguồn đạm bổ sung cho vật nuôi và tiết kiệm nước để làm sạch nền chuồng… Đỗ …

Tin mớiadmin03/05/2018
Công văn số 659/CN-TACN ngày 27 tháng 4 năm 2018 về việc kiểm soát vấn đề tăng đàn lợn và chất lượng thức ăn chăn nuôi

Công vănadmin27/04/2018
Công văn số 568/CN-GSL ngày 12 tháng 4 năm 2018 về việc phòng chống thiếu nước cho gia súc và hướng dẫn chăn nuôi tiết kiệm nước

Công vănadmin16/04/2018
Cần kiểm soát chặt việc tăng đàn lợn
Cần kiểm soát chặt việc tăng đàn lợn

(Chinhphu.vn) – Hiện nay nguồn cung thịt lợn vẫn đang vượt so với nhu cầu và giá lợn chỉ thấp xung quanh khoảng 29.000-32.000 đồng/kg. Trong khi đó thị trường nhập khẩu chính là Trung Quốc thì đang tăng mạnh nguồn cung nội địa. Cần kiểm soát tăng đàn lợn để hạn chế tối đa thiệt hại cho người chăn nuôi. Ảnh: VGP/Đỗ Hương Thời điềm này năm trước, nguồn cung lợn dư thừa, kéo giá thịt lợn giảm kỷ lục trên phạm vi toàn quốc, đẩy ngành chăn nuôi vào tình trạng khủng hoảng. Bộ NN&PTNT cũng như các đoàn thể từ Trung ương tới địa phương, các doanh nghiệp (DN) đã đồng loạt tham gia chiến dịch “giải cứu” thịt lợn. Hiện tại, sau một năm giải cứu, dù không còn khủng hoảng, song thoát khỏi khủng hoảng nhưng người chăn nuôi vẫn phải ngậm ngùi bán lợn hơi với giá thấp. Thống kê mới đây của Bộ NN&PTNT cho thấy, trong tháng 3, giá lợn hơi trên địa bàn cả nước có xu hướng giảm. Cụ thể, giá lợn tại miền Bắc giảm khoảng 1.000-3.000 đồng/kg, dao động phổ biến từ 30.000-35.000 đồng/kg, sức mua khá chậm. Tại Sơn La, giá lợn hơi giảm 3.000 đồng/kg xuống còn 33.000 đồng/kg. Tại các tỉnh chăn nuôi nhiều như Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định…, giá lợn hơi cũng giảm 2.000 đồng/kg, dao động quanh mức 32.000-33.000 đồng/kg. Ở tỉnh miền Trung như Khánh Hoà, giá giảm 2.000 đồng/kg xuống còn 31.000 đồng/kg. Riêng tại miền Nam, giá lợn hơi toàn khu vực được thu mua trong khoảng 27.000-32.000 đồng/kg. Nhìn nhận về kết quả sau một năm “giải cứu” lợn, ông Nguyễn Xuân Dương, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), cho biết: Thịt lợn được tiến hành “giải cứu” với nhiều biện pháp, trong đó chủ yếu là nhằm kiểm soát việc tăng đàn, tìm đầu ra cho thịt lợn. Kết quả, đến nay đàn lợn nái đã giảm 500 nghìn con, tương đương giảm khoảng 20% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, việc giảm đàn lợn nái phải có thời gian mới ảnh hưởng đến lợn thịt. “Lợn thịt chưa giảm ngay nên cung của mặt hàng này vẫn tương đối lớn so với nhu cầu thị trường. Đáng chú ý, ngoài tỷ lệ lợn sữa xuất được đi các nước thì thịt lợn là mặt hàng tiêu thụ chủ yếu ở thị trường trong nước, xuất khẩu lợn thịt không đáng kể. Giá thịt lợn tháng Tết tăng lên 35.000-36.000 đồng/kg ở miền Bắc, miền Nam tăng lên 32.000-34.000 đồng/kg thì nay lại giảm xuống còn khoảng 31.000-32.000/kg ở miền Bắc và 29.000-30.000 đồng/kg ở miền Nam. Có thể vài tháng nữa, nguồn cung giảm đi, giá thịt lợn sẽ khởi sắc trở lại. Tuy nhiên, không thể kỳ vọng giá lợn tăng cao lên 35.000-36.000 đồng/kg”, ông Dương nói. Liên hệ với nước lân cận như Trung Quốc, Thái Lan, ông Dương thông tin thêm: Hiện nay, thị trường Trung Quốc giá lợn cũng chỉ ở mức 39.000-40.000 đồng/kg, trong khi trước đó giá ở mức 55.000-56.000 đồng/kg. Ở Thái Lan, giá lợn cũng chỉ nhích hơn so với Việt Nam một chút, đang ở mức 32.000-33.000 đồng/kg. Tình hình giá lợn như trên là vấn đề phải cảnh báo để các địa phương cần phải kiểm soát chặt việc tăng đàn. Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) thì đàn lợn của Trung Quốc sẽ tăng hơn 27 triệu con trong năm 2018. Một trong những động lực thúc đẩy Trung Quốc có thể tăng đàn trong năm 2018 là giá lợn hơi đang ở mức cao. Cũng theo dự báo của USDA, sản lượng thịt lợn đã tăng mạnh ngay từ đầu năm 2018, vì lợn đến lứa xuất chuồng. Đây là một tín hiệu không hề tốt đối với các nước vốn là nguồn cung thịt lợn cho Trung Quốc. USDA dự đoán, nhập khẩu thịt heo của Trung Quốc giảm 27% xuống còn 1,6 triệu tấn, so với mức nhập khẩu cao kỷ lục (2,18 triệu tấn) được ghi nhận vào năm 2016. Đỗ …

Tin mớiadmin10/04/2018
Mô hình nuôi vịt trời ở xứ Quảng, lãi vài trăm triệu đồng/năm

Bằng tâm huyết và áp dụng đúng kỹ thuật, đến nay, số lượng đàn vịt trời của ông đã tăng lên đến gần 7.000 con gồm vịt trời giống, vịt đẻ và vịt bán thương phẩm. Với 600 con vịt trời giống ban đầu, sau gần 2 năm với kinh nghiệm của mình, ông Nguyễn Hòa (64 tuổi, tổ 1, khối phố An Hà Đông, phường An Phú, TP Tam Kỳ, Quảng Nam) đã nhanh chóng phát triển lên đến gần 7.000 con vịt giống, vịt đẻ và thương phẩm, mang lại thu nhập vài trăm triệu đồng mỗi năm. Mô hình nuôi vịt trời của ông Hòa được triển khai từ tháng 9/2016 thuộc dự án chuyển giao kỹ thuật nuôi vịt trời từ Trung tâm Kỹ thuật nông nghiệp TP Tam Kỳ. Theo đó, dự án đầu tư cho hộ nhận nuôi 600 con vịt giống cùng với kỹ thuật chăm sóc, tạo điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập. Vốn là người có kinh nghiệm nuôi vịt đẻ lâu năm, ông Hòa đã mạnh dạn tiếp nhận mô hình về thực hiện. Sau 4 tháng chăm sóc, đàn vịt của ông đã bắt đầu đẻ trứng. Nhằm tăng số lượng đàn, ông Hòa giữ lại tất cả số trứng có được cho ấp nở và tiếp tục chăm sóc. Cứ như thế, số lượng vịt trong trang trại nhà ông càng ngày càng tăng nhanh. Tiếp tục đầu tư, ông Hòa bỏ tiền ra mua thêm máy băm thức ăn để giảm chi phí công lao động đồng thời đặt hàng từ Hà Nội một máy ấp trứng với công suất 2.000 quả/lần. Bằng tâm huyết và áp dụng đúng kỹ thuật, đến nay, số lượng đàn vịt trời của ông đã tăng lên đến gần 7.000 con gồm vịt trời giống, vịt đẻ và vịt bán thương phẩm. “Để có thể phát triển nhanh số lượng đàn thì ban đầu quan trọng nhất là khâu ấp trứng sao cho đạt tỷ lệ cao. Mỗi lần cho trứng vào máy ấp, tôi thường xuyên kiểm tra, theo dõi điều kiện nhiệt độ bên trong và ngoài môi trường. Trứng để vào máy đều được đánh dấu ngày tháng để sau 12 ngày đưa vào bóng đèn kiểm tra xem có đạt không. Nếu không đạt thì loại bỏ ngay. Từ ngày thứ 13 thì trứng đều phải được tưới bằng hệ thống phun sương, mỗi ngày 2 lần. Với cách làm này, tỷ lệ ấp nở đạt rất cao, đến 90%”, ông Hòa cho biết. Cũng theo ông Hòa thì từ lúc vịt nở đế khi xuất chuồng bán thương phẩm mất gần 3 tháng. Lúc này, vịt đạt trọng lượng trưng bình từ 1,6 – 1,7kg với giá bán mỗi con khoảng 160.000 đồng. Với số lượng vịt hiện có trong trại hiện nay, mỗi năm ông Hòa đưa ra thị trường hàng ngàn con vịt giống và vịt thương phẩm. Bên cạnh đó ông còn bán thêm trứng vịt thương phẩm với giá 4.000đ/quả, mang lại cho gia đình thu nhập gần 300 triệu đ/năm. “Khác với vịt nhà, vịt trời có thịt thơm ngon, ít mỡ nên rất được giá, thị trường cũng ưa chuộng nên đến nay tôi không hề lo về đầu ra. Vịt trời có sức đề kháng cao, dễ chăm sóc, ít bệnh hơn vịt nhà, tỷ lệ rủi ro thấp. Không chỉ vậy, từ lúc nhỏ tới khi xuất bán thì vịt trời chỉ cần tiêm 2 liều vacxin là đủ chứ không phải tiêm 4 lần như vịt nhà, do đó chi phí đầu tư nuôi cũng không đáng kể. Thấy hiệu quả kinh tế từ mô hình này nên tôi đang có ý định đào thêm ao nuôi để phát triển lên nữa”, ông Hòa tâm sự. Ông Trần Anh Quân, PGĐ Trung tâm Kỹ thuật nông nghiệp TP Tam Kỳ cho rằng, mô hình nuôi vịt trời của ông Hòa là một trong những mô hình chăn nuôi phát triển nhanh và hiệu quả tại địa phương. “Mặc dù vậy đầu ra của vịt trời thương phẩm chưa cố định, đa số người nuôi tự liên hệ nên chúng tôi cũng khuyến khích ông Hòa nếu tìm được thị trường tiêu thụ thì tiếp tục phát triển. Về lâu về dài, khi đã có đầu ra thực sự ổn định thì sẽ nhân rộng mô hình này ra các hộ dân khác”, ông Quân …

Tin mớiadmin05/04/2018
'Lão nông nghiệp dư' lập trang trại tổng hợp thu vài tỷ đồng/năm
‘Lão nông nghiệp dư’ lập trang trại tổng hợp thu vài tỷ đồng/năm

Là bộ đội phục viên trở về, ông Quân đã chọn mảnh đất Cam Ranh (Khánh Hòa) làm nơi lập nghiệp. Từ 2 bàn tay trắng, sau nhiều năm miệt mài với ý chí làm giàu, ông đã được đền đáp với những thành quả như ý. Phải hẹn trước, chúng tôi mới có thể gặp được ông Nguyễn Hồng Quân (60 tuổi, ngụ phường Cam Lộc, TP Cam Ranh). Tiếp chuyện chúng tôi, ông Quân chia sẻ, vốn quê gốc ở miền biển Quỳnh Lưu (Nghệ An), sau khi xuất ngũ năm 1985, ông đã chọn nơi đây để khởi nghiệp. Ông mạnh dạn vay vốn xây dựng trại tôm giống. Dù tiềm lực kinh tế không đủ mạnh nhưng khi đầu tư xong tôi liền thuê kỹ sư thủy sản về hướng dẫn kỹ thuật SX và bản thân cũng học hỏi thêm. “Từ lợi nhuận thu được ở vụ tôm đầu tiên, tôi bắt đầu mở rộng trại nuôi, mày mò học hỏi thêm kỹ thuật để chủ động hơn trong SX. Cứ như thế, liên tiếp những vụ sau đó, tôi đều trúng đậm”, ông Quân tâm sự. Đến năm 2000 thương hiệu tôm giống của ông Quân càng ngày càng được nhiều người biết đến. Thị trường tiêu thụ tôm giống của ông không chỉ gói gọn ở phía Bắc mà dần dần mở rộng đến các tỉnh miền Trung và miền Nam. Cũng từ năm này, ông Quân quyết định bỏ vốn đầu tư một trại SX tôm quy mô hơn với cơ sở vật chất khang trang, máy móc kỹ thuật hiện đại. “Lúc đó tôi đầu tư hết gần 300 triệu để mở rộng trại SX lên diện tích 1.000m2. Đây quả là một số tiền lớn vào những năm 2000. Tuy nhiên khi đã có được tiềm lực về vốn trong tay thì phải đầu tư thật bài bản, theo hướng lâu dài. Ngoài ra, tôi còn mua thêm 2ha diện tích ao đìa để nuôi tôm giống thương phẩm, giúp tăng thêm nguồn thu nhập cho gia đình”, ông Quân kể. Hiện trại tôm giống và đìa nuôi tôm thương phẩm của ông Quân xuất ra thị trường khoảng 40 triệu con tôm giống và trên dưới 24 tấn tôm thương phẩm, thu lợi nhuận gần 3 tỷ đồng. Ngoài ra, chúng tôi còn được biết, từ những thành công đạt được, ông Quân đã mang những kỹ thuật SX tôm giống ra thị trường phía Bắc và đầu tiên là ở miền biển Quỳnh Lưu. “Có thể nói tôi là người tiên phong trong việc phát triển SX giống tôm ở phía Bắc và đã thành công. Thấy hiệu quả từ cơ sở của tôi nên sau đó nhiều công ty khác ở miền Bắc cũng bắt đầu bước vào SX kinh doanh lĩnh vực này”, ông Quân tâm sự. Dù tuổi đã cao nhưng ông Quân vẫn chưa muốn nghỉ ngơi. Ông bảo, mình còn sức thì cứ làm. Đến lúc nào không còn làm được nữa thì thôi chứ còn làm được mà ở nhà ngồi không cũng buồn. Vì lẽ đó mà vào năm 2012, ông Quân tiếp tục đầu tư 1,2ha diện tích đất rẫy để phát triển thêm mô hình trồng trọt kết hợp chăn nuôi. Từ diện tích đất này, ông Quân lại một mình lặn lội vào miền Nam tìm mua các loại cây trồng phù hợ với thổ nhưỡng của địa phương về canh tác. Hiện trang trại của ông đã có khoảng 400 gốc dừa Xiêm, hơn 300 gốc mít và rất nhiều loại cây ăn quả khác như bưởi, ổi… Ông Quân vui mừng cho biết, trong vụ mít đầu tiên, gia đình ông đã thu hoạch được khoảng 100 quả, bình quân mỗi quả đạt trọng lượng từ 5 – 10kg, giá bán dao động từ 10.000 – 15.000 đồng/kg. Vườn dừa Xiêm cũng đang phát triển rất tốt, chỉ một thời gian ngắn nữa, với số lượng dừa này sẽ mang lại cho ông thu nhập vài trăm triệu đồng mỗi năm. “Trang trại của tôi cũng được đầu tư rất bài bản với hệ thống tường rào vây quanh toàn bộ diện tích và 5 giếng nước. Bỏ ra chi phí lớn để xây dựng và thu nhập chưa được nhiều nhưng tôi xác định hiệu quả của trang trại là ở tương lai. Chắc chắn rằng, với công sức, tiền bạc mình đã bỏ vào thì sẽ mang lại thành công như mong đợi. Có thể xem đây giống như của để dành lúc về già”, ông Quân bộc bạch. Ngoài vườn cây ăn quả, ông Quân còn dành riêng một khu vực để thả nuôi heo rừng lai. Đến nay, đàn heo lai của ông đã có khoảng gần 100 con lớn nhỏ và đang phát triển rất tốt. Trong đàn có khoảng 20 con heo mẹ sinh sản mỗi năm 2 – 3 lứa, mỗi lứa từ 5 – 10 con. Khi heo đạt trọng lượng khoảng 10kg thì xuất bán với giá từ 100.000 – 120.000/kg, trung bình mỗi năm đem lại cho ông thêm nguồn lãi vài chục triệu đồng. “Heo rừng lai có giá ổn định, nguồn thức ăn dễ kiếm và vấn đề đầu ra cũng không phải lo nhiều nên tôi mới chọn con vật này để nuôi. Ngoài bán thịt thương phẩm thì cũng có rất nhiều người hỏi mua giống nữa. Tuy vậy tôi vẫn chưa muốn bán giống để tiếp tục tăng đàn lên. Khi đã có một đàn heo vài trăm con thì mỗi năm sẽ giúp tôi có được một khoản lãi không ít”, ông Quân kỳ vọng. LÊ …

Tin mớiadmin30/03/2018
Bỉ tuyên bố sẽ điều tra bê vụ bối thực phẩm thịt đông lạnh
Bỉ tuyên bố sẽ điều tra bê vụ bối thực phẩm thịt đông lạnh

Ngày 19/3, giới chức Bỉ cho biết sẽ điều tra vụ gian lận liên quan tới việc dán nhãn các sản phẩm từ thịt của một cơ sở sản xuất phía Nam nước này. Đây được đánh giá là vụ bê bối thực phẩm lớn khi một số quốc gia và vùng lãnh thổ đã nhập những sản phẩm này. Cơ quan An ninh lương thực của Bỉ Afsca cho biết Côte d’Ivoire, Hong Kong (Trung Quốc) và Kosovo đã nhập các sản phẩm từ thịt do Công ty thực phẩm Veviba phân phối cho đến cuối năm 2016, trong đó có cả các sản phẩm bị thay đổi ngày làm đông ướp lạnh. Các quốc gia và vùng lãnh thổ bị ảnh hưởng trên đã được thông báo về vấn đề này. [Nhiều nước ở Nam châu Phi thu hồi thịt nhiễm khuẩn Listeria] Trong khi đó, Bộ trưởng Nông nghiệp Bỉ Denis Ducarme cáo buộc Công ty thực phẩm Viveba đã sử dụng “thủ đoạn mafia” khi phân phối các sản phẩm từ thịt. Vụ việc trên đã gây ra một vụ bê bối ở Bỉ trong bối cảnh ngành thực phẩm châu Âu liên tục gặp rắc rối trong thời gian gần đây. Năm ngoái, vụ bê bối “trứng bẩn” liên quan tới chất Fipronil vốn được sử dụng phổ biến trong các sản phẩm thú y để diệt bọ chét, rận, bọ chó nhưng bị EU cấm sử dụng cho các loại động vật chăn nuôi lấy thịt, như gà đã lan rộng tới khoảng 45 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 26 quốc gia là thành viên của liên minh châu Âu (EU). Hàng triệu quả trứng và các sản phẩm làm từ trứng đã đồng loạt bị rút khỏi kệ hàng tại các siêu thị châu Âu, hàng trăm trang trại gia cầm đã bị đóng …

Tin mớiadmin23/03/2018
Ngành chăn nuôi: Đang giảm dần các hộ nhỏ lẻ
Ngành chăn nuôi: Đang giảm dần các hộ nhỏ lẻ

(Chinhphu.vn) – Sau đợt biến động về giá cả trong ngành chăn nuôi vào cuối năm 2017, hiện nay việc tái đàn đang được các trang trại tiến hành khẩn trương để phục vụ mùa lễ hội. Trang trại lợn giống của tập đoàn CP – Ảnh: VGP/Đỗ Hương Trao đổi với Báo điện tử Chính phủ, ông Hoàng Thanh Vân, Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT) cho biết hiện nay cơ bản số lượng gia súc, gia cầm biến động ko lớn so với cuối 2017. Cuối 2017, đàn lợn có 27,4 triệu con, sau Tết giảm khoảng 5-6 triệu con. Hiện, các trang trại đang vào đàn nhanh, tái đàn tốt. Giá lợn giống tốt 700.000-750.000, hầu hết tăng ở các khu vực. Hiện nay, nhu cầu lợn giống tăng cao để tái đàn. Quý I, ổn định khoảng 27 triệu con, tại một số địa phương, có một số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ ngừng hoạt động. chỉ giảm số hộ nhỏ nên ko ảnh hưởng đến tổng đàn, chỉ giảm hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, còn các trang trại vẫn phát triển. Còn về gia cầm, trước và sau Tết giá ổn định, ở mức có lợi cho người sản xuất, giá gà ta khoảng 140.000-145.000, trong tết vào khoảng 110.000-125.000, gà lông màu 70.000-80.000. “Nói chung, sản lượng và số lượng gia cầm vẫn ổn định, đến nay đàn gia cầm cũng chỉ biến động quanh khoảng 300 triệu con. Hiện các trang trại đang tái đàn nhanh phục vụ mùa lễ hội”, ông Vân thông tin. Thông tin từ Cục Chăn nuôi cũng cho biết hiện nay, đàn bò sữa khá ổn định, các doanh nghiệp lớn nâng cao số lượng đầu con, phấn đấu đạt 300.000 con trong năm nay. Đàn bò thịt tăng nhẹ lên khoảng 5,4 triệu con. Hiện một số đơn vị đang cho sinh sản và nhập khẩu thêm. Đặc biệt, bò sống nhập từ Australia tăng mạnh, khoảng 30%. Đặc biệt, theo nhìn nhận của lãnh đạo Cục Chăn nuôi, hiện nay đang có sự chuyển biến trong tái cơ cấu sản phẩm. “Trước hết là ngành hàng thịt lợn có nhiều doanh nghiệp lớn như Massan, Dabaco, CP… đang thúc đẩy xuất khẩu thịt lợn. Các doanh nghiệp này đang tái cơ cấu theo chuỗi, xây dựng vùng an toàn dịch, gắn với hệ thống giết mổ hiện đại phục vụ trong nước và xuất khẩu. Hầu hết các doanh nghiệp lớn đều tập trung giảm giá thành sản phẩm, việc này mọi năm chúng tôi kêu gọi nhiều, nhưng có doanh nghiệp làm có doanh nghiệp không, nhưng năm nay các doanh nghiệp đều làm hết”, ông Vân chia sẻ. Trong năm 2018, Cục Chăn nuôi tiếp tục xác định các vùng chăn nuôi có lợi thế, biến lợi thế thành thời cơ. Cục trưởng Hoàng Thanh Vân cho biết: “Cụ thể như các tỉnh miền núi phía bắc sẽ định hướng sản xuất các loại đại gia súc gắn với trồng cây thức ăn xanh, dươc liệu. Miền trung hiện đang khó khăn nguồn nước nhưng có thể nuôi một số loại như cừu lai, dê… Nam Trung Bộ có thể phát triển nuôi đà điểu. Còn ở miền Nam, ven biển từ Cà Mau – Kiên Giang đã nuôi thành công vịt biển, tới đây sẽ phát triển mạnh hơn, ĐBSCL tập trung chăn nuôi lợn, gia cầm… từ những định hướng đó sẽ hình thành các vùng sản xuất chăn nuôi lớn”. Đỗ …

Tin mớiadmin21/03/2018
Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền ngành chăn nuôi
Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền ngành chăn nuôi

Sáng nay (9/3) tại Cục Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT), Báo Nông nghiệp Việt Nam (NNVN) và Cục Chăn nuôi đã tổ chức lễ ký kết hợp tác chương trình tuyên truyền ngành chăn nuôi năm 2018. Lãnh đạo hai đơn vị tại lễ ký Ông Hoàng Thanh Vân, Cục trưởng Cục Chăn nuôi đánh giá: Năm 2017, trong bối cảnh ngành chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đợt giá lợn xuống thấp, báo chí nói chung, đặc biệt là Báo NNVN đã luôn gắn bó, đồng hành với ngành chăn nuôi trong việc phản ánh, thông tin tình hình thị trường, qua đó đã tạo được sự cộng hưởng mạnh mẽ của xã hội cũng như giúp các cơ quan quản lí về ngành chăn nuôi tìm ra được các giải pháp tháo gỡ. Bên cạnh đó, Báo NNVN cũng đã rất tích cực bám sát, kịp thời phản ánh về diễn biến thị trường, giới thiệu những mô hình, cách làm hay và hiệu quả của ngành chăn nuôi trên cả nước… Sự đóng góp của báo chí nói chung, nhất là Báo NNVN đã góp phần không nhỏ giúp ngành chăn nuôi năm 2017 vẫn giữ được sự tăng trưởng khá ở mức 3,05% về giá trị và 2,93% về GDP. Năm 2018, ông Vân cho biết ngành chăn nuôi đã và đang có những dấu hiệu phục hồi tích cực. Hiện tại, Bộ NN-PTNT cũng đang quyết liệt triển khai các giải pháp cụ thể nhằm phấn đấu đưa thịt lợn tiến tới XK. Cùng với đó, nhiều sản phẩm chăn nuôi như trứng, sữa, thịt lợn sữa, thịt gà XK cũng đang có những sự tăng trưởng tốt. Về công tác quản lí, Cục Chăn nuôi đang đẩy mạnh việc thực hiện thí điểm quản lí, truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi tới tận gốc bằng công nghệ điện toán đám mây, tiến tới nhân rộng ra toàn quốc, đi đôi với hỗ trợ các địa phương xây dựng các vùng SX, tháo gỡ khó khăn và hạ giá thành cho sản phẩm chăn nuôi để tăng sức cạnh tranh. “Hiện tại, đã có những mô hình chăn nuôi lợn giá thành chỉ 26 nghìn đồng/kg, ngang ngửa với Mỹ và thấp hơn cả Thái Lan…” ông Vân cho biết. Tiếp nối năm 2017, năm 2018, Cục Chăn nuôi mong muốn Báo NNVN sẽ tiếp tục đồng hành, phối hợp chặt chẽ và hiệu quả hơn nữa cùng Cục Chăn nuôi nói riêng, ngành chăn nuôi Việt Nam nói chung nhằm góp phần ổn định SX, tiến tới bước phát triển mới cho ngành. Ông Hoàng Thanh Vân (phải) cùng Tổng biên tập Nguyễn Mạnh Thường ký kết hợp tác năm 2018 Tại lễ ký kết, ông Nguyễn Mạnh Thường, Tổng biên tập Báo NNVN đã đánh giá cao những nỗ lực vượt qua khó khăn thách thức của ngành chăn nuôi trong năm 2017, đồng thời cam kết sẽ tiếp tục phối hợp với Cục Chăn nuôi cũng như ngành chăn nuôi cả nước, đồng thời ưu tiên và tạo điều kiện tốt nhất về thông tin của ngành trên Báo NNVN. LÊ …

Tin mớiadmin14/03/2018
ASEAN là thị trường xuất khẩu nông sản lớn của Hàn Quốc
ASEAN là thị trường xuất khẩu nông sản lớn của Hàn Quốc

Báo cáo ngày 7/3 của Viện Kinh tế Nông thôn Hàn Quốc cho hay Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm thịt và nông sản lớn thứ hai của Hàn Quốc trong năm 2017, trong bối cảnh quan hệ thương mại giữa Hàn Quốc và Trung Quốc bị tác động tiêu cực bởi căng thẳng ngoại giao. Theo Viện Kinh tế Nông thôn Hàn Quốc, tổng giá trị xuất khẩu các nông sản và sản phẩm của ngành chăn nuôi Hàn Quốc sang 10 nước thành viên ASEAN trong năm 2017 đạt 1,22 tỷ USD, tăng 9,9% so với năm 2016. Trong đó dâu tây, lúa mỳ, nho, sâm tươi và thịt gà là các mặt hàng xuất khẩu chính. [Nông sản Việt xuất sang Hàn Quốc tăng mạnh từ khi FTA có hiệu lực] Đây là lần đầu tiên ASEAN vượt qua Trung Quốc về giá trị nhập khẩu các sản phẩm kể trên từ Hàn Quốc, do căng thẳng ngoại giao giữa Seoul và Bắc Kinh liên quan tới việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) của Mỹ tại Hàn Quốc. Hiện Nhật Bản hiện vẫn là thị trường tiêu thụ các sản phẩm thịt và nông sản xuất khẩu nhiều nhất của xứ sở Kim chi, với kim ngạch lên tới 1,36 tỷ USD trong năm ngoái. Trong lúc Trung Quốc xếp vị trí thứ ba, với tổng kim ngạch là 1,1 tỷ USD. Viện Kinh tế Nông thôn Hàn Quốc cho biết tổng kim ngạch xuất khẩu và các mặt hàng nông sản khác của Hàn Quốc trong năm 2017 tăng 7,1% so với năm …

Tin mớiadmin09/03/2018
Bộ NN&PTNT tập trung triển khai Nghị quyết 01 của Chính phủ
Bộ NN&PTNT tập trung triển khai Nghị quyết 01 của Chính phủ

(Chinhphu.vn) – Bộ NN&PTNT phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tối thiểu 3,0%. Tỉ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới 37% và 52 huyện đạt tiêu chí nông thôn mới. Tỉ lệ che phủ rừng đạt 41,6%. Đây là những mục tiêu quan trọng được Ban cán sự Đảng Bộ NN&PTNT đưa ra trong Nghị quyết số 431-NQ-BCSĐ, triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2018 của Chính phủ. Bộ NN&PTNT phấn đấu tăng trưởng tối thiểu 3,0% trong năm 2018 – Ảnh: Minh họa Theo đó, các tổ chức cơ sở đảng, các đơn vị thuộc Bộ, các Sở NN&PTNT cần tập trung quán triệt đầy đủ, nghiên cứu sâu sắc nội dung Nghị quyết số 01/NQ-CP đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động trong Bộ, ngành, tạo sự đồng thuận và quyết tâm cao trong triển khai, thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Trong năm 2018, Bộ NN&PTNT phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tối thiểu 3,0%, trong đó lĩnh vực trồng trọt đạt tối thiểu 2,2%, chăn nuôi 3%, thủy sản 5,5%, lâm nghiệp 6%. Kim ngạch xuất khẩu khoảng 40 tỷ USD, trong đó các sản phẩm trồng trọt trên 21 tỷ USD, thủy sản khoảng 9 tỷ USD, lâm nghiệp trên 8,5 tỷ USD, các mặt hàng khác 1,5 tỷ USD. Tỉ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới 37% và 52 huyện đạt tiêu chí nông thôn mới. Tỉ lệ che phủ rừng đạt 41,6%. Đây là những chỉ tiêu quan trọng được Ban cán sự Đảng Bộ NN& PTNT nêu ra tại Nghị quyết số 431-NQ-BCSĐ ngày 8/1/2018 triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2018 của Chính phủ. Để đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ trong năm 2018, Nghị quyết nêu ra nhiều nhóm giải pháp, trong đó có các giải pháp chủ yếu như: Tiếp tục hoàn thiện thể chế để phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp. Tập trung xây dựng, trình Chính phủ cho ý kiến và trình Quốc hội khóa 14 xem xét thông qua Luật Trồng trọt, Luật Chăn nuôi; sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Phòng, chống thiên tai. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, nhất là Luật Thủy lợi, Luật Lâm nghiệp, Luật Thủy sản (sửa đổi) và các luật, pháp lệnh, nghị quyết có liên quan. Hoàn thành tốt các văn bản quy phạm pháp luật được giao. Hoàn thiện, đổi mới hoạt động, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hệ thống tổ chức quản lý ngành từ trung ương đến địa phương theo Nghị định 15/2017/NĐ-CP ngày 17/02/2017 của Chính phủ và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết (năm 2018 phấn đấu giảm 2,5% biên chế công chức, viên chức so với năm 2017). Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 và Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ giai đoạn 2016 – 2020. Nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính; tiếp tục rà soát, bãi bỏ, cắt giảm 50% thủ tục hành chính và các điều kiện kinh doanh cụ thể, tạo môi trường thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Tạo sự chuyển biến căn bản về xây dựng Chính phủ điện tử theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ, trọng tâm là tổ chức cung cấp dịch vụ công trực tuyến, hải quan một cửa liên thông; tận dụng cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trong sản xuất kinh doanh, quản lý nhà nước. Tập trung thúc đẩy thực hiện cơ cấu lại ngành gắn với xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 16/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 tại các Quyết định: số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016, số 1760/QĐ-TTg ngày 10/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp tục thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, phát triển kinh tế hợp tác để thu hút đầu tư xã hội vào nông nghiệp, nông thôn; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ. Tiếp tục tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, hoàn thành sắp xếp, đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ. Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án phát triển 15.000 hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp hoạt động hiệu quả giai đoạn 2017-2020… Tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách, giải pháp khuyến khích phát triển kinh tế trang trại. Thực hiện nhiệm vụ, giải pháp đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn đồng bộ, hiện đại. Huy động các nguồn lực để phát triển hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, tăng cường năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, hợp tác sử dụng có hiệu quả, bền vững nguồn nước xuyên quốc gia; bảo vệ môi trường sinh thái. Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp và vệ sinh an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm nghiệm, thanh tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản phẩm nông lâm thủy sản; thực hiện kiểm tra tận gốc hàng nông lâm thủy sản nhập khẩu tạo thuận lợi cho việc thông quan tại cửa khẩu và giảm tỷ lệ các lô hàng nhập khẩu phải kiểm tra trong giai đoạn thông quan. Đỗ …

Tin mớiadmin22/01/2018
Quyết định số 48/2017/UBND ngày 13 tháng 11 năm 2017 phê duyệt Quy hoạch chăn nuôi, cơ sở giết mổ, gia súc, gia cầm tập trung trên địa bàn tỉnh Bình Phước giai đoạn 2017-2020 tầm nhìn đến năm 2030

Quy hoạch chi tiếtadmin22/01/2018
Thông tư số 01/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/01/2018 Ban hành Danh mục giống vật nuôi được sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam

Thông tưadmin17/01/2018
Cải thiện môi trường, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp
Cải thiện môi trường, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Công Tuấn, năm nay, Bộ tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh thu hút nhiều hơn nữa doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, nhất là đầu tư sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và hỗ trợ khởi nghiệp. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Công Tuấn. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN) Cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ tiếp tục rà soát, đơn giản hóa 508 thủ tục hành chính, đề xuất bãi bỏ, đơn giản hóa 287 thủ tục (chiếm 56,5%). Cùng với đó, rà soát 345 điều kiện đầu tư kinh doanh, đề xuất bãi bỏ, sửa đổi 118 điều kiện đầu tư kinh doanh (chiếm 34,2%); rà soát, đề xuất cắt giảm 18/40 thủ tục hành chính kiểm tra chuyên ngành; giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính từ 24 giờ theo Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật xuống còn 4 giờ đối với đường bộ, đường hàng không và 10 giờ đối với đường biển. Bộ Nông nghiệp và Phát triển